Image 1

Đọc văn bản: Ở bầu thì dáng ắt nên tròn. Xấu tốt đều thì rắp khuôn. Lân cận n…

Đọc văn bản:

Ở bầu thì dáng ắt nên tròn.

Xấu tốt đều thì rắp khuôn.

Lân cận nhà giàu no bữa cám(1);

Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn(2).

Chơi cùng bầy dại nên bầy dại;

Kết mấy người khôn học nết khôn.

Ở đấng thấp thì nên đấng thấp.

Đen gần mực đỏ gần son.

Chú thích: (1) và (2): Hai câu này là do câu tục ngữ ở gần nhà giàu đau răng ăn cốm, ở gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn. Chữ đau răng ăn cốm là đúng chữ câu tục ngữ. Nhưng kẻ ở gần nhà giàu mà được ăn cốm nhiều thì cũng lạ. Chúng tôi cho rằng chính là cám nói chệch đi cho hợp với vần trộm ở câu dưới mà thành cốm mà ở gần nhà giàu được no bữa cám thì nghĩa mới thông.

( Bảo kính cảnh giới bài 21-Theo Nguyễn Trãi toàn tập – Đào Duy Anh dịch chú)

Lựa chọn đáp án đúng:

Câu 1. Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào?

A. Tự sự B. Nghị luận C. Thuyết minh D. Biểu cảm

Câu 2. Xác định thể thơ của văn bản trên

A. Thất ngôn xen lục ngôn B. Thất ngôn bát cú

C. Song thất lục bát D. Thất ngôn tứ tuyệt

Câu 3. Bài thơ được viết bằng chữ:

A. Hán B. Nôm C. Quốc ngữ D. Nước ngoài

Câu 4. Trong bài thơ, Nguyễn Trãi lấy ý từ câu tục ngữ nào sau đây.

A. Hay làm thì giàu, hay cầu thì nghèo.

B. Siêng làm thì có, siêng học thì hay.

C. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng D. Tốt danh hơn lành áo.

Câu 5. Em hiểu nhan đề Bảo kính cảnh giới như thế nào?

A. Gương báu răn mình. B. Cần bảo vệ và kính trọng con người

C. Những điều cần cảnh giới ở con ngưởi D. Những điều khuyên răn con người.

Câu 6. Hai cặp câu thực và câu luận cùng sử dụng biện pháp tu từ gì?

A. Nói quá B. Đối xứng

C. Hoán dụ D. Ẩn dụ

Câu 7. Qua bài thơ, tác giả muốn đề cập đến vấn đề gì ?

A. Chơi với những người không tốt, không xấu sẽ không ảnh hưởng gì đến mình. B. Tiếp xúc với người tốt sẽ được cái tốt lan tỏa.

C. Tiếp xúc với người xấu con người sẽ bị cái xấu chi phối. D. Con người cần thích nghi linh hoạt với hoàn cảnh sống, lựa chọn môi trường sống phù hợp.

Trả lời câu hỏi/ thực hiện yêu cầu:

Câu 8. Anh chị hiểu như thế nào về nội dung chính của hai câu thơ sau:

Chơi cùng bầy dại nên bầy dại

Kết mấy người khôn học nết khôn.

Câu 9. Nhận xét về suy nghĩ của tác giả thể hiện trong hai câu thơ cuối.

Câu 10. Thông điệp nào từ đoạn trích có ý nghĩa nhất với anh chị? Vì sao? (Lí giải từ 3 đến 5 câu)

Giúp mik vs ạ mik đang cần gấp ..

Hỏi bởi: tramynguyenthi
2 câu trả lời (Giải pháp)
▲ 4

Chào các em học sinh thân mến! Cô là giáo viên Ngữ Văn lớp 10. Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu và giải đáp các câu hỏi liên quan đến văn bản “Bảo kính cảnh giới” bài 21 của danh nhân Nguyễn Trãi. Đây là một bài thơ rất ý nghĩa, giàu tính triết lý, chắc chắn sẽ mang lại cho các em nhiều bài học bổ ích.

Chúng ta cùng đi vào từng câu hỏi một nhé.

Câu 1. Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào?

Phân tích: Để xác định phương thức biểu đạt chính, chúng ta cần xem xét mục đích chính mà văn bản muốn đạt được. Văn bản này gồm các câu thơ đưa ra những nhận định, lời khuyên về cách sống, về mối quan hệ giữa con người với môi trường và bạn bè (ví dụ: “Ở bầu thì dáng ắt nên tròn”, “Chơi cùng bầy dại nên bầy dại”, “Đen gần mực đỏ gần son”). Mục đích của tác giả là đưa ra những quan điểm, triết lý để khuyên răn, cảnh tỉnh người đọc. Đây chính là đặc trưng của phương thức nghị luận.

Đáp án: B. Nghị luận

Câu 2. Xác định thể thơ của văn bản trên

Phân tích: Để xác định thể thơ, chúng ta cần đếm số câu và số chữ trong mỗi câu:

  • Văn bản có 8 câu thơ.
  • Mỗi câu thơ đều có 7 chữ (ví dụ: “Ở bầu thì dáng ắt nên tròn” có 7 chữ, “Đen gần mực đỏ gần son” có 7 chữ).

Thể thơ có 8 câu và mỗi câu 7 chữ chính là thể thơ thất ngôn bát cú.

Đáp án: B. Thất ngôn bát cú

Câu 3. Bài thơ được viết bằng chữ:

Phân tích: Bài thơ này nằm trong tập “Quốc âm thi tập” (tên khác là “Bảo kính cảnh giới”) của Nguyễn Trãi. Đây là tập thơ Nôm cổ nhất còn lại của Việt Nam, được Nguyễn Trãi sáng tác bằng chữ Nôm (chữ do người Việt sáng tạo dựa trên chữ Hán để ghi lại tiếng Việt). Dù ngày nay chúng ta đọc dưới dạng chữ Quốc ngữ đã được phiên âm, nhưng nguyên bản của tác phẩm là chữ Nôm.

Đáp án: B. Nôm

Câu 4. Trong bài thơ, Nguyễn Trãi lấy ý từ câu tục ngữ nào sau đây.

Phân tích: Chúng ta hãy xem xét câu thơ cuối cùng của bài: “Đen gần mực đỏ gần son”. Câu này gần như là nguyên văn của một vế trong câu tục ngữ quen thuộc của dân gian Việt Nam. Trong các lựa chọn, câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” mang ý nghĩa tương đồng nhất, nói về sự ảnh hưởng của môi trường và những người xung quanh đối với phẩm chất con người. Nguyễn Trãi đã vận dụng và cô đọng ý này vào câu thơ của mình.

Đáp án: C. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

Câu 5. Em hiểu nhan đề Bảo kính cảnh giới như thế nào?

Phân tích: “Bảo kính cảnh giới” là một nhan đề Hán Việt. Để hiểu rõ nghĩa, chúng ta phân tích từng từ:

  • Bảo (寶): quý báu, báu vật.
  • Kính (鏡): gương.
  • Cảnh (警): cảnh tỉnh, răn dạy.
  • Giới (誡): răn giới, điều răn.

Kết hợp lại, “Bảo kính cảnh giới” có nghĩa là “Gương báu để tự răn mình”, tức là những lời răn dạy quý giá để soi chiếu, nhìn nhận và hoàn thiện bản thân.

Đáp án: A. Gương báu răn mình.

Câu 6. Hai cặp câu thực và câu luận cùng sử dụng biện pháp tu từ gì?

Phân tích: Trong thể thơ thất ngôn bát cú, cặp câu 3-4 là câu thực, cặp câu 5-6 là câu luận. Chúng ta hãy xét từng cặp:

  • Cặp câu thực (3-4):
    “Lân cận nhà giàu no bữa cám;
    Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn.”
    → Vế “Lân cận nhà giàu” đối với “Bạn bè kẻ trộm”, vế “no bữa cám” đối với “phải đau đòn”. Có sự cân xứng về ý nghĩa và cấu trúc.
  • Cặp câu luận (5-6):
    “Chơi cùng bầy dại nên bầy dại;
    Kết mấy người khôn học nết khôn.”
    → Vế “Chơi cùng bầy dại” đối với “Kết mấy người khôn”, vế “nên bầy dại” đối với “học nết khôn”. Cũng có sự cân xứng về ý và cấu trúc.

Cả hai cặp câu này đều sử dụng biện pháp đối, tức là đặt các ý, các từ, cụm từ đối xứng nhau về nghĩa và loại từ để tạo sự hài hòa, nhấn mạnh ý. Trong các lựa chọn, “Đối xứng” là từ gần nghĩa và chính xác nhất với phép đối.

Đáp án: B. Đối xứng

Câu 7. Qua bài thơ, tác giả muốn đề cập đến vấn đề gì ?

Phân tích: Toàn bộ bài thơ đều xoay quanh việc khẳng định sự ảnh hưởng của môi trường sống, hoàn cảnh và đặc biệt là những người xung quanh (bạn bè, hàng xóm) đến tính cách, đạo đức và sự phát triển của con người. Từ việc “Ở bầu thì dáng ắt nên tròn” đến “Đen gần mực đỏ gần son”, tác giả đều nhấn mạnh rằng con người sẽ bị định hình bởi những gì xung quanh mình. Từ đó, tác giả ngầm đưa ra lời khuyên rằng con người cần phải có sự chủ động trong việc lựa chọn môi trường, bạn bè để hướng đến những điều tốt đẹp.

Đáp án D bao quát và chính xác nhất cho vấn đề này.

Đáp án: D. Con người cần thích nghi linh hoạt với hoàn cảnh sống, lựa chọn môi trường sống phù hợp.

Câu 8. Anh chị hiểu như thế nào về nội dung chính của hai câu thơ sau: “Chơi cùng bầy dại nên bầy dại / Kết mấy người khôn học nết khôn.”

Trả lời:

Hai câu thơ này của Nguyễn Trãi đã đưa ra một lời răn dạy sâu sắc về tầm quan trọng của việc lựa chọn bạn bè. Vế “Chơi cùng bầy dại nên bầy dại” có nghĩa là nếu chúng ta kết giao với những người có tư duy hạn hẹp, thiếu hiểu biết hoặc có những thói hư tật xấu (“bầy dại”), thì rất dễ bị ảnh hưởng, bị tiêm nhiễm những điều tiêu cực đó và trở nên giống họ. Ngược lại, vế “Kết mấy người khôn học nết khôn” khẳng định rằng nếu chúng ta kết thân với những người tài giỏi, hiểu biết, có đạo đức tốt (“người khôn”), thì chúng ta sẽ học hỏi được nhiều điều hay, lẽ phải, rèn luyện được những phẩm chất tốt đẹp và trở nên khôn ngoan, tiến bộ hơn.

Tóm lại, nội dung chính của hai câu thơ là nhấn mạnh rằng bạn bè có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách và tư duy của mỗi người, đồng thời khuyên nhủ chúng ta cần cẩn trọng và sáng suốt trong việc lựa chọn người để kết giao.

Câu 9. Nhận xét về suy nghĩ của tác giả thể hiện trong hai câu thơ cuối: “Ở đấng thấp thì nên đấng thấp. / Đen gần mực đỏ gần son.”

Trả lời:

Hai câu thơ cuối cùng này tiếp tục khái quát hóa và khẳng định sâu sắc tư tưởng về sự ảnh hưởng của môi trường đối với con người.

  • Câu “Ở đấng thấp thì nên đấng thấp” có thể hiểu là nếu một người sống trong hoàn cảnh thiếu thốn, thấp kém, bị coi thường hoặc ở môi trường không có điều kiện để phát triển, thì họ sẽ dễ dàng chấp nhận vị trí đó, khó lòng vươn lên hay phát triển những phẩm chất cao đẹp. Đây là một sự thật khắc nghiệt nhưng khách quan.
  • Câu “Đen gần mực đỏ gần son” là một câu tục ngữ được tác giả vận dụng, khẳng định một quy luật tự nhiên và xã hội: con người sống gần những yếu tố tiêu cực (“mực”) thì dễ bị “đen” (tiêu cực, xấu xa), còn sống gần những yếu tố tích cực (“son”) thì dễ bị “đỏ” (tích cực, tốt đẹp).

Suy nghĩ của Nguyễn Trãi qua hai câu thơ này thể hiện một cái nhìn rất thực tế, khách quan về quy luật “vật chất quyết định ý thức”, “môi trường tạo nên nhân cách”. Ông không chỉ đơn thuần miêu tả mà còn hàm chứa một lời cảnh tỉnh sâu sắc: con người không thể tách rời khỏi hoàn cảnh sống và các mối quan hệ xã hội. Từ đó, ông khuyên răn con người phải nhận thức rõ tầm quan trọng của môi trường và chủ động lựa chọn, hoặc tạo dựng một môi trường tích cực để phát triển bản thân theo hướng tốt đẹp.

Câu 10. Thông điệp nào từ đoạn trích có ý nghĩa nhất với anh chị? Vì sao? (Lí giải từ 3 đến 5 câu)

Trả lời:

Với em, thông điệp có ý nghĩa nhất từ đoạn trích là: “Chơi cùng bầy dại nên bầy dại / Kết mấy người khôn học nết khôn.”

Thông điệp này thực sự có giá trị sâu sắc đối với lứa tuổi học sinh như chúng em. Ở độ tuổi này, bạn bè có ảnh hưởng rất lớn đến suy nghĩ, hành động và sự hình thành nhân cách. Việc lựa chọn được những người bạn tốt, chân thành, biết động viên và cùng nhau tiến bộ sẽ giúp em phát triển tích cực hơn trong học tập và rèn luyện đạo đức. Ngược lại, nếu kết giao với những người có thói quen không tốt, em rất dễ bị ảnh hưởng tiêu cực và thậm chí là sa ngã. Do đó, thông điệp này nhắc nhở em phải luôn cẩn trọng và sáng suốt trong các mối quan hệ bạn bè, biết chọn lọc để bản thân được phát triển đúng hướng.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 8

C1. D. Biểu cảm

⇒ PTBĐ chính là biểu cảm, ngoài ra còn kết hợp với PTBĐ nghị luận

C2. A. Thất ngôn xen lục ngôn

C3. B. Nôm

C4. C. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

C5.  A. Gương báu răn mình.

C6.  A. Nói quá

C7. D. Con người cần thích nghi linh hoạt với hoàn cảnh sống, lựa chọn môi trường sống phù hợp.

C8.

Chơi cùng người xấu, người dại, nếu không cảnh giác, sẽ bị nhiễm thói xấu và trở nên xấu hơn. Chơi cùng người khôn ngoan, sẽ học được những điều hay, lẽ phải, sẽ tốt hơn, tiến bộ hơn từ sự ảnh hưởng ấy.

C9. Hoàn cảnh có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tính cách và phẩm chất con người.

C10.

Thông điệp mà tác giả muốn đem đến trong đoạn trích đó là con người cần có sự thích nghi với môi trường sống. Đó là điều ý nghĩa nhất. không phải ai cũng chọn lựa được cuộc sống, hoàn cảnh hay môi trường sống. Mà chúng ta cần thích nghi và biết làm cho môi trường sống tốt hơn.

Trả lời bởi: Trang Phạm

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo