Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Image 1

Bài tập 1/ Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Bèo dạt về đâ…

Bài tập 1/ Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Bèo dạt về đâ…

Bài tập 1/ Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
…Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
(Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2007, tr.29)
Câu 1. Nêu đại ý của đoạn trích.
Câu 2. Đưa vào lời thơ những thi liệu cổ điển nhưng cách viết của Huy Cận mới mẻ ở chỗ nào?
Câu 3. Nhận xét về hình ảnh Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Câu 4. Đoạn trích cho thấy tình cảm, thái độ gì của nhà thơ?
Hỏi bởi: Vinh Trần
3 câu trả lời
▲ 7
Các em thân mến,

Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau phân tích một khổ thơ rất đặc sắc trong bài thơ “Tràng giang” của nhà thơ Huy Cận. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của phong trào Thơ Mới, thể hiện một “nỗi sầu vạn kỉ” trước không gian mênh mông, vũ trụ vô cùng. Chúng ta sẽ giải quyết từng yêu cầu của bài tập để hiểu sâu hơn về tài năng của Huy Cận và vẻ đẹp của khổ thơ này nhé.

Câu 1. Nêu đại ý của đoạn trích.

Để xác định đại ý, chúng ta cần phân tích các hình ảnh chính trong khổ thơ. Toàn bộ khổ thơ này là:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Các hình ảnh nổi bật là: cánh bèo trôi dạt, không gian sông nước mênh mông, sự vắng bóng của đò ngang và cây cầu, và hai bờ sông lặng lẽ nối tiếp nhau.

Từ đó, ta có thể rút ra đại ý của đoạn trích như sau:

Đoạn thơ vẽ ra một bức tranh không gian sông nước rộng lớn, hoang vắng và hiu quạnh. Qua đó, nhà thơ bộc lộ nỗi buồn sâu sắc, cảm giác cô đơn, lạc lõng của một kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa dòng đời vô định. Đồng thời, đoạn thơ cũng thể hiện niềm khao khát thầm kín về một sự kết nối, giao cảm giữa con người với con người.

Câu 2. Đưa vào lời thơ những thi liệu cổ điển nhưng cách viết của Huy Cận mới mẻ ở chỗ nào?

Đây là một câu hỏi rất hay, giúp chúng ta thấy được sự kế thừa và cách tân trong Thơ Mới. Chúng ta sẽ phân tích làm hai vế:

a. Thi liệu cổ điển (những yếu tố mang màu sắc thơ xưa):

  • Hình ảnh “bèo dạt”: Đây là hình ảnh rất quen thuộc trong thơ ca cổ điển phương Đông, thường được dùng để ẩn dụ cho thân phận con người nhỏ bé, lênh đênh, trôi nổi, không nơi nương tựa.
  • Hình ảnh sông nước mênh mông, con thuyền (dù ở đây là sự vắng bóng của con thuyền) cũng là một mô-típ quen thuộc trong thơ Đường, thơ Tống để thể hiện nỗi buồn của người lữ khách.

b. Cách viết mới mẻ của Huy Cận:

  • Nỗi buồn mang tầm vóc vũ trụ: Nỗi buồn trong thơ cổ điển thường gắn với một hoàn cảnh cụ thể (nhớ quê, nhớ bạn, nỗi sầu của kẻ sĩ bất đắc chí). Còn nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn của “cái tôi” Thơ Mới, một nỗi buồn mang tính hiện sinh, cảm giác cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ vô tận. Đó là “nỗi sầu thế hệ”.
  • Sử dụng cấu trúc phủ định để nhấn mạnh: Huy Cận đã sử dụng một cách rất hiện đại điệp từ “không” trong hai câu thơ liên tiếp: “Không một chuyến đò ngang” và “Không cầu gợi chút niềm thân mật”. Phép điệp cấu trúc phủ định này không chỉ miêu tả sự thiếu vắng mà còn tuyệt đối hóa sự chia cắt, sự không kết nối. Nó tạo ra một cảm giác trống rỗng, lạnh lẽo và tuyệt vọng một cách đầy ấn tượng, khác với cách biểu đạt thường mang tính ước lệ, gián tiếp của thơ cổ.

Như vậy, Huy Cận đã mượn những hình ảnh xưa cũ nhưng lại thổi vào đó một nỗi niềm và một cách diễn đạt rất mới, rất đặc trưng cho thời đại của mình.

Câu 3. Nhận xét về hình ảnh Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Câu thơ cuối khổ là một nét vẽ tài hoa, giàu sức gợi:

  • Về không gian: Hình ảnh “bờ xanh tiếp bãi vàng” mở ra một không gian trải dài vô tận theo chiều ngang. “Bờ xanh” là sự sống, cỏ cây. “Bãi vàng” là bãi cát, bãi phù sa hoang vắng. Hai hình ảnh nối tiếp nhau tạo cảm giác không gian kéo dài đến vô cùng, vô tận, càng làm tăng thêm sự mênh mông, hoang vắng của cảnh vật.
  • Về màu sắc: “Xanh”, “vàng” là những gam màu quen thuộc của làng quê, có thể gợi lên vẻ đẹp hiền hòa, trù phú. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh của bài thơ, những màu sắc này lại trở nên buồn bã, tẻ nhạt. Vẻ đẹp của thiên nhiên dường như không thể sưởi ấm được tâm hồn đang cô đơn của nhà thơ.
  • Về trạng thái: Từ láy “lặng lẽ” đặt ở đầu câu thơ có vai trò quyết định, nó bao trùm và nhuộm màu tâm trạng cho toàn bộ cảnh vật. Bờ bãi nối tiếp nhau một cách im lìm, không một dấu hiệu của sự sống con người, không một âm thanh. Sự “lặng lẽ” của ngoại cảnh chính là sự phản chiếu nỗi cô đơn, tĩnh lặng đến tê tái trong lòng người.

Tóm lại: Đây là một câu thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Bức tranh thiên nhiên đẹp nhưng buồn, tĩnh lặng và mênh mông, qua đó khắc sâu thêm nỗi cô đơn, lạc lõng của cái tôi trữ tình.

Câu 4. Đoạn trích cho thấy tình cảm, thái độ gì của nhà thơ?

Qua những phân tích trên, chúng ta có thể tổng kết lại những tình cảm, thái độ của nhà thơ Huy Cận được thể hiện trong đoạn trích:

1. Nỗi buồn và sự cô đơn, lạc lõng: Đây là cảm xúc chủ đạo. Nhà thơ cảm thấy mình nhỏ bé, bơ vơ như cánh bèo trôi dạt vô định giữa không gian mênh mông, trống vắng. Nỗi buồn này không chỉ là nỗi buồn cá nhân mà còn là nỗi buồn chung của cả một thế hệ thanh niên trí thức thời bấy giờ, cảm thấy mất phương hướng trước cuộc đời.
2. Cảm giác choáng ngợp, rợn ngợp trước vũ trụ: Không gian “mênh mông”, “bờ xanh tiếp bãi vàng” tạo ra một cảm giác vũ trụ vô cùng, vô tận, khiến con người cảm thấy mình thật nhỏ nhoi, hữu hạn. Đây là “nỗi buồn không gian” rất đặc trưng của Huy Cận.
3. Niềm khao khát giao cảm, kết nối với cuộc đời: Bằng cách nhấn mạnh sự “không đò”, “không cầu”, nhà thơ đã gián tiếp thể hiện một niềm khát khao mãnh liệt được giao cảm, được kết nối với con người, với cuộc đời. Ông mong mỏi một “chút niềm thân mật” để phá vỡ đi sự cô lập, lạnh lẽo đang bủa vây.
4. Tình yêu quê hương đất nước thầm kín: Sâu xa hơn, hình ảnh dòng sông mênh mông, những kiếp người trôi dạt như cánh bèo còn có thể gợi lên hình ảnh đất nước trong những năm tháng lầm than, chưa tìm thấy lối ra. Nỗi buồn của nhà thơ còn là nỗi buồn cho quê hương, đất nước.

Các em ạ, chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn, Huy Cận đã vẽ nên cả một thế giới tâm trạng phức tạp và sâu sắc. Cô hy vọng qua bài giải này, các em đã hiểu rõ hơn về vẻ đẹp của đoạn thơ cũng như tài năng của tác giả. Hãy đọc lại toàn bộ bài thơ “Tràng giang” để có cái nhìn trọn vẹn hơn nhé.

Chúc các em học tốt

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 1

1. Đoạn trích cho thấy sự bơ vơ, lạc lõng, cô đơn của tác giả khi đứng trước bãi bờ sông Hồng.

2. Thi liệu cổ điển được nhà thơ đưa vaò trong thơ của mình đó là ” bèo”. Thông thường, trong thơ cổ, bèo là hiện thân cho sự , lạc lõng, cô đơn , bèo bọt, lênh đênh của kiếp người nhưng thường là dùng để chỉ số ít.Cái hay của Huy Cận ở đây là ông đã dùng hình ảnh bèo để chỉ nỗi sầu nhân thế, nỗi sầu muộn của cả một thế hệ người lênh đênh, trôi nổi không biết đi về đâu dưới vòng nô lệ gông cùm.

3. Đây là một hình ảnh thơ rất hay và độc đáo. Nó mở ra trước mắt người đọc một không gian mênh mông, vắng vẻ, quạnh hiu, chỉ có bờ xanh tiếp bãi vàng, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, con người thực sự trở nên cô đơn, nhỏ bé trước thiên nhiên bao la , rộng lớn.

4. Đoạn trích cho thấy tâm trạng buồn chán, cô đơn, tủi phận của nhà thơ khi đứng trên chính quê hương mà vẫn cảm  thấy trong lòng chứa chan một nỗi sầu nhân thế.

Trả lời bởi: Nguyễn Ngọc Mai
▲ 0

1. bãi bờ sông Hòng càng rộng lớn thì càng làm nổi bật len cái dáng vẻ lạc lõng ,nhỏ bé của tác giả

2.Huy Cận đã lam mới thơ văn của mình bằng cách ẩn dụ “bèo ” ,ở đây bèo ấy là tượng trưng cho sự hiu quạnh ,lênh đênh nơi sông Hồng

3. Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Một câu thơ như vẽ của tác giả mà trong cái búc tranh ấy lại có cái hồn khó phai. Nó nhấn mạnh ,làm bật lên hình ảnh hoang vu,sơ vắng nơi đây.

4. Cảnh bồn người có vui đâu bao giờ? Ở đây Huy Cận đã miêu tả hết sức chân thực khung cảnh bao la ,hiu quạnh của sông Hồng mà nói lên sự buồn rầu ,lẻ loi khi nghĩ về đất nước ,quê hương

Trả lời bởi: Sữa Ông Thọ

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo