“Tôi muốn tắt nắng đi ”
Đến câu ” Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân “( trích bài Vội vàng của Xuân Diệu) hoặc đoạn thơ” Xuân đương tới ….(đến câu)” mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm”.
Chào các em học sinh yêu quý! Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau khám phá vẻ đẹp độc đáo của một đoạn thơ đầy cảm xúc, tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu – “ông hoàng thơ tình” của thi ca Việt Nam. Đoạn thơ mà chúng ta sẽ cảm nhận nằm trong bài “Vội vàng”, một tác phẩm đã làm nên tên tuổi của thi sĩ.
Các em hãy cùng lắng nghe và đọc kỹ đoạn thơ sau, và chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào từng lớp nghĩa, từng cung bậc cảm xúc nhé:
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng mà lượng trời cứ chật,
Chẳng cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng đợi chờ chi nữa,
Mà chiêm bao vẫn hé cửa,
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.”
Giờ thì, chúng ta cùng nhau phân tích chi tiết đoạn thơ này theo từng bước một nhé!
I. Mở đầu: Giới thiệu chung về đoạn thơ
Đoạn thơ trên trích từ phần hai của bài “Vội vàng” – một trong những thi phẩm tiêu biểu nhất của Xuân Diệu, thể hiện rõ phong cách và tư tưởng nghệ thuật của nhà thơ Mới. Sau những câu thơ mở đầu bày tỏ khát vọng mãnh liệt muốn chiếm lĩnh và điều khiển thiên nhiên, thời gian, đoạn thơ này tập trung bộc lộ nỗi băn khoăn, lo lắng của thi nhân trước sự chảy trôi nghiệt ngã của thời gian và vẻ đẹp chóng tàn của tuổi xuân. Từ đó, tác giả đưa ra một triết lí sống “vội vàng”, một lời giục giã sống hết mình cho hiện tại.
II. Hướng dẫn cảm nhận đoạn thơ (Phân tích chi tiết)
Bước 1: Đọc và nắm bắt cảm xúc chủ đạo
Khi đọc đoạn thơ, cảm giác đầu tiên mà chúng ta có thể cảm nhận được là một nỗi lo âu, băn khoăn, day dứt nhưng cũng vô cùng mãnh liệt, cháy bỏng. Đó là nỗi lo về sự trôi chảy của thời gian, sự phai tàn của tuổi trẻ và tình yêu, đồng thời là khát vọng sống hết mình, tận hưởng từng khoảnh khắc của cuộc đời.
Lý do áp dụng phương pháp này: Việc nắm bắt cảm xúc chủ đạo ngay từ đầu giúp chúng ta có một cái nhìn tổng thể, định hướng cho quá trình phân tích chi tiết sau này, tránh lạc đề và giúp bài cảm nhận có trọng tâm rõ ràng.
Bước 2: Phân tích sự vận động của thời gian và vẻ đẹp mùa xuân
Đây là bước chúng ta sẽ đi sâu vào những câu thơ đầu tiên, nơi Xuân Diệu thể hiện một cách độc đáo quan niệm về thời gian và mùa xuân.
-
Câu thơ “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.”
Ngay từ những câu thơ đầu, Xuân Diệu đã đưa ra một cái nhìn đầy nghịch lí về thời gian:
– “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua”: Mùa xuân vừa hiện diện đã mang trong mình sự trôi đi, sự mất mát. Sự “đương tới” chưa kịp trọn vẹn đã bị nhấn chìm trong “đương qua”. Điều này thể hiện một cảm nhận thời gian rất mới mẻ, mang tính chủ quan của nhà thơ. Với Xuân Diệu, thời gian không ngừng nghỉ, không chờ đợi ai.
– “Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già”: Vẻ đẹp tươi trẻ của mùa xuân cũng không tránh khỏi quy luật nghiệt ngã của tự nhiên là già đi và phai tàn. Chữ “non” đối lập với “già” nhưng lại nằm trong một mối quan hệ nhân quả không thể tránh khỏi, báo hiệu sự kết thúc.
Lý do áp dụng phương pháp này: Phân tích các cặp từ đối lập và điệp ngữ “nghĩa là” giúp chúng ta nhận diện được lối tư duy logic đặc trưng của Xuân Diệu, thể hiện sự nhạy cảm của ông trước dòng chảy thời gian và vẻ đẹp mong manh.
-
Câu thơ “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”
Đây là câu thơ đỉnh điểm, thể hiện sự đồng nhất hóa đầy đau đớn giữa “xuân” và “tôi”. Đối với Xuân Diệu, mùa xuân không chỉ là một hiện tượng tự nhiên mà còn là hiện thân của tuổi trẻ, tình yêu và sự sống của chính ông. Khi mùa xuân kết thúc, đồng nghĩa với việc “tôi” – cái tôi cá nhân, cái tôi trẻ trung, yêu đời của thi nhân cũng sẽ mất đi. Nỗi sợ hãi cái chết, sự lụi tàn không còn là điều xa xôi mà trở nên rất gần gũi, hiện hữu.
Bước 3: Phân tích tâm trạng “vội vàng” và triết lí sống của thi nhân
Từ nỗi lo âu về thời gian, Xuân Diệu bộc lộ một cách rõ nét tâm trạng “vội vàng” và triết lí sống của mình.
-
“Lòng tôi rộng mà lượng trời cứ chật,
Chẳng cho dài thời trẻ của nhân gian,”
Đây là một sự đối lập gay gắt giữa “lòng tôi rộng” (khát khao sống, tận hưởng vô hạn) và “lượng trời cứ chật” (thời gian sống, đặc biệt là tuổi trẻ thì ngắn ngủi). Sự chật hẹp của thời gian là một nghịch lí lớn đối với một tâm hồn lãng mạn, tràn đầy tình yêu cuộc sống như Xuân Diệu. Nó tạo nên một sự bứt rứt, bức bối trong lòng thi nhân.
-
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;”
Xuân Diệu bác bỏ quan niệm truyền thống về sự tuần hoàn của mùa xuân. Với ông, dù “xuân vẫn tuần hoàn” nhưng “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”. Mỗi con người chỉ có một lần duy nhất được sống, được trải qua tuổi trẻ. Khi “tôi” mất đi, dù “trời đất” vẫn còn, thì mọi vẻ đẹp của cuộc đời cũng trở nên vô nghĩa. Điều này lí giải nỗi bâng khuâng, tiếc nuối không chỉ cho bản thân mà cho cả “đất trời” bởi vì không còn “tôi” để cảm nhận chúng nữa.
-
“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”
Thi nhân đã thấu cảm đến mức nghe được “mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi”, cảm nhận “sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”. Các hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên (gió, lá, chim) được nhân hóa, mang nỗi niềm của con người, của thi sĩ. Cơn gió “hờn vì nỗi phải bay đi”, chim “sợ độ phai tàn sắp sửa” – tất cả đều chung một nỗi lo âu về sự mất mát, chia li và phai tàn. Thiên nhiên cũng như đang đồng điệu với tâm trạng của nhà thơ.
Lý do áp dụng phương pháp này: Việc phân tích cách nhân hóa thiên nhiên giúp làm rõ sự đồng cảm sâu sắc giữa con người và cảnh vật trong thơ Xuân Diệu, cũng như làm nổi bật nỗi lo âu về sự hữu hạn của thời gian.
-
“Chẳng đợi chờ chi nữa,
Mà chiêm bao vẫn hé cửa,
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.”
Đây là những câu thơ khép lại đoạn trích đầy ấn tượng, thể hiện rõ nhất tinh thần “vội vàng” của Xuân Diệu.
– “Chẳng đợi chờ chi nữa”: Một thái độ dứt khoát, chủ động, không muốn lãng phí thêm bất cứ khoảnh khắc nào.
– “Mà chiêm bao vẫn hé cửa”: Ngay cả trong mơ, trong những điều lãng mạn nhất cũng vẫn cần phải “hé cửa” để tận hưởng ngay lập tức, không thể trì hoãn.
– “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.”: Câu thơ kết thúc bằng lời giục giã khẩn thiết, gấp gáp. Các động từ mạnh như “mau đi thôi!” cùng với dấu chấm than thể hiện sự thôi thúc tột độ. “Mùa chưa ngả chiều hôm” là một hình ảnh ẩn dụ cho tuổi trẻ vẫn còn, chưa đến lúc xế chiều, chưa đến lúc tàn phai. Vì thế, cần phải tận hưởng ngay, sống thật mãnh liệt, trọn vẹn từng khoảnh khắc. Đây chính là triết lí “sống vội vàng” độc đáo của Xuân Diệu: sống hết mình, không hoài phí dù chỉ một giây phút của tuổi trẻ và tình yêu.
Bước 4: Đánh giá đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ
Đoạn thơ không chỉ giàu cảm xúc mà còn đặc sắc về mặt nghệ thuật:
- Ngôn ngữ và hình ảnh: Từ ngữ giàu sức gợi cảm, tươi mới, táo bạo, kết hợp với các hình ảnh nhân hóa đầy tính biểu cảm (“gió xinh”, “lá biếc”, “chim rộn ràng”).
- Nhịp điệu: Nhịp thơ nhanh, gấp gáp, dồn dập, đặc biệt ở cuối đoạn, thể hiện đúng tâm trạng bồn chồn, vội vàng của thi nhân.
-
Các biện pháp tu từ:
- Điệp ngữ và cấu trúc lặp: “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua…”, “Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già…”, “Phải chăng hờn…”, “Phải chăng sợ…” tạo nên sự nhấn mạnh, tăng cấp cảm xúc, và tạo nhịp điệu dồn dập.
- Đối lập: “rộng” – “chật”, “non” – “già”, “trời đất còn” – “tôi chẳng còn mãi” làm nổi bật mâu thuẫn giữa khát vọng và thực tại.
- Nhân hóa: “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi”, “sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”, “gió xinh thì thào”, “chim reo thi” mang đến cho cảnh vật sự sống động và nỗi niềm của con người.
- Giọng điệu: Tha thiết, chân thành, trực tiếp bộc lộ cái tôi cá nhân, mang đậm chất trữ tình lãng mạn.
Lý do áp dụng phương pháp này: Phân tích các yếu tố nghệ thuật giúp chúng ta hiểu được cách mà nhà thơ sử dụng ngôn ngữ để truyền tải tư tưởng và cảm xúc, làm cho đoạn thơ trở nên sống động và có sức lay động.
III. Tổng kết: Giá trị của đoạn thơ
Qua đoạn thơ trên, Xuân Diệu đã bộc lộ một cách sâu sắc nỗi ám ảnh về sự trôi chảy của thời gian và vẻ đẹp chóng tàn của tuổi xuân. Từ đó, ông đưa ra một triết lí sống đầy táo bạo và tích cực: phải sống thật “vội vàng”, tận hưởng trọn vẹn từng giây phút của cuộc đời, không để thời gian trôi đi một cách vô nghĩa. Đoạn thơ không chỉ thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Xuân Diệu mà còn gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc, đánh thức mỗi chúng ta hãy biết trân trọng và sống hết mình cho hiện tại, cho những vẻ đẹp quanh ta.
Thầy hy vọng qua bài cảm nhận này, các em đã có thể hiểu rõ hơn về đoạn thơ đặc sắc này và cảm nhận được tài năng, tâm hồn của thi sĩ Xuân Diệu. Hãy luôn nhớ rằng, “Vội vàng” không có nghĩa là sống gấp gáp, cẩu thả, mà là sống một cách ý nghĩa, trọn vẹn nhất trong từng khoảnh khắc hiện tại mà cuộc đời ban tặng!
Mở bài :
– Giới thiệu tác giả Xuân Diệu và tác phẩm ” Vội vàng”
– Giới thiệu 13 câu đầu bài ” Vội vàng” : đoạn thơ thể hiện tình yêu tha thiết cuộc sống nơi trần thế của tác giả.
Thân bài :
– Phân tích làm sáng tỏ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.
+Phân tích bốn câu thơ đầu :
– Kết cấu hoàn toàn khác so với những câu còn lại
– Điệp ngữ “tôi muốn”
– Nắng và gió
+ là những hiện tượng của tự nhiên mà vốn dĩ con người không thể nào kiểm soát
+ “tắt đi”, “buộc lại”: hành động cản lại sự vận hành theo quy luật của vũ trụ, là sự đoạt quyền của tạo hóa
=> ước muốn giữ lại những gì tinh túy, đẹp đẽ nhất của cuộc đời này.
– “Đừng nhạt mất”, “đừng bay đi” : ước muốn lưu giữ cho những vẻ đẹp tinh tuý của cuộc đời không bị tàn phai
+ Phân tích 5 câu tiếp :
– “Của ong bướm này đây tuần tháng mật
………
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”
– Biện pháp nghệ thuật : điệp từ, liệt kê, lặp cấu trúc
– “này đây”: được lặp lại trong năm câu thơ liên tiếp
=> thiên nhiên mùa xuân đang trải dài trong khoảng không gian bao la, rộng lớn của đất trời vũ trụ mà hơn thế nữa nó còn góp phần lột tả cảm giác sung sướng tột độ của thi sĩ khi đối diện với cái đẹp của cuộc đời.
– Ong bướm đang say sưa đắm mình trong tuần tháng mật => một cách nói rất đậm phương Tây
– Sự vật: nơi đồng nội xanh rì, hoa cỏ đang trỗi dậy cuộn trào sức sống, lá non ứ nhựa đang khẽ đung đưa trong làn gió nhẹ nhàng thoáng qua
– Thiên nhiên mà tác giả đề cập đến không chỉ hài hoà về đường nét mà đó còn là sự hài hoà về màu sắc khi có sự góp mặt của ánh sáng
+2 câu tiếp:
– “ngon”: khen, ca ngợi tháng giêng – tháng đầu tiền của mùa xuân
– “cặp môi gần”: giúp liên tưởng mua xuân giống như một người thiếu nữ đẹp, rạo rực, cuốn hút khiến người ta mê say
– ẩn dụ chuyển đổi cảm giác
+2 câu cuối :
– Với tâm trạng thích thú, say mê nhưng cũng đồng thời bắt đầu xuất hiện sự lo lắng về thời gian, về vẻ đẹp của mùa xuân sẽ trôi đi mất.
Kết bài :
– Khái quát lại nội dung tác phẩm
– Phát biểu cảm xúc cá nhân về tình yêu tha thiết cuộc sống nơi trần thế của tác giả.
** Bài viết tham khảo
Xuân Diệu là ông hoàng của tình yêu, dù đó là tình yêu gì đi chăng nữa thì nó vẫn ngọt ngào đầy xúc cảm. Ông còn được đánh giá là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới. Những sáng tác, những bài thơ của ông đem đến cho người đọc một sự yêu đời, niềm vui về cuộc sống và một niềm khao khát cuộc sống đến mãnh liệt cùng với đó là một hồn thơ mới lạ, mang đến cho độc giả cái nhìn mới mẻ. Trong số đó, tiêu biểu có bài thơ Vội vàng là một trong những bài thơ hay thể hiện tư tưởng đáng quý đó của tác giả, và 13 câu đầu đã để lại những ấn tượng khó quên cho người đọc. Những tư tưởng triết lí cũng thế mà được gửi gắm chân thành tự nhiên.
Để mang niềm yêu cuộc sống đến trào dâng, nhà thơ luôn có cảm xúc vội vàng trước cuộc sống ngắn ngủi. Mọi thứ trên đời mang vị ngọt tới nhưng chỉ một lần rồi thôi, ta đâu có đủ thời gian cho những quả ngọt đó được nếm một lần nữa. Không vội vàng, không chạy tới để ôm trọn những gì đang có thì làm sao mà cảm nhận hết vẻ đẹp của đời. Khổ thơ năm chữ duy nhất trong bài thơ khiến giọng điệu gấp gáp giống như một hơi thở hối hả của một con người đang tràn đầy cảm xúc. Đại từ mà tác giả Xuân Diệu đã đặt ở đầu tiên là tôi, chứ không phải “ta” hay chúng ta và cùng với đó là động từ “ muốn”- “ tôi muốn. Nhà thơ đang thể hiện cái tôi công khai, ngang nhiên không lẩn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thách thức, đi ngược lại với thơ ca trung đại, rất ít dám thể hiện cái Tôi của bản thân mình. Đây cũng chinh là một điểm mới của nhà thơ trong nền văn thơ hiện lúc bấy giờ. Qua đó thể hiện khát khao mãnh liệt về cuộc sống
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”
Yêu cuộc sống này cho nên mọi thứ tác giả muốn làm đó có thể là tắt nắng đi, buộc gió lại. Những từ “ tắt” buộc” được sử dụng cho những điều hữu hình cầm nắm được vậy mà tác giả lại dùng cho những sự vật không bao giờ chúng ta có thể làm được. Ta có thể thấy màu vàng của nắng, cảm nhận được hơi ấm từ nó, gió có thể thổi qua, táp vào mặt, mơn man da thịt, có thể thấy gió đung đưa bên những cành liễu.. nhưng chẳng bao giờ cầm được nắng nắm được gió. Một điều tưởng chừng như vô lí đó nhưng lại trở thành khát khao của tác giả. Những thứ đó để làm gì: “ để hương đời đừng nhạt đi, để màu sắc cuộc sống vẫn nguyên vẹn, không úa tàn”Từng chữ một của bốn câu thơ đều nói lên nỗi ham sống đến vô biên, tột cùng đến trở nên cuồng si, tham lam, muốn giữ lại cho mình và cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật cả trong nhịp của câu thơ, thể hiện ở chỗ câu thơ đang năm chữ bỗng chuyển xuống 8 chữ.
Đây là một chuyển đổi rất đẹp của bài thơ, làm trải ra trước mắt ta bức tranh xuân tuyệt diệu. Bốn dòng thơ ấy đầy ắp những tiếng “này đây, vừa trùng điệp vừa biến hoá. Những câu thơ gợi ra một con người đang mê man, đắm đuối, cuống quýt trước mùa xuân đang trải ra cuộc đời. Đó không chỉ là một bức tranh xuân, còn là cách để tác giả nói đến cái mê đắm về một mùa xuân của tuổi trẻ, của tình yêu.
Vì vậy, “ong bướm, yến anh”được nhắc tới đây, bởi nó gợi ra vẻ lả lơi, tình tứ, và “bướm lả ong lơi “gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, của những đôi tình nhân và hơn thế, “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Bên cạnh đó, chữ “của” trở đi trở lại được tác giả sử dụng cùng với “này đây” như một cặp không thể tách rời. Đây là cách Xuân Diệu biểu hiện cảm xúc trước thiên nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật quấn quýt lấy nhau, là của nhau không thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và sức sống tròn trịa có đôi có cặp. Những mỹ từ được sử dụng mang tính gợi hình cao “Hoa nở” trên nền “xanh rì” của đồng nội bao la, “lá” của “cành tơ” đầy sức trẻ và nhựa sống. Mọi thứ đều có cảm giác non tơ, mơn mởn ấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “ tơ phơ phất ” ở sau. Cuộc sống hiện ra trong hình ảnh của một vườn địa đàng, trong xúc cảm của một niềm vui trần thế.
Câu thơ thứ chín xuất hiện bằng ba chữ “và này đây”, như thể một người vẫn còn chưa thoả, chưa muốn dừng lại. Đây không còn là những hình sắc cụ thể như “lá, hoa, ong bướm” mà trừu tượng hơn là ánh sáng, niềm vui, thời gian – những vật thể không hữu hình. Không chỉ sử dụng những hình ảnh mang tính biểu tượng cao, cách mà Xuân Diệu gieo vào lòng người còn là những thứ mà con người cần phải quý trọng. Vẻ đẹp của thiên nhiên chỉ được coi là đẹp khi mang dáng dấp của vẻ đẹp con người. Đó chính là vẻ đẹp của “hàng mi” của một đôi mắt đẹp. Nhưng có lẽ nét độc đáo của 13 câu thơ chính là 2 câu thơ mang tính so sánh cao
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Hình ảnh so sánh thật thú vị và đầy bất ngờ, thời gian đẹp nhất của mùa xuân lại được coi như một cặp môi gần, vừa mang đến sự đam mê, sự lôi cuốn mà còn là sự say đi.
Dưới con mắt của kẻ si tình, mùa xuân hiện ra thật đẹp, thật gợi cảm. Nó còn được tác giả đi liền với từ “ngon” mặc dù không ăn được, không chạm được nhưng lại “ngon”. Mùa xuân như sinh ra cho con người tận hưởng, cho hạnh phúc đến với con người, thời gian trừu tượng mới trở nên gần gũi, do vậy mùa xuân hiện lên trong cảm xúc của một tâm hồn đang thèm khát tận hưởng. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn toàn chiếm hữu.
Hình ảnh so sánh ấy như một người đang đợi chờ, sẵn sàng dâng hiến cho tình yêu. Chính vì thế tác giả mới thốt lên nhưng lại chùng xuống và có vẻ tiếc nuối:
“Tôi sung sướng”.
Nhưng vội vàng một nửa.
Và rồi ở những câu tiếp theo, tác giả nêu ra tại sao lại sung sướng nhưng lại vội vàng:
Xuân đương đến nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.
Cái mới của bài thơ và cả quan niệm của Xuân Diệu trong bài thơ được thấy rõ và phát hiện. Tưởng chừng nó giống như một quy luật bình thường ai cũng biết nhưng đặt trong trường hợp này, nó lại là cả một quá trình chiêm nghiệm và nhận thức. Tác giả đã để hai vế tưởng như trái ngược nhau lại trở thành ngang hàng: “đang tới” đối với “đang qua”, “non” nghịch với “già”. Đây là cách nói đầy ấn tượng tạo nên sự trôi mau gấp rút vô cùng của thời gian. Điều này càng có ý nghĩa với một người mà sự sống đồng nghĩa với tuổi xuân, được thể hiện với đẳng thức thứ ba, vừa có cảm giác sợ hãi, lại tiếc nuối nhưng cũng có cảm giác như hối thúc phải sống sao cho không phí hoài tuổi trẻ, bởi xuân hết thì tôi cũng không còn nữa..
Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Bằng những nét vẽ vô cùng sống động, độc đáo, Xuân Diệu đã tái hiện lại khung cảnh hết sức lãng mạn, một thiên đường dưới mặt đất. Dưới con mắt tinh tế, nhạy cảm của nhà thơ cuộc sống thật tươi đẹp và đáng sống biết bao, nhưng cuộc sống ấy cũng thật ngắn ngủi nên phải sống vội vàng để tận hưởng hết niềm vui và hạnh phúc của cuộc sống. Qua đây tác giả cũng thể hiện và gửi gắm tư tưởng lạc quan yêu đời mà tác giả đã tạo ra cho thế hệ trẻ, cần phải sống, đam mê hết mình để cống hiến cho tuổi trẻ.