NỮ THẦN LÚA
Nữ thần Lúa là một cô gái xinh đẹp, dáng người ẻo lả và có tính hay hờn dỗi.
Nàng là con gái Ngọc Hoàng. Sau những trận lụt lội ghê gớm xảy ra, sinh linh cây cỏ đều bị diệt hết. Trời bèn cho những người còn sống sót sinh con đẻ cái trên mặt đất, sai nữ thần Lúa xuống trần gian, nuôi sống loài người. Nữ thần làm phép cho những hạt giống gieo xuống đất nảy mầm, mọc thành cây, kết bông mẩy hạt. Lúa chín tự về nhà không cần gặt và không phải phơi phóng gì cả. Cần ăn, cứ ngắt bông cho vào nồi là lúa sẽ thành cơm.
Một hôm, cô con gái nhà kia đang bận việc. Sân chưa quét dọn, cửa kho cũng chưa mở, lúa ở ngoài đã ùn ùn kéo về. Cô gái cuống quýt và đâm cáu. Sẵn tay đang cầm cái chổi, cô đập vào đầu bông lúa mà mắng:
– Người ta chưa dọn dẹp xong đã bò về. Gì mà hấp tấp thế?
Nữ thần Lúa đang dẫn các bông lúa vào sân, thấy sân, đường bẩn thỉu rác rưởi đã bực trong lòng, lại bị phang một cán chổi vào đầu, tức lắm. Cả đám lúa đều thốt lên:
– Muốn mệt thì ta cho mệt luôn. Từ nay có hái tre, liềm sắc cắt cổ ta, ta mới về.
Từ đó nữ thần Lúa dỗi, nhất định không cho lúa bò về nữa. Người trần gian phải xuống tận ruộng lấy từng bông. Thấy vất vả mệt nhọc quá, người ta mới chế ra liềm, hái để cắt lúa cho nhanh. Và lúa cũng không tự biến thành cơm nữa, mà phải phơi phóng xay giã cho ra gạo. Sự hờn dỗi của nữ thần Lúa còn đôi khi cay nghiệt hơn nữa. Nữ thần vẫn giận sự phũ phàng của con người, nên nhiều lần đã cấm không cho các bông lúa nảy nở. Có kết hạt cũng chỉ là lúa lép mà thôi. Vì thế sau này mỗi lần gặt xong là người trần gian phải làm lễ cúng hồn Lúa, cũng là cúng Thần Lúa. Có nơi không gọi như thế thì gọi là cúng Cơm Mới. Cúng hồn Lúa, Cơm Mới, do các gia đình tổ chức trong nhà mình. Các làng, các bản cũng phải mở những ngày hội chung để cúng Thần Lúa. Trong những ngày hội ấy, mở đầu cho các cuộc tế tự và trò vui, là một “tiết mục” hấp dẫn, gọi là: Rước bông lúa. Các trò Trám (Vĩnh Phú), trò Triềng (Thanh Hóa), trò thổi tù và Cây Hống (Nghệ Tĩnh), v.v… đều có rước bông lúa như vậy.
(Trích Thần thoại Việt Nam chọn lọc, Hoàng Minh, Việt Dũng, Thu Nga tuyển chọn và biên soạn, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2019, tr.130 – 131)
Câu 1: (1,0 điểm) Trong truyện, nữ thần Lúa có ngoại hình như thế nào?
Câu 2: (1,0 điểm) Chỉ ra 02 chi tiết hoang đường, tưởng tượng trong văn bản.
Câu 3: (1,0 điểm) Nêu ý nghĩa của chi tiết Lúa chín tự về nhà không cần gặt và không phải phơi phóng gì cả. Cần ăn, cứ ngắt bông cho vào nồi là lúa sẽ thành cơm.
Câu 4: (1,0 điểm) Văn bản Nữ thần Lúa phản ánh nhận thức và cách lí giải của con người thời cổ đại về điều gì? Theo anh/chị, đến nay nhận thức và cách lí giải đó còn hợp lí không?
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) làm rõ một số đặc điểm nổi bật của truyện thần thoại “Nữ thần Lúa”.
Câu 2: (4,0 điểm) Viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày quan điểm của anh/chị về ước mơ của con người trong cuộc sống./.
giải nhanhh giúp mik vớiii ạ
Chúng ta sẽ cùng nhau phân tích và trả lời từng câu hỏi một cách chi tiết, mạch lạc nhé!
PHẦN I. ĐỌC – HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1: Trong truyện, nữ thần Lúa có ngoại hình như thế nào?
Lời giải chi tiết:
- Bước 1: Đọc kĩ câu hỏi để xác định yêu cầu là tìm thông tin về ngoại hình của Nữ thần Lúa.
- Bước 2: Rà soát văn bản, đặc biệt là đoạn đầu tiên, để tìm những từ ngữ miêu tả trực tiếp về ngoại hình của Nữ thần Lúa.
- Bước 3: Phát hiện các chi tiết: “là một cô gái xinh đẹp, dáng người ẻo lả”.
Trả lời: Trong truyện, nữ thần Lúa được miêu tả là “một cô gái xinh đẹp, dáng người ẻo lả”.
Giải thích: Thông tin này được nêu rõ ngay ở đầu văn bản, giúp người đọc hình dung về vẻ đẹp và sự dịu dàng của Nữ thần.
Câu 2: Chỉ ra 02 chi tiết hoang đường, tưởng tượng trong văn bản.
Lời giải chi tiết:
- Bước 1: Hiểu rõ khái niệm “chi tiết hoang đường, tưởng tượng”. Đây là những chi tiết không có thật trong đời sống thực tế, vượt ra ngoài quy luật tự nhiên, thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người xưa, thường thấy trong truyện thần thoại.
- Bước 2: Đọc lại văn bản và tìm kiếm các sự kiện, hành động, hoặc tính chất của sự vật không thể xảy ra trong thế giới hiện thực.
- Bước 3: Lựa chọn hai chi tiết tiêu biểu nhất.
Trả lời: Hai chi tiết hoang đường, tưởng tượng trong văn bản là:
- “Lúa chín tự về nhà không cần gặt và không phải phơi phóng gì cả. Cần ăn, cứ ngắt bông cho vào nồi là lúa sẽ thành cơm.”
- “Nữ thần làm phép cho những hạt giống gieo xuống đất nảy mầm, mọc thành cây, kết bông mẩy hạt.” (hoặc) “Nữ thần Lúa dỗi, nhất định không cho lúa bò về nữa.” (hoặc) “Nữ thần vẫn giận sự phũ phàng của con người, nên nhiều lần đã cấm không cho các bông lúa nảy nở. Có kết hạt cũng chỉ là lúa lép mà thôi.”
Giải thích: Các chi tiết này đều thể hiện khả năng siêu nhiên của Nữ thần Lúa và sự vận động của cây lúa, gạo một cách phi lí so với thực tế, là đặc trưng của thể loại thần thoại nhằm lí giải một cách huyền ảo về nguồn gốc sự vật và hiện tượng.
Câu 3: Nêu ý nghĩa của chi tiết Lúa chín tự về nhà không cần gặt và không phải phơi phóng gì cả. Cần ăn, cứ ngắt bông cho vào nồi là lúa sẽ thành cơm.
Lời giải chi tiết:
- Bước 1: Đọc kĩ chi tiết được yêu cầu phân tích ý nghĩa.
- Bước 2: Liên hệ chi tiết đó với cuộc sống lao động của con người thời cổ đại, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Bước 3: Suy luận về điều mà con người mong muốn, khao khát khi tưởng tượng ra một cuộc sống như vậy.
Trả lời: Chi tiết “Lúa chín tự về nhà không cần gặt và không phải phơi phóng gì cả. Cần ăn, cứ ngắt bông cho vào nồi là lúa sẽ thành cơm” mang ý nghĩa sâu sắc:
- Nó phản ánh ước mơ ngàn đời của con người về một cuộc sống ấm no, đầy đủ, sung túc mà không phải trải qua quá trình lao động vất vả, nhọc nhằn.
- Nó thể hiện khát vọng về một thời kì vàng son, khi con người được thiên nhiên ưu đãi, mọi thứ đều sẵn có và dễ dàng.
Giải thích: Trong bối cảnh đời sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn và lao động nặng nhọc, chi tiết này là sự lí tưởng hóa về một xã hội mà con người hằng mong ước, nơi mọi nhu cầu thiết yếu đều được đáp ứng một cách tự nhiên và dễ dàng.
Câu 4: Văn bản Nữ thần Lúa phản ánh nhận thức và cách lí giải của con người thời cổ đại về điều gì? Theo anh/chị, đến nay nhận thức và cách lí giải đó còn hợp lí không?
Lời giải chi tiết:
- Bước 1: Xác định đối tượng mà văn bản thần thoại thường lí giải (hiện tượng tự nhiên, nguồn gốc sự vật, phong tục…).
- Bước 2: Từ nội dung truyện, rút ra những điều mà người xưa đang cố gắng giải thích (sự ra đời của lúa, sự vất vả khi trồng lúa, các nghi lễ…).
- Bước 3: Đánh giá tính hợp lí của nhận thức và lí giải đó trong thời điểm hiện tại, đối chiếu với kiến thức khoa học.
- Bước 4: Xem xét giá trị phi khoa học mà nó vẫn còn giữ được (giá trị văn hóa, tinh thần).
Trả lời:
Văn bản “Nữ thần Lúa” phản ánh nhận thức và cách lí giải của con người thời cổ đại về:
- Nguồn gốc của cây lúa – một nguồn lương thực thiết yếu đã được các thần ban tặng cho loài người.
- Nguồn gốc của sự lao động vất vả trong nông nghiệp (gặt hái, phơi phóng, xay giã lúa) – được lí giải là do sự giận dỗi của Nữ thần Lúa khi con người vô lễ.
- Nguồn gốc của các phong tục, nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, đặc biệt là các lễ cúng Thần Lúa, cúng Cơm Mới, Rước bông lúa – được cho là cách để tạ lỗi và cầu xin thần linh ban cho mùa màng bội thu.
Theo em, đến nay, nhận thức và cách lí giải đó không còn hợp lí về mặt khoa học. Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, chúng ta biết rằng cây lúa là kết quả của quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên, quá trình trồng trọt là do lao động của con người, không có sự can thiệp của thần linh. Việc lúa lép, lúa mất mùa có thể giải thích bằng các yếu tố khoa học như sâu bệnh, thời tiết, điều kiện đất đai…
Tuy nhiên, về mặt tinh thần và văn hóa, những lí giải này vẫn mang giá trị sâu sắc. Nó thể hiện lòng biết ơn của con người đối với thiên nhiên và những thứ nuôi sống mình, giáo dục con người về ý thức trân trọng thành quả lao động. Đồng thời, nó góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo, các lễ hội truyền thống, củng cố ý thức cộng đồng và duy trì những giá trị đạo đức tốt đẹp.
Giải thích: Đây là đặc trưng của truyện thần thoại: dùng trí tưởng tượng để lí giải những hiện tượng tự nhiên, xã hội mà con người thời cổ đại chưa thể giải thích bằng khoa học. Mặc dù không còn đúng về mặt khoa học, nhưng giá trị văn hóa, đạo đức của nó vẫn còn nguyên.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1: Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) làm rõ một số đặc điểm nổi bật của truyện thần thoại “Nữ thần Lúa”.
Lời giải chi tiết:
- Bước 1: Nhớ lại các đặc điểm chung của truyện thần thoại (nhân vật siêu nhiên, chi tiết kì ảo, lí giải nguồn gốc, thể hiện ước mơ,…)
- Bước 2: Chọn ra 2-3 đặc điểm nổi bật nhất và tìm ví dụ cụ thể trong truyện “Nữ thần Lúa” để minh họa.
- Bước 3: Viết đoạn văn theo cấu trúc mở – thân – kết, đảm bảo đủ số lượng chữ và liên kết ý chặt chẽ.
Trả lời:
Truyện thần thoại “Nữ thần Lúa” là một minh chứng tiêu biểu cho những đặc điểm độc đáo của thể loại thần thoại Việt Nam. Trước hết, truyện xây dựng hệ thống nhân vật siêu nhiên có quyền năng phi thường như Nữ thần Lúa, con gái Ngọc Hoàng, người có khả năng ban phát sự sống và điều khiển mùa màng. Thứ hai, yếu tố kì ảo, hoang đường được sử dụng đậm nét để lí giải các hiện tượng trong đời sống, ví dụ như chi tiết lúa chín tự về, tự thành cơm, hay Nữ thần giận dỗi làm cho lúa lép. Những chi tiết này không chỉ thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người xưa mà còn hàm chứa ý nghĩa lí giải về nguồn gốc sự vật, hiện tượng. Cụ thể, truyện giải thích vì sao con người phải lao động vất vả để có hạt lúa, hạt gạo, và vì sao lại có các lễ cúng Thần Lúa. Qua đó, tác phẩm còn phản ánh ước mơ về cuộc sống no đủ và gửi gắm những bài học về thái độ trân trọng thành quả lao động. Chính những đặc điểm này đã làm nên sức hấp dẫn và giá trị của “Nữ thần Lúa”.
Giải thích: Đoạn văn tập trung vào các đặc điểm cốt lõi của thần thoại như nhân vật siêu nhiên, yếu tố kì ảo, chức năng lí giải nguồn gốc và giá trị thể hiện ước mơ, đồng thời sử dụng các chi tiết trong văn bản để minh họa, đảm bảo độ dài và tính mạch lạc của một đoạn văn nghị luận.
Câu 2: Viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày quan điểm của anh/chị về ước mơ của con người trong cuộc sống.
Lời giải chi tiết:
- Bước 1: Xây dựng dàn ý chi tiết cho bài văn nghị luận theo cấu trúc ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
- Bước 2: Viết Mở bài: Giới thiệu chung về ước mơ và tầm quan trọng của nó.
- Bước 3: Viết Thân bài (khoảng 2-3 đoạn):
- Đoạn 1: Giải thích ước mơ là gì và vai trò của ước mơ đối với mỗi cá nhân (nguồn động lực, mục tiêu, định hướng cuộc sống, ý nghĩa tồn tại).
- Đoạn 2: Mở rộng về ý nghĩa của ước mơ đối với xã hội (tiến bộ, phát triển, thay đổi thế giới). Nêu ví dụ về ước mơ lớn và nhỏ, cách biến ước mơ thành hiện thực.
- Đoạn 3 (có thể gộp vào đoạn 2): Bàn về những thử thách khi theo đuổi ước mơ và cách vượt qua.
- Bước 4: Viết Kết bài: Khẳng định lại giá trị của ước mơ, kêu gọi mọi người hãy nuôi dưỡng và theo đuổi ước mơ.
- Bước 5: Đọc lại, chỉnh sửa câu chữ, lỗi chính tả, đảm bảo tính liên kết và độ dài.
Trả lời:
Trong hành trình cuộc đời của mỗi con người, ước mơ luôn đóng vai trò là ngọn hải đăng dẫn lối, là nguồn động lực vô tận thúc đẩy chúng ta vượt qua mọi giới hạn. Ước mơ không chỉ là những khao khát xa vời mà còn là kim chỉ nam định hướng cho mọi hành động, là biểu hiện cao đẹp nhất của ý chí và khát vọng sống.
Ước mơ là gì? Đó là những mong muốn, khát vọng về những điều tốt đẹp mà con người muốn đạt được trong tương lai. Ước mơ có thể là những điều rất đỗi giản dị như một cuộc sống bình yên, một công việc ổn định, nhưng cũng có thể là những hoài bão lớn lao như thay đổi thế giới, cống hiến cho nhân loại. Dù lớn hay nhỏ, ước mơ đều mang lại cho chúng ta một mục đích sống. Nó là chất xúc tác biến những điều không thể thành có thể, giúp chúng ta không ngừng học hỏi, rèn luyện và phát triển bản thân. Một người không có ước mơ chẳng khác nào một con thuyền lênh đênh trên biển cả mà không có la bàn, không biết đâu là bến bờ.
Hơn nữa, ước mơ không chỉ mang ý nghĩa cá nhân mà còn có sức mạnh thay đổi cả cộng đồng và xã hội. Những phát minh vĩ đại, những công trình kiến trúc kì diệu hay những bước tiến vượt bậc trong khoa học đều bắt nguồn từ ước mơ dám nghĩ, dám làm của những cá nhân kiệt xuất. Ước mơ về một thế giới hòa bình, một xã hội công bằng đã và đang truyền cảm hứng cho biết bao thế hệ đấu tranh, cống hiến. Tuy nhiên, hành trình hiện thực hóa ước mơ không bao giờ trải hoa hồng. Nó đòi hỏi sự kiên trì, nỗ lực không ngừng, tinh thần vượt khó và khả năng đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Chính những thử thách đó lại là phép thử quý giá, tôi luyện ý chí và bản lĩnh của con người.
Tóm lại, ước mơ là một phần không thể thiếu, là hơi thở của cuộc sống. Hãy nuôi dưỡng những ước mơ, dù là nhỏ bé hay vĩ đại, và dũng cảm theo đuổi chúng bằng cả trái tim và khối óc. Bởi lẽ, cuộc đời sẽ trở nên vô vị và tẻ nhạt biết bao nếu thiếu đi những ước mơ rực rỡ, những khát vọng cháy bỏng thúc đẩy chúng ta vươn tới những đỉnh cao mới.
Giải thích: Bài văn nghị luận này trình bày quan điểm về ước mơ bằng cách đi từ định nghĩa, vai trò cá nhân đến ý nghĩa xã hội, đồng thời đề cập đến những thách thức và cách vượt qua. Ngôn ngữ được sử dụng phù hợp với học sinh lớp 10, cấu trúc ba phần rõ ràng, đảm bảo tính logic và thuyết phục.
C1. Nữ thần Lúa là một cô gái xinh đẹp, dáng người ẻo lả và có tính hay hờn dỗi.
C2. Hai chi tiết hoang đường, tưởng tượng trong văn bản:
– Nữ thần Lúa làm phép cho hạt giống nảy mầm, mọc thành cây, kết bông mẩy hạt.
– Lúa chín tự về nhà, không cần gặt và không phải phơi phóng gì cả.
C3. Thể hiện ước mơ của con người thời cổ đại về một cuộc sống no đủ, sung túc, không phải lao động vất vả. Đồng thời thể hiện lòng biết ơn thiên nhiên, vì con người tin rằng của cải do các vị thần ban tặng.
C4.
– Văn bản phản ánh nhận thức và cách lí giải của con người thời cổ đại về nguồn gốc cây lúa, nghề nông và sự cực nhọc trong lao động sản xuất.
Phần II.
C1.
Truyện Nữ thần Lúa mang những đặc điểm tiêu biểu của thể loại thần thoại. Trước hết, truyện chứa nhiều yếu tố hoang đường, kì ảo như: nữ thần từ trời xuống trần, lúa biết bò về nhà, biết nói và giận dỗi. Những yếu tố tưởng tượng này giúp lí giải một cách sinh động về nguồn gốc của cây lúa và lao động nông nghiệp của con người. Bên cạnh đó, truyện thể hiện tư duy ngây thơ, mộc mạc của người xưa, đồng thời gửi gắm ước mơ về cuộc sống no đủ, hạnh phúc, không phải vất vả làm ăn. Hình tượng nữ thần Lúa vừa gần gũi vừa thiêng liêng, phản ánh quan niệm con người coi trọng hạt lúa và biết ơn thiên nhiên. Chính những đặc điểm ấy làm nên giá trị đặc sắc của thần thoại Việt Nam, thể hiện tâm hồn hồn hậu và trí tưởng tượng phong phú của dân tộc.
C2.
Trong cuộc sống, mỗi người đều có những khát vọng, hoài bão riêng. Điều đó được gọi là ước mơ- ngọn đèn soi sáng con đường chúng ta đi, giúp ta sống có mục tiêu và ý nghĩa hơn.
Ước mơ là những điều tốt đẹp mà con người mong muốn đạt được trong tương lai. Đó có thể là ước mơ trở thành bác sĩ để cứu người, là khao khát được cống hiến cho quê hương, hay đơn giản chỉ là ước mơ về một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Dù lớn hay nhỏ, ước mơ luôn là động lực giúp con người cố gắng vươn lên mỗi ngày.
Người có ước mơ sẽ không dễ dàng bỏ cuộc trước khó khăn. Chính ước mơ khiến ta kiên trì học tập, làm việc và rèn luyện bản thân. Nhờ có ước mơ mà nhiều con người vĩ đại đã làm nên những điều tưởng chừng không thể: nhà bác học Ê-đi-xơn với ước mơ thắp sáng nhân loại, hay Bác Hồ với ước mơ giành lại độc lập cho dân tộc. Tuy nhiên, ước mơ chỉ trở thành hiện thực khi ta biết nỗ lực thực hiện nó bằng hành động cụ thể. Nếu chỉ mơ mà không làm, ước mơ sẽ mãi chỉ là viển vông.
Trong cuộc sống hôm nay, mỗi chúng ta – những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường – cũng cần có ước mơ và cố gắng vì ước mơ ấy. Dù con đường phía trước còn dài, nhưng nếu ta tin tưởng và chăm chỉ, ước mơ sẽ dần trở thành sự thật.
Ước mơ là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn, là ánh sáng dẫn đường cho con người. Hãy luôn nuôi dưỡng trong tim mình một ước mơ đẹp và kiên trì theo đuổi, bởi khi sống có ước mơ, cuộc đời sẽ trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.