PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc bài thơ sau:
DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM
(Lê Anh Xuân)
Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt
Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn
Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.
Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn
Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm
Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công
Anh tên gì hỡi Anh yêu quý
Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng
Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ
Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong
Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ:
Anh là chiến sỹ Giải phóng quân.
Tên Anh đã thành tên đất nước
Ôi anh Giải phóng quân!
Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân
(3/1968)
(Theo nguồn: Thơ Lê Anh Xuân, NXB Giáo dục, 1981)
Trả lời các câu hỏi:
Câu 1 (0,5 điểm). Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 (0,5 điểm). Xác định đề tài bài thơ.
Câu 3 (0,5 điểm). Xác định các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ:
Anh tên gì hỡi Anh yêu quý
Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng
Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ
Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong
Câu 4 (0,75 điểm). Anh/chị hiểu ý nghĩa các dòng thơ sau như thế nào?
Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân
Câu 5 (0,75 điểm). Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Câu 6 (1,0 điểm). Qua bài thơ, anh/chị có suy nghĩ gì về trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam với đất nước. (Trình bày trong khoảng 6-8 câu văn).
***
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
Câu 1 (0,5 điểm). Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
* Phương pháp giải: Để xác định thể thơ, chúng ta sẽ dựa vào số tiếng (chữ) trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần và ngắt nhịp của bài thơ.
* Lời giải:
Đọc kĩ bài thơ, ta nhận thấy hầu hết các dòng thơ đều có 8 tiếng (chữ).
Ví dụ: Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt (8 tiếng)
Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng (10 tiếng – có sự linh hoạt nhưng chủ đạo là 8)
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn (8 tiếng)
Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng (8 tiếng)
Vần thơ được gieo khá linh hoạt (vần chân như “Nhứt – trực thăng”, “bắn – cầu vồng”, “hàng – đạn”, “dũng cảm – công”,…). Nhịp thơ cũng được biến đổi để phù hợp với nội dung và cảm xúc.
Với đặc điểm chủ yếu là số tiếng trong mỗi dòng là 8, kết hợp với sự linh hoạt trong vần và nhịp, bài thơ được viết theo thể thơ 8 chữ (hay còn gọi là thể thơ tự do có cấu trúc 8 chữ).
Câu 2 (0,5 điểm). Xác định đề tài bài thơ.
* Phương pháp giải: Đề tài của một tác phẩm văn học là phạm vi hiện thực đời sống, vấn đề mà tác phẩm tập trung phản ánh. Để xác định đề tài, chúng ta cần đọc kĩ bài thơ và tóm tắt nội dung chính, đối tượng chính được nói đến.
* Lời giải:
Bài thơ kể về sự hy sinh anh dũng của một người lính Giải phóng quân trên đường băng Tân Sơn Nhứt, ca ngợi phẩm chất kiên cường, bất khuất của anh và ý nghĩa lớn lao của sự hy sinh ấy đối với Tổ quốc.
Vậy, đề tài của bài thơ là Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, vẻ đẹp của người lính Giải phóng quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Câu 3 (0,5 điểm). Xác định các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ:
Anh tên gì hỡi Anh yêu quý
Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng
Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ
Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong
* Phương pháp giải: Để xác định biện pháp tu từ, chúng ta cần phân tích kĩ từng dòng thơ, tìm kiếm những cách diễn đạt đặc biệt, không theo nghĩa đen thông thường mà mang ý nghĩa gợi cảm, gợi hình, đã được học trong chương trình Ngữ văn (như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, điệp ngữ, câu hỏi tu từ…).
* Lời giải:
Trong đoạn thơ trên, tác giả đã sử dụng các biện pháp tu từ nổi bật sau:
- Câu hỏi tu từ: “Anh tên gì hỡi Anh yêu quý”. Câu hỏi này không nhằm để hỏi đáp mà để thể hiện sự ngưỡng mộ, trân trọng và niềm tiếc thương của tác giả đối với người anh hùng vô danh.
- Hô ngữ: “hỡi Anh yêu quý”. Thể hiện tình cảm thân thương, gần gũi, trân trọng.
- So sánh: “Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng” và “Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ”.
- So sánh “Anh” với “bức thành đồng” làm nổi bật sự vững chãi, kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ, dù đã hy sinh nhưng vẫn sừng sững như một biểu tượng.
- So sánh người anh hùng (qua hình ảnh đôi dép bình dị của anh) với sức mạnh phi thường “giẫm lên bao xác Mỹ” cho thấy sự đối lập giữa vẻ ngoài đơn sơ và sức mạnh to lớn, khẳng định chiến thắng oanh liệt của người chiến sĩ và dân tộc Việt Nam.
- Điệp ngữ: “Anh” (lặp lại nhiều lần trong đoạn và toàn bài) nhằm nhấn mạnh, khẳng định sự hiện diện, vai trò trung tâm và vẻ đẹp của người chiến sĩ.
Câu 4 (0,75 điểm). Anh/chị hiểu ý nghĩa các dòng thơ sau như thế nào?
Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân
* Phương pháp giải: Để giải thích ý nghĩa các dòng thơ này, chúng ta cần phân tích các hình ảnh thơ, từ ngữ mang tính biểu tượng, mối quan hệ giữa hai vế câu để làm rõ thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm.
* Lời giải:
Hai dòng thơ trên mang ý nghĩa sâu sắc, khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa sự hy sinh cá nhân cao cả và tương lai rạng rỡ của đất nước:
- “Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt”: Hình ảnh “dáng đứng” của người chiến sĩ đã ngã xuống nhưng vẫn hiên ngang, bất khuất trên đường băng Tân Sơn Nhứt là một biểu tượng mạnh mẽ. Nó không chỉ là tư thế chiến đấu đến hơi thở cuối cùng mà còn là tinh thần kiên cường, ý chí không chịu khuất phục của cả dân tộc Việt Nam trước kẻ thù. Sự hy sinh anh dũng ấy là khởi nguồn, là tiền đề.
- “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”: Hình ảnh “Tổ quốc bay lên” thể hiện sự vươn cao, phát triển mạnh mẽ, giành chiến thắng, thoát khỏi xiềng xích nô lệ. “Bát ngát mùa xuân” là một hình ảnh giàu sức gợi, tượng trưng cho độc lập, tự do, hòa bình, sự sống sinh sôi nảy nở, niềm hy vọng và một tương lai tươi sáng, thịnh vượng của đất nước.
Như vậy, hai dòng thơ này có nghĩa là: chính từ sự hy sinh anh dũng, bất khuất, kiên cường của những người chiến sĩ vô danh như “Anh” đã làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc, đưa đất nước thoát khỏi chiến tranh, hướng tới một tương lai độc lập, tự do và phồn vinh. Dáng đứng ấy trở thành biểu tượng bất tử, là nền tảng vững chắc cho sự hồi sinh và phát triển của Tổ quốc.
Câu 5 (0,75 điểm). Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
* Phương pháp giải: Cảm hứng chủ đạo là tư tưởng, tình cảm chủ yếu, xuyên suốt và chi phối toàn bộ bài thơ. Để xác định cảm hứng chủ đạo, chúng ta cần tổng hợp nội dung, thái độ, cảm xúc nổi bật của tác giả khi viết về đề tài này.
* Lời giải:
Xuyên suốt bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”, nhà thơ Lê Anh Xuân đã thể hiện một cách sâu sắc và mãnh liệt:
- Niềm cảm phục, ngưỡng mộ sâu sắc trước sự hy sinh anh dũng, tinh thần kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ Giải phóng quân.
- Niềm tự hào lớn lao về phẩm chất anh hùng của con người Việt Nam nói chung và người lính cách mạng nói riêng.
- Khẳng định ý nghĩa cao cả của sự hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
- Niềm tin vững chắc vào chiến thắng cuối cùng và tương lai tươi sáng của dân tộc.
Chính vì vậy, cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, ca ngợi tinh thần bất khuất, sự hy sinh cao cả của người lính Giải phóng quân đã làm nên “dáng đứng Việt Nam” bất tử, đồng thời thể hiện niềm tự hào và niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của Tổ quốc.
Câu 6 (1,0 điểm). Qua bài thơ, anh/chị có suy nghĩ gì về trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam với đất nước. (Trình bày trong khoảng 6-8 câu văn).
* Phương pháp giải: Đây là câu hỏi liên hệ mở rộng, yêu cầu học sinh bày tỏ suy nghĩ cá nhân dựa trên cảm nhận về bài thơ. Chúng ta cần từ nội dung, ý nghĩa của bài thơ (sự hy sinh của người lính) để liên hệ đến trách nhiệm của bản thân và của thế hệ trẻ trong thời bình. Cần trình bày mạch lạc, rõ ràng và đảm bảo số lượng câu theo yêu cầu.
* Lời giải:
Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân đã khắc họa một cách xúc động và hào hùng hình tượng người lính hy sinh nhưng vẫn hiên ngang, bất tử, trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất của dân tộc. Từ những dòng thơ ấy, em càng nhận thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trước hết, mỗi công dân cần phải biết ơn và trân trọng những hy sinh xương máu của các thế hệ cha anh để có được hòa bình, độc lập ngày nay. Để xứng đáng với “dáng đứng Việt Nam” ấy, thế hệ trẻ chúng ta cần nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức, nâng cao trình độ kiến thức và kĩ năng. Đó là cách để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, hiện đại. Đồng thời, chúng ta cũng phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cũng là một trách nhiệm quan trọng, để giá trị Việt Nam mãi tỏa sáng. Em tin rằng, mỗi hành động nhỏ bé của chúng ta hôm nay sẽ góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” như lời thơ của Lê Anh Xuân.
1/ Thể thơ tự do
2/ Đề tài người lính
3/ Đoạn thơ sử dụng phép tu từ:
– Ẩn dụ: “anh” chỉ người chiến sĩ
– So sánh: nhân vật “anh” được so sánh với: bức thành đồng/ đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ
Tác dụng: làm nổi bật vẻ đẹp dũng cảm, ngang tàng của người chiến sĩ Việt Nam
4/
“Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”
Hình tượng người lính đã được được nâng lên thành biểu tượng của đất nước, của dân tộc, tỏa sáng đến hôm nay và mai sau. Chiến thắng đã mở ra một chân trời mới tràn ngập niềm lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi đẹp của dân tộc Việt Nam.
5/ Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng ngợi ca
6/ Chúng ta được sinh ra trong hòa bình, được đánh đổi bằng bao mất mát, hy sinh, cống hiến của cha ông. Vì vậy, mỗi công dân ngày nay cần bảo vệ và phát huy truyền thống đó. Chúng ta cần phải cố gắng học tập và rèn luyện thật tốt để tương lai cống hiến cho quê hương, đất nước. Đồng thời, mỗi người cũng cần ý thức tiếp thu văn hóa nước ngoài một cách chọn lọc, hòa nhập nhưng không hòa tan. Không chỉ vậy, các bạn trẻ cần ý thức được trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước, nuôi dưỡng tinh thần yêu nước… Nhiều thanh niên tài năng với những phát minh khoa học được thế giới công nhận lại nguyện trở về Việt Nam xây dựng sự nghiệp. Nhiều sinh viên vừa mới tốt nghiệp, tình nguyện trở về quê hương để xây dựng cho quê hương mình. Tóm lại, mỗi chúng ta hãy biết bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước và có những hành động cụ thể để bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước ngày một phồn vinh hơn.