Bài 1.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
“Không ! Cuộc đời chưa…
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
“Không ! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác. Tôi ở nhà Binh Tư về được một lúc lâu thì thấy những tiếng nhốn nháo ở bên nhà lão Hạc. Tôi mải mốt chạy sang. Mấy người hàng xóm đến trước tôi đang xôn xao ở trong nhà. Tôi xồng xộc chạy vào. Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc . Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết. Cái chết thật là dữ dội. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và bất thình lình như vậy. Chỉ có tôi với Binh Tư hiểu.
Nhưng nói ra làm gì nữa ! Lão Hạc ơi ! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt ! Lão đừng lo gì cho cái vườn của lão. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn, cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào…”
(Trích Lão Hạc – Nam Cao, Ngữ văn 8, tập một, NXB GD, năm 2012)
Câu 1: Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào?
Câu 2: Kể tên các tác phẩm và tác giả thuộc chủ đề Người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945.
Câu 3: Tìm các từ tượng thanh, các từ tượng hình trong đoạn văn trên.
Câu 4: Đoạn văn trên được kể ở ngôi nào, ngôi kể ây có tác dụng gì? Chỉ ra các phép liên kết hình thức được sử dụng trong đoạn trích và từ ngữ được dùng để liên kết.
Câu 5: Giải thích vì sao lúc trước nhân vật “tôi” có suy nghĩ “Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn” sau đó nhân vật “tôi” lại nghĩ “Không ! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác.”
Câu 6: Nêu cảm nghĩ của em về cái chết của Lão Hạc
Câu 7: Thái độ, tình cảm của nhân vật “tôi” đối với lão Hạc như thế nào qua đoạn kết trên?
Câu 8: Viết 1 đoạn văn TPH khoảng 14 câu phân tích nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên để làm rõ câu chủ đề sau:
Lão Hạc vừa giàu tình yêu thương vừa giàu lòng tự trọng.
BÀI GIẢI CHI TIẾT
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên là tự sự.
Giải thích thêm: Phương thức tự sự là phương thức dùng để kể lại một chuỗi sự việc, có mở đầu, diễn biến, kết thúc, có nhân vật và hành động. Ở đây, nhân vật “tôi” đang kể lại sự việc mình chứng kiến cái chết của Lão Hạc. Bên cạnh đó, đoạn văn còn kết hợp các phương thức miêu tả (tả lại hình ảnh Lão Hạc lúc chết) và biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật “tôi”). Tuy nhiên, kể chuyện vẫn là mục đích chính nên tự sự là phương thức biểu đạt chính.
Câu 2:
Các tác phẩm và tác giả tiêu biểu khác thuộc chủ đề Người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 mà các em đã được học hoặc tìm hiểu là:
- Tác phẩm “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố.
- Tác phẩm “Bước đường cùng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Đây đều là những tác phẩm hiện thực xuất sắc, phản ánh chân thực cuộc sống cùng khổ và những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân trong xã hội cũ.
Câu 3:
Trong đoạn văn trên, ta có thể tìm thấy các từ tượng thanh và từ tượng hình sau:
- Các từ tượng hình (từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái): nhốn nháo, xôn xao, mải mốt, xồng xộc, vật vã, rũ rượi, xộc xệch, long sòng sọc.
- Các từ tượng thanh (từ mô phỏng âm thanh): tru tréo.
Giải thích thêm: Các từ này có tác dụng rất lớn trong việc làm cho cảnh tượng cái chết của Lão Hạc hiện lên một cách cụ thể, sống động và ám ảnh, giúp người đọc cảm nhận được sự đau đớn, dữ dội mà Lão phải trải qua.
Câu 4:
- Ngôi kể và tác dụng:
- Đoạn văn trên được kể ở ngôi thứ nhất, người kể chuyện xưng “tôi” (nhân vật ông giáo).
- Tác dụng của ngôi kể thứ nhất:
– Giúp câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi và đáng tin cậy hơn vì người đọc cảm giác như đang được nghe một người trong cuộc kể lại.
– Giúp tác giả dễ dàng đi sâu vào thế giới nội tâm, thể hiện trực tiếp những suy nghĩ, tình cảm, sự dằn vặt, chiêm nghiệm của nhân vật “tôi”. Điều này thể hiện rõ qua những dòng suy tư ở đầu và cuối đoạn trích.
– Hướng người đọc có cái nhìn đồng cảm, xót thương đối với Lão Hạc qua lăng kính đầy nhân hậu của ông giáo.
- Các phép liên kết hình thức:
- Phép lặp: Lặp lại các từ “lão”, “Lão Hạc”, “buồn”, “tôi” để tạo sự kết nối, nhấn mạnh đối tượng.
Ví dụ: “ở bên nhà lão Hạc… Lão Hạc đang vật vã…” - Phép thế: Dùng các đại từ hoặc từ đồng nghĩa để thay thế cho từ ngữ đã dùng ở câu trước.
Ví dụ: Từ “lão”, “ông cụ thân sinh ra anh” được dùng để thay thế cho “Lão Hạc”. Từ “hắn”, “anh” được dùng để thay thế cho “con trai lão”. - Phép nối: Dùng các quan hệ từ để nối các câu, các đoạn.
Ví dụ: Từ “Nhưng” ở câu “Nhưng nói ra làm gì nữa !” dùng để nối đoạn miêu tả cái chết của Lão Hạc với đoạn thể hiện suy ngẫm và lời hứa của nhân vật “tôi”.
- Phép lặp: Lặp lại các từ “lão”, “Lão Hạc”, “buồn”, “tôi” để tạo sự kết nối, nhấn mạnh đối tượng.
Câu 5:
Sự thay đổi trong suy nghĩ của nhân vật “tôi” có thể được giải thích như sau:
- Lúc trước, khi chứng kiến cuộc sống cùng quẫn, bế tắc, thấy Lão Hạc phải dằn vặt bán đi con chó Vàng, nhân vật “tôi” nghĩ “Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Cái “đáng buồn” này là nỗi buồn xót xa, bất lực trước hoàn cảnh xã hội tàn nhẫn đã đẩy những người lương thiện như Lão Hạc vào đường cùng. Đó là cái buồn của sự tuyệt vọng.
- Sau đó, khi chứng kiến cái chết tự nguyện, dữ dội nhưng có chủ đích của Lão Hạc, nhân vật “tôi” đã vỡ lẽ và hiểu ra mọi chuyện. Ông nhận ra Lão Hạc chọn cái chết không phải vì quẫn bách, mà là để bảo toàn nhân phẩm trong sạch của mình, để giữ trọn mảnh vườn cho con trai. Vì vậy, ông nghĩ “cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”. Cái “đáng buồn theo một nghĩa khác” này là nỗi buồn xót thương pha lẫn sự kính trọng sâu sắc. Đáng buồn vì một con người tốt đẹp phải chọn một kết cục bi thảm, nhưng đáng kính phục vì trong cái đói khổ, con người vẫn giữ được nhân cách cao đẹp, tỏa sáng vẻ đẹp tâm hồn. Đó không còn là nỗi buồn của sự tuyệt vọng, mà là nỗi buồn của sự chiêm nghiệm về giá trị con người.
Câu 6:
Cảm nghĩ của em về cái chết của Lão Hạc:
Cái chết của Lão Hạc là một cái chết vô cùng bi thảm và dữ dội. Hình ảnh lão “vật vã”, “tru tréo”, “bọt mép sùi ra” cho thấy lão đã phải trải qua một sự đau đớn tột cùng về thể xác. Cái chết ấy là lời tố cáo đanh thép nhất đối với xã hội thực dân nửa phong kiến tàn bạo, đã dồn ép người nông dân lương thiện đến bước đường cùng, không còn con đường sống. Tuy nhiên, đằng sau sự bi thảm đó, cái chết của Lão Hạc lại ngời sáng vẻ đẹp của nhân cách. Lão chọn cái chết bằng bả chó – một cái chết đau đớn như một con vật – như một sự tự trừng phạt vì đã lừa một con chó, nhưng sâu xa hơn, đó là một hành động tự nguyện để bảo toàn lòng tự trọng, để được sống “trong sạch”, không phiền lụy hàng xóm và giữ trọn tài sản cho con. Cái chết của lão không phải là sự đầu hàng, mà là một sự phản kháng âm thầm nhưng quyết liệt với hoàn cảnh. Vì vậy, em vừa xót thương cho số phận bi kịch của Lão Hạc, vừa vô cùng kính trọng nhân cách cao cả của lão.
Câu 7:
Qua đoạn kết trên, thái độ, tình cảm của nhân vật “tôi” đối với Lão Hạc được thể hiện rất rõ ràng và sâu sắc:
- Đó là sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc: Nhân vật “tôi” là người duy nhất (cùng Binh Tư) hiểu được nguyên nhân cái chết của Lão Hạc. Ông hiểu đó là một sự hi sinh cao cả chứ không phải một cái chết vì bệnh tật thông thường.
- Đó là sự xót thương vô hạn: Tiếng gọi “Lão Hạc ơi !” là một tiếng kêu nghẹn ngào, chất chứa bao nỗi đau đớn trước sự ra đi của một người hàng xóm mà ông quý trọng.
- Đó là sự trân trọng, kính phục tuyệt đối: Lời hứa của ông giáo: “Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn…” không chỉ là một lời an ủi người đã khuất. Đó là một lời cam kết danh dự, thể hiện sự trân trọng của ông đối với tình phụ tử và lòng tự trọng của Lão Hạc. Ông nguyện làm người thực thi di chúc cuối cùng của Lão, để sự hi sinh của Lão không trở nên vô nghĩa.
Tóm lại, nhân vật “tôi” đã dành cho Lão Hạc một tình cảm yêu thương, xót xa và một sự kính trọng lớn lao.
Câu 8:
Các em tham khảo đoạn văn mẫu sau:
Lão Hạc vừa giàu tình yêu thương vừa giàu lòng tự trọng. Trước hết, tình yêu thương của lão được dành trọn vẹn cho người con trai đang đi phu đồn điền cao su. Dù nghèo đói, lão vẫn chắt chiu, dành dụm tiền bạc, mong con có vốn để làm ăn khi trở về. Tài sản quý giá nhất lão có là mảnh vườn, lão quyết giữ gìn cho con bằng mọi giá, coi đó là tương lai, là hi vọng của con. Tình yêu thương của lão còn dành cho cả cậu Vàng, kỉ vật của con trai. Lão chăm sóc nó như một người cha chăm con, cho ăn trong bát như người, gọi nó là “cậu Vàng” một cách trìu mến. Chính vì yêu thương sâu sắc như vậy nên khi phải bán cậu Vàng, lão đã đau đớn, dằn vặt đến tột cùng, khóc như một đứa trẻ. Song song với tình yêu thương bao la, Lão Hạc còn là người có lòng tự trọng đáng kính. Dù đói khổ đến mức phải ăn khoai, ăn củ chuối, lão vẫn dứt khoát từ chối sự giúp đỡ của ông giáo. Lão không muốn sống nhờ vào lòng thương hại của người khác, không muốn trở thành gánh nặng cho hàng xóm láng giềng. Lòng tự trọng ấy còn thể hiện ở việc lão tính toán kỹ lưỡng, gửi ông giáo giữ tiền lo ma chay cho mình, để đến khi chết cũng không phiền lụy ai. Đỉnh cao của lòng tự trọng chính là việc lão chọn cái chết bằng bả chó. Lão thà chết một cách đau đớn, dữ dội chứ nhất quyết không chịu bán đi một sào vườn của con, không chịu sống một cuộc đời “ăn bám” hay làm liều như Binh Tư. Cái chết ấy đã bảo toàn trọn vẹn nhân phẩm trong sạch của lão. Chính tình yêu thương và lòng tự trọng đã làm nên vẻ đẹp tâm hồn đáng kính của người nông dân nghèo khổ ấy.
Câu 1: ptbđ chính: biểu cảm.
Câu 2:Kể tên các tác phẩm và tác giả thuộc chủ đề Người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945:Chí phèo- Nam Cao; Tắt đèn – Ngô Tất Tố;Lão Hạc- Nam Cao;Làng- Kim Lân;Vợ nhặt- Kim Lân;…..
Câu 3:từ tượng thanh: nhốn nháo,tru tréo.
Từ tượng hình: xồng xộc,rũ rượi ,xộc xệch,sòng sọc,vật vã.
Câu 4:ngôi kể: Ngôi kể thứ nhất: nhân vật “tôi” chính là ông giáo.
tác dụng làm cho người đọc nắm bắt tâm trạng nhân vật sâu sắc, sinh động, chân thật và gần gũi hơn.
Câu 5:Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn…”
Suy nghĩ này xuất phát từ sự việc lão Hạc xin bả chó của Binh Tư. Ông giáo đã nghĩ rằng, một người đến lúc cùng đường thì cũng liều như ai hết. Tức là lão Hạc – một người có nhân cách cao đẹp, biết ăn năn, hối hận vì đã bán một con chó, nhưng khi đến bước đường cùng thì cũng có thể theo gót Binh Tư để có cái ăn. Ông giáo vừa ngỡ ngàng vừa thất vọng trước hành động và nhân cách của lão Hạc. Đồng thời cũng thể hiện nỗi buồn, bi quan, chán nản của ông giáo trước cuộc đời và nhân tình thế thái.
– “Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”
Sau khi chứng kiến cái chết đau đớn, dữ dội của lão Hạc, ông giáo đã nhận ra tấm lòng, nhân cách cao đẹp của lão Hạc vẫn vẹn nguyên, không thể bị xói mòn trước thực trạng xã hội đầy những dối trá, lừa lọc. Qua đó khẳng định niềm tin tưởng mạnh mẽ của ông giáo về nhân cách cao đẹp của lão Hạc – nhân cách một người lao động lương thiện. Đồng thời cũng thể hiện nỗi buồn, sự xót xa cho số phận những người nông dân trong xã hội cũ. Dù có nhân cách cao đẹp, đáng trân trọng nhưng lại phải chịu một cuộc đời đầy bất hạnh, một cái chết quá dữ dội.
Câu 6 cảm nghĩ của em về cái chết của lão hạc : Lão Hạc trong cái chết của mình vô cùng đau đớn, vô cùng vật vã, cùng cực về thể xác. cả đời đã khổ, đến khi nhắm mắt xuôi tay, lão đâu có hề được bình yên về với đất mẹ. Cái chết của Lão Hạc thật bất ngờ – bất ngờ với tất cả, cả Binh Tư và người láng giềng thân thiết là ông Giáo ; cả mọi người trong làng.
Câu 7: thái độ của nv tôi đối vs lão hạc:
Dửng dưng thờ ơ khi nghe lão Hạc bảo sẽ bán chó, vì lão nói với “tôi” rất nhiều lần trước đây.
– Ái ngại, cảm thông, xót xa thay cho lão khi thấy lão khóc vì bán con Vàng
– Quan tâm, muốn sẻ chia cùng lão khi dấu vợ ngấm ngầm giúp lão.
– Hoài nghi, thất vọng khi nghe Binh Tư kể chuyện lão xin bả chó…
– Kính trọng nhân cách lão khi biết nguyên nhân cái chết của lão Hạc.
Câu 8 : bn tự lm ik nhé
Câu 2:sống mòn,lão Hạc, chí Phèo, giăng sáng, đôi mắt,..
Câu 3:vật vã, rũ rượi, xộc xệch, sòng sọc, tru tréo, giật mạnh
Câu 4: ngôi kể thứ nhất, giúp nhìn rõ và trải nghiệm đc cảm giác nhân vật
– nhưng
Câu 5:cuộc đời quả thật đáng buôn vì có thể đổi trắng thay đen,biến người như lão Hạc trổ thành kẻ trộm cắp.vì 1 con người như lão Hạc phải biến chất vì k còn tìm đâu ra miếng ăn tối thiểu hàng ngày
-k ….nghĩa khác vì
+ cuộc đời… Đáng buồn vì huỷ hoại đc nhân phẩm của người lương thiện như lão Hạc để ta còn có quyền hy vọng và tin tưởng ở nơi con người
+ hay…khác vì người tốt đẹp như lão Hạc mà hoàn toàn vô vọng phải tìm tới cái chết như 1 sự giải thoát tự nguyện và bất đắc dĩ
Câu 6:bất ngờ dữ dội đau đớn về thể xác, nghèo khổ, bế tắc, cùng đường của người nông dân nghèo khố
Câu 7:là người hiểu chuyện, hiểu đời chan chứa tình yêu thương và lòng nhân ái sâu sắc. Người trong nhân cách k mất niềm tin vào những điều tốt đẹp của con người
Chúc bn hc tốt ( nhớ cho 1 sao và lời giải hay nhất)