Câu Đúng/Sai :
Người Ai Cập cổ đại viết chữ trên giấy pa – pi – rút, người Lưỡng…
Người Ai Cập cổ đại viết chữ trên giấy pa – pi – rút, người Lưỡng Hà cổ đại viết trên các phiến đất sét ướt rồi đem nung hoặc phơi khô. Người Trung Quốc lại khắc chữ trên các mai rùa, xương thú hoặc thẻ tre. Đến đời Thương, chữ viết của người Trung Quốc mới ra đời. Loại chữ đầu tiên này khắc trên mai rùa và xương thú, được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1899 và được gọi là văn tự giáp cốt….
Cho đến nay, người ta đã phát hiện được hơn 100 000 mảnh mai rùa và xương thú có khắc chữ giáp cốt. Tổng số chữ giáp cốt đã phát hiện khoảng 4500 chữ, trong đó đã đọc được 1700 chữ. Chữ giáp cốt đã ghép được những đoạn văn tương đối dài, có đoạn lên tới 100 chữ.
(Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng, Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 Trung học phổ thông, NXB Giáo dục, 2009, tr. 17)
Chữ giáp cốt là một thành tựu về văn học của người Trung Quốc thời cổ đại.
Người Ai Cập, người Lưỡng Hà và người Trung Quốc đều sáng tạo ra được chữ viết riêng của mình.
Chữ viết của người Ai Cập, Lưỡng Hà và Trung Quốc thời cổ đại lúc đầu được viết trên các chất liệu giấy khác nhau.
Hiện nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được rất nhiều chữ giáp cốt và các tác phẩm văn học đồ sộ viết bằng chữ giáp cốt.
(Mọi người ơi giúp mình với ạ, cảm ơn mọi người nhìu!)
Cô sẽ hướng dẫn các em từng bước một để phân tích và đưa ra đáp án chính xác nhất nhé!
Bước 1: Đọc kỹ đoạn trích và các nhận định
Đầu tiên, chúng ta cần đọc thật kỹ đoạn văn bản đã cho để nắm bắt thông tin về chữ viết của người Ai Cập, Lưỡng Hà và Trung Quốc cổ đại. Sau đó, lần lượt xem xét từng nhận định để đối chiếu với thông tin trong bài.
Bước 2: Phân tích nhận định thứ nhất: “Chữ giáp cốt là một thành tựu về văn học của người Trung Quốc thời cổ đại.”
* Dựa vào đoạn trích, chúng ta thấy thông tin về chữ giáp cốt: “Loại chữ đầu tiên này khắc trên mai rùa và xương thú, được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1899 và được gọi là văn tự giáp cốt…”.
* Đoạn văn cũng cho biết: “Chữ giáp cốt đã ghép được những đoạn văn tương đối dài, có đoạn lên tới 100 chữ.”
* Như vậy, chữ giáp cốt không chỉ là phương tiện ghi chép mà còn có khả năng tạo thành các đoạn văn. Tuy nhiên, để gọi là “thành tựu về văn học” thì cần xem xét rộng hơn. Chữ viết nói chung, bao gồm cả chữ giáp cốt, là một thành tựu văn hóa, văn minh, là phương tiện để sáng tạo nên văn học. Câu này có thể hiểu là đúng, vì chữ viết là cơ sở để hình thành văn học. Tuy nhiên, nếu xét theo nghĩa hẹp chỉ văn chương, thì cần thêm thông tin. Nhưng trong bối cảnh câu hỏi này, chữ giáp cốt là một phương tiện ghi chép và có thể ghép thành đoạn văn dài, cho thấy khả năng diễn đạt cao, là tiền đề cho văn học.
* Kết luận: Nhận định này là Đúng. Chữ giáp cốt là một thành tựu quan trọng, là nền tảng để phát triển văn học sau này.
Bước 3: Phân tích nhận định thứ hai: “Người Ai Cập, người Lưỡng Hà và người Trung Quốc đều sáng tạo ra được chữ viết riêng của mình.”
* Đoạn trích nêu rõ: “Người Ai Cập cổ đại viết chữ trên giấy pa – pi – rút, người Lưỡng Hà cổ đại viết trên các phiến đất sét ướt rồi đem nung hoặc phơi khô. Người Trung Quốc lại khắc chữ trên các mai rùa, xương thú hoặc thẻ tre.”
* Thông tin này khẳng định mỗi nền văn minh này đã phát triển một hệ thống chữ viết riêng biệt, phù hợp với điều kiện tự nhiên và vật liệu sẵn có của họ.
* Kết luận: Nhận định này là Đúng.
Bước 4: Phân tích nhận định thứ ba: “Chữ viết của người Ai Cập, Lưỡng Hà và Trung Quốc thời cổ đại lúc đầu được viết trên các chất liệu giấy khác nhau.”
* Chúng ta xem xét chất liệu ghi chép của từng nền văn minh theo đoạn trích:
* Người Ai Cập: “viết chữ trên giấy pa – pi – rút”. Papyrus chính là một dạng vật liệu giống giấy.
* Người Lưỡng Hà: “viết trên các phiến đất sét ướt rồi đem nung hoặc phơi khô”.
* Người Trung Quốc: “khắc chữ trên các mai rùa, xương thú hoặc thẻ tre”.
* Rõ ràng, các chất liệu được nhắc đến là papyrus, đất sét, mai rùa, xương thú, thẻ tre. Trong đó, papyrus gần giống giấy, còn đất sét, mai rùa, xương thú, thẻ tre không phải là giấy.
* Do đó, nhận định rằng “lúc đầu được viết trên các chất liệu giấy khác nhau” là không chính xác, bởi vì người Lưỡng Hà và người Trung Quốc không viết trên giấy.
* Kết luận: Nhận định này là Sai.
Bước 5: Phân tích nhận định thứ tư: “Hiện nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được rất nhiều chữ giáp cốt và các tác phẩm văn học đồ sộ viết bằng chữ giáp cốt.”
* Đoạn trích cung cấp số liệu về chữ giáp cốt: “Cho đến nay, người ta đã phát hiện được hơn 100 000 mảnh mai rùa và xương thú có khắc chữ giáp cốt. Tổng số chữ giáp cốt đã phát hiện khoảng 4500 chữ, trong đó đã đọc được 1700 chữ. Chữ giáp cốt đã ghép được những đoạn văn tương đối dài, có đoạn lên tới 100 chữ.”
* Số lượng phát hiện được là rất lớn (“hơn 100 000 mảnh”, “khoảng 4500 chữ”).
* Tuy nhiên, đoạn văn chỉ nói chữ giáp cốt có thể “ghép được những đoạn văn tương đối dài”, chứ không khẳng định đã phát hiện được “các tác phẩm văn học đồ sộ” viết bằng chữ giáp cốt. Việc đọc được 1700 chữ và ghép thành đoạn văn dài cho thấy khả năng ghi chép, nhưng chưa đủ để kết luận có “tác phẩm văn học đồ sộ”.
* Kết luận: Nhận định này là Sai (chủ yếu ở vế “các tác phẩm văn học đồ sộ viết bằng chữ giáp cốt”).
Tóm lại, dựa trên phân tích trên, chúng ta có kết quả như sau:
* Chữ giáp cốt là một thành tựu về văn học của người Trung Quốc thời cổ đại. -> Đúng
* Người Ai Cập, người Lưỡng Hà và người Trung Quốc đều sáng tạo ra được chữ viết riêng của mình. -> Đúng
* Chữ viết của người Ai Cập, Lưỡng Hà và Trung Quốc thời cổ đại lúc đầu được viết trên các chất liệu giấy khác nhau. -> Sai
* Hiện nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được rất nhiều chữ giáp cốt và các tác phẩm văn học đồ sộ viết bằng chữ giáp cốt. -> Sai
Cô hy vọng với cách giải thích từng bước này, các em đã hiểu rõ hơn về cách phân tích một câu hỏi Đúng/Sai dựa trên văn bản. Chúc các em học tốt môn Lịch sử!
1. Sai. Chữ giáp cốt không phải về văn học mà là một thành tựu
2. Đúng. Mỗi nền văn minh có mỗi chữ viết theo cách của họ. Giả dụ như là: Trung quốc có chữ giáp cốt, Ai cập có chữ tượng hình
3. Sai. Người trung quốc khắc chữ lên mai rùa, người Lưỡng Hà viết trên phiến đất sét có đúng mỗi người Ai Cập viết trên giấy
4. Sai. Vẫn chưa phát hiện ra được các tác phẩm văn học đồ sộ bằng chữ giáp cốt
\(a)\) Chữ giáp cốt là một thành tựu về văn học của người Trung Quốc thời cổ đại.
\(⇒\) Sai
\(+\) Chữ giáp cốt là một thành tựu về chữ viết của người Trung Quốc thời cổ đại.
\(b)\) Người Ai Cập, người Lưỡng Hà và người Trung Quốc đều sáng tạo ra được chữ viết riêng của mình.
\(⇒\) Đúng
\(+\) Người Ai Cập: chữ tượng hình, viết trên giấy Pa-pi-rút hoặc khắc trên đá
\(+\) Người Lưỡng Hà: chữ hình nêm,viết trên các phiến đất sét ướt rồi đem nung hoặc phơi khô.
\(+\) Người Trung Quốc: Chữ hình hình \(=>\) chữ tượng thanh với nhiều hình thức như là: Giáp cốt văn( trên xương), Triện thư, Kim văn,…
\(c)\) Chữ viết của người Ai Cập, Lưỡng Hà và Trung Quốc thời cổ đại lúc đầu được viết trên các chất liệu giấy khác nhau.
\(⇒\) Sai
\(+\) Chữ viết của người Ai Cập, Lưỡng Hà và Trung Quốc thời cổ đại lúc đầu không phải được viết trên các chất liệu giấy khác nhau mà được viết trên các sự vật khác nhau như là: đá, giấy Pa-pi-rút, xương thú, thẻ tre, đất sét,…
\(d)\) Hiện nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được rất nhiều chữ giáp cốt và các tác phẩm văn học đồ sộ viết bằng chữ giáp cốt.
\(⇒\) Sai
\(+\) Trong ngữ liệu có đề cập: Cho đến nay, người ta đã phát hiện được hơn 100 000 mảnh mai rùa và xương thú có khắc chữ giáp cốt.Chữ giáp cốt đã ghép được những đoạn văn tương đối dài, có đoạn lên tới 100 chữ.
\(+\) Tuy nhiên, họ mới tìm được những đoạn văn chứ chưa phát hiện được tác phẩm văn học đồ sộ nào viết bằng chữ giáp cốt