Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

chỉ dùng thêm quỳ tím phân biệt NaCl Na2CO3 CACl2 AlCl3 NH4Cl

chỉ dùng thêm quỳ tím phân biệt NaCl Na2CO3 CACl2 AlCl3 NH4Cl

chỉ dùng thêm quỳ tím phân biệt NaCl Na2CO3 CACl2 AlCl3 NH4Cl
Hỏi bởi: quanghang246
3 câu trả lời
▲ 8
Chào các em, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau giải một bài tập nhận biết rất thú vị trong chương trình Hóa học lớp 10. Bài tập này yêu cầu chúng ta phân biệt các dung dịch muối NaCl, Na₂CO₃, CaCl₂, AlCl₃, NH₄Cl chỉ bằng một thuốc thử duy nhất là quỳ tím.

Để làm được bài tập này, chúng ta cần nhớ lại tính chất hóa học của các dung dịch muối này và đặc biệt là cách quỳ tím thay đổi màu trong môi trường axit, bazơ và trung tính.

Quỳ tím là một chất chỉ thị màu.
– Trong môi trường axit, quỳ tím chuyển màu đỏ.
– Trong môi trường bazơ, quỳ tím chuyển màu xanh.
– Trong môi trường trung tính, quỳ tím giữ nguyên màu tím.

Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào từng bước thực hiện thí nghiệm.

Bước 1: Lấy mẫu thử và tiến hành thử với quỳ tím.

Chúng ta sẽ lấy một lượng nhỏ mỗi dung dịch ra các ống nghiệm riêng biệt. Sau đó, nhúng mẩu quỳ tím vào từng ống nghiệm.

Bước 2: Quan sát sự thay đổi màu sắc của quỳ tím và nhận định.

Dựa vào sự thay đổi màu sắc của quỳ tím, chúng ta có thể chia các dung dịch thành các nhóm:

1. Nhóm dung dịch làm quỳ tím chuyển sang màu xanh:
Dung dịch nào làm quỳ tím chuyển sang màu xanh chứng tỏ dung dịch đó có môi trường bazơ. Trong các chất đã cho, chỉ có Na₂CO₃ là muối của kim loại mạnh (Na) và axit yếu (H₂CO₃) nên khi tan trong nước sẽ tạo ra môi trường bazơ.
Phương trình thủy phân của Na₂CO₃:
Na₂CO₃ → 2Na⁺ + CO₃²⁻
CO₃²⁻ + H₂O ⇌ HCO₃⁻ + OH⁻
Do đó, dung dịch nào làm quỳ tím chuyển sang màu xanh là Na₂CO₃.

2. Nhóm dung dịch làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ:
Dung dịch nào làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ chứng tỏ dung dịch đó có môi trường axit. Trong các chất đã cho, chỉ có NH₄Cl là muối của bazơ yếu (NH₃.H₂O) và axit mạnh (HCl) nên khi tan trong nước sẽ tạo ra môi trường axit.
Phương trình thủy phân của NH₄Cl:
NH₄Cl → NH₄⁺ + Cl⁻
NH₄⁺ + H₂O ⇌ NH₃.H₂O + H⁺
Do đó, dung dịch nào làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ là NH₄Cl.

3. Nhóm dung dịch không làm quỳ tím đổi màu (quỳ tím giữ màu tím):
Dung dịch nào không làm quỳ tím đổi màu chứng tỏ dung dịch đó có môi trường trung tính. Trong các chất đã cho, NaCl là muối của kim loại mạnh (Na) và axit mạnh (HCl) nên khi tan trong nước không bị thủy phân, dung dịch có pH = 7.
Do đó, dung dịch nào giữ nguyên màu quỳ tím là NaCl.

Sau khi xác định được Na₂CO₃, NH₄Cl và NaCl, chúng ta còn lại hai dung dịch là CaCl₂ và AlCl₃. Cả hai dung dịch này đều là muối của kim loại mạnh và axit mạnh, nên chúng sẽ có môi trường trung tính và không làm đổi màu quỳ tím. Tuy nhiên, chúng ta đã dùng hết quỳ tím cho việc phân biệt ban đầu rồi. Vậy làm sao để phân biệt CaCl₂ và AlCl₃? Chúng ta sẽ quay lại và xem xét lại bước 2.

Trong bước 2, khi nhúng quỳ tím vào các dung dịch, chúng ta đã nhận ra:
– Dung dịch Na₂CO₃ làm quỳ tím chuyển sang màu xanh.
– Dung dịch NH₄Cl làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ.
– Các dung dịch còn lại (NaCl, CaCl₂, AlCl₃) làm quỳ tím giữ màu tím.

Bây giờ, chúng ta cần phân biệt 3 dung dịch còn lại: NaCl, CaCl₂, AlCl₃. Chúng ta chỉ được dùng thêm quỳ tím. Tuy nhiên, quỳ tím chỉ cho biết môi trường axit, bazơ hay trung tính. Chúng ta cần một bước tiếp theo.

Ta có thể sử dụng lại chính dung dịch Na₂CO₃ đã nhận biết được ở trên để phân biệt hai dung dịch còn lại là CaCl₂ và AlCl₃. Lưu ý, đề bài cho phép “chỉ dùng thêm quỳ tím”, nhưng trong quá trình thực hiện, chúng ta có thể sử dụng các hóa chất đã nhận biết được để tiếp tục phân biệt. Nếu hiểu theo đúng nghĩa đen là “chỉ có quỳ tím”, thì bài toán sẽ khó hơn. Tuy nhiên, với cách ra đề thông thường, chúng ta sẽ sử dụng các hóa chất đã nhận biết.

Hãy giả sử chúng ta đã dùng quỳ tím để phân biệt ban đầu như trên, và giờ chúng ta đã có:
1. Dung dịch Na₂CO₃ (làm quỳ tím hóa xanh).
2. Dung dịch NH₄Cl (làm quỳ tím hóa đỏ).
3. Ba dung dịch còn lại đều làm quỳ tím giữ màu tím: NaCl, CaCl₂, AlCl₃.

Bây giờ, chúng ta sẽ lấy Na₂CO₃ và cho tác dụng với từng dung dịch trong 3 dung dịch còn lại.

Bước 3: Sử dụng Na₂CO₃ để phân biệt CaCl₂ và AlCl₃.

Cho Na₂CO₃ tác dụng với CaCl₂:
Ta thấy xuất hiện kết tủa trắng.
Phương trình phản ứng:
Na₂CO₃(aq) + CaCl₂(aq) → CaCO₃(s) ↓ + 2NaCl(aq)
Vậy, dung dịch nào tạo kết tủa trắng khi cho tác dụng với Na₂CO₃ là CaCl₂.

Cho Na₂CO₃ tác dụng với AlCl₃:
Ban đầu, ta thấy xuất hiện kết tủa keo màu trắng. Tuy nhiên, do Na₂CO₃ có môi trường bazơ, nên kết tủa này sẽ tan trong dung dịch Na₂CO₃ dư.
Phương trình phản ứng ban đầu:
3Na₂CO₃(aq) + 2AlCl₃(aq) → 2Al(OH)₃(s) ↓ + 3Na₂CO₃(aq) <- Chỗ này sai, phải là 3CO₂ ạ. Sửa lại 3Na₂CO₃(aq) + 2AlCl₃(aq) → 2Al(OH)₃(s) ↓ + 3NaCl(aq) + 3CO₂(↑) <- Vẫn sai, phản ứng với nước tạo kết tủa Phản ứng thủy phân của muối aluminat cacbonat sẽ phức tạp hơn. Trong dung dịch nước, Na₂CO₃ bị thủy phân tạo ra OH⁻, do đó nó mang tính bazơ. AlCl₃ tác dụng với bazơ tạo ra kết tủa Al(OH)₃. Phương trình: AlCl₃(aq) + 3NaOH(aq) → Al(OH)₃(s) ↓ + 3NaCl(aq) Na₂CO₃ + H₂O ⇌ NaHCO₃ + NaOH Vì vậy, AlCl₃ sẽ phản ứng với dung dịch Na₂CO₃ tạo ra kết tủa Al(OH)₃. Phương trình phản ứng chi tiết hơn: 2AlCl₃(aq) + 3Na₂CO₃(aq) + 3H₂O(l) → 2Al(OH)₃(s) ↓ + 6NaCl(aq) + 3CO₂(g) ↑ Tuy nhiên, điều quan trọng là Na₂CO₃ có tính bazơ, sẽ phản ứng với AlCl₃. Ban đầu, có thể thấy kết tủa trắng keo của Al(OH)₃. Al³⁺ + 3OH⁻ → Al(OH)₃ Al³⁺ + 3HCO₃⁻ → Al(OH)₃ ↓ + 3CO₂ ↑ (Phản ứng này cũng có thể xảy ra) Quan trọng hơn, nếu dư Na₂CO₃, Al(OH)₃ sẽ tiếp tục phản ứng tạo muối tan: Al(OH)₃(s) + NaOH → Na[Al(OH)₄] (tan) hoặc Na₂CO₃ có thể tạo thành natri aluminat trực tiếp. 2Al³⁺ + 3CO₃²⁻ + 3H₂O → 2Al(OH)₃ ↓ + 3CO₂ ↑ Sau đó, Al(OH)₃ tiếp tục phản ứng với CO₃²⁻ dư hoặc OH⁻ sinh ra từ thủy phân CO₃²⁻. Tuy nhiên, để phân biệt đơn giản với CaCl₂, chúng ta chỉ cần quan sát phản ứng ban đầu: - Với CaCl₂, tạo kết tủa trắng CaCO₃. - Với AlCl₃, ban đầu tạo kết tủa trắng keo Al(OH)₃, kết tủa này có thể bị hòa tan một phần hoặc hoàn toàn tùy thuộc vào lượng Na₂CO₃ và nồng độ. Để phân biệt rõ ràng hai trường hợp này chỉ bằng Na₂CO₃ thì hơi khó vì cả hai đều tạo kết tủa trắng. Chúng ta cần xem lại đề bài: "chỉ dùng thêm quỳ tím phân biệt NaCl Na2CO3 CACl2 AlCl3 NH4Cl". Điều này có nghĩa là thuốc thử duy nhất được thêm vào là quỳ tím. Vậy chúng ta không được phép dùng thêm bất kỳ hóa chất nào khác như Na₂CO₃ đã nhận biết. Quay trở lại với quỳ tím. Ta có 5 dung dịch: NaCl, Na₂CO₃, CaCl₂, AlCl₃, NH₄Cl.

Bước 1: Dùng quỳ tím thử từng dung dịch.
– Nhúng quỳ tím vào từng dung dịch.
– Quan sát màu sắc:
+ Quỳ tím hóa xanh: Là Na₂CO₃ (môi trường bazơ).
+ Quỳ tím hóa đỏ: Là NH₄Cl (môi trường axit).
+ Quỳ tím không đổi màu (màu tím): Là NaCl, CaCl₂, AlCl₃ (môi trường trung tính).

Bước 2: Phân biệt 3 dung dịch trung tính bằng cách khác (vẫn chỉ dùng quỳ tím).
Đây là phần khó. Nếu chỉ có quỳ tím thì việc phân biệt 3 dung dịch trung tính là không thể, vì quỳ tím chỉ cho biết tính axit, bazơ, trung tính chứ không cho biết bản chất ion có trong dung dịch.

Có lẽ đề bài có ý là dùng quỳ tím để phân loại ban đầu, sau đó có thể sử dụng lại các dung dịch đã phân loại để tiếp tục phân biệt (nếu được phép). Nếu không được phép sử dụng lại, thì bài tập này chỉ có thể phân biệt được Na₂CO₃ và NH₄Cl, còn 3 dung dịch còn lại thì không phân biệt được chỉ bằng quỳ tím.

Giả sử đề bài cho phép dùng lại các dung dịch đã nhận biết được, hoặc giả sử chúng ta có thêm một ít thuốc thử khác mà quỳ tím không phải là thứ duy nhất. Nhưng vì đề bài đã “chỉ dùng thêm quỳ tím”, chúng ta phải tuân thủ.

Có một cách giải thích khác: “chỉ dùng thêm quỳ tím” nghĩa là quỳ tím là thuốc thử chính để thực hiện việc nhận biết. Tuy nhiên, trong các bài tập nhận biết kiểu này, thường ngụ ý là có thể sử dụng các hóa chất đã nhận biết được để tiếp tục phân biệt.

Nếu chúng ta chỉ dùng quỳ tím và không được dùng thêm bất cứ thứ gì khác, thì ta chỉ phân biệt được 2 loại:
1. Làm quỳ tím hóa xanh (Na₂CO₃)
2. Làm quỳ tím hóa đỏ (NH₄Cl)
3. Không làm quỳ tím đổi màu (NaCl, CaCl₂, AlCl₃)

Chúng ta không thể phân biệt được 3 dung dịch trong nhóm thứ 3 chỉ bằng quỳ tím.

Tuy nhiên, nếu xét theo cách ra đề bài phổ biến, thì ta có thể làm như sau (dùng lại các hóa chất đã nhận biết được):

Bước 1: Dùng quỳ tím.
– Lấy 5 ống nghiệm, mỗi ống chứa một dung dịch. Nhúng quỳ tím vào từng ống.
– Thu được:
– Ống 1: Quỳ tím hóa xanh. Đây là Na₂CO₃.
– Ống 2: Quỳ tím hóa đỏ. Đây là NH₄Cl.
– Ống 3, 4, 5: Quỳ tím không đổi màu. Đây là NaCl, CaCl₂, AlCl₃ (còn 3 chất chưa biết).

Bước 2: Sử dụng dung dịch Na₂CO₃ đã nhận biết để phân biệt 3 dung dịch còn lại.
– Lấy 3 ống nghiệm chứa 3 dung dịch chưa biết.
– Cho dung dịch Na₂CO₃ (ở Ống 1) lần lượt vào từng ống nghiệm này.
– Quan sát hiện tượng:
– Ống A (cho Na₂CO₃ vào): Xuất hiện kết tủa trắng. Đây là CaCl₂.
Phương trình: Na₂CO₃ + CaCl₂ → CaCO₃ ↓ + 2NaCl
– Ống B (cho Na₂CO₃ vào): Ban đầu có thể thấy kết tủa trắng keo, sau đó kết tủa tan hoặc không tan tùy thuộc vào tỉ lệ và điều kiện, nhưng sẽ có phản ứng tạo Al(OH)₃. Để phân biệt rõ với CaCl₂, ta cần chú ý:
Với Na₂CO₃ (bazơ): AlCl₃ sẽ phản ứng tạo Al(OH)₃.
2AlCl₃ + 3Na₂CO₃ + 3H₂O → 2Al(OH)₃ ↓ + 6NaCl + 3CO₂ ↑
Nếu dung dịch Na₂CO₃ dư, Al(OH)₃ có thể tan lại tạo thành [Al(OH)₄]⁻. Tuy nhiên, để đơn giản, ta quan sát kết tủa trắng.
Để phân biệt CaCl₂ và AlCl₃ chỉ bằng Na₂CO₃ thì cần xem xét kỹ hiện tượng. Thông thường, phản ứng với CaCl₂ là tạo kết tủa CaCO₃ không tan. Phản ứng với AlCl₃ tạo kết tủa Al(OH)₃ ban đầu, và kết tủa này có thể tan trong dung dịch bazơ dư.

Tuy nhiên, nếu chỉ dùng quỳ tím để phân biệt, thì thường là người ta sẽ sử dụng các hóa chất đã nhận biết được để tiếp tục.

Nếu chỉ được dùng quỳ tím như đề bài nói, thì ta chỉ có thể chia thành 3 nhóm.

Có lẽ đề bài muốn ta làm theo cách này:
1. Dùng quỳ tím để xác định dung dịch nào có pH < 7, pH > 7, pH = 7.
– pH > 7 (bazơ): Na₂CO₃
– pH < 7 (axit): NH₄Cl - pH = 7 (trung tính): NaCl, CaCl₂, AlCl₃ Đây là kết quả sau khi dùng quỳ tím. Nếu đề bài có nghĩa là chỉ được thêm quỳ tím vào các dung dịch ban đầu, thì việc phân biệt 3 dung dịch trung tính là không thể.

Chúng ta sẽ đi theo hướng phổ biến nhất của dạng bài này, là dùng quỳ tím để phân loại ban đầu, sau đó dùng các chất đã phân loại được để phân biệt tiếp.

Bước 1: Dùng quỳ tím.
– Lấy 5 mẫu thử: NaCl, Na₂CO₃, CaCl₂, AlCl₃, NH₄Cl.
– Nhúng quỳ tím vào từng mẫu thử.
– Quan sát:
– Quỳ tím hóa xanh: Nhận biết được Na₂CO₃.
– Quỳ tím hóa đỏ: Nhận biết được NH₄Cl.
– Quỳ tím không đổi màu: Còn lại 3 dung dịch NaCl, CaCl₂, AlCl₃.

Bước 2: Dùng dung dịch Na₂CO₃ đã nhận biết để phân biệt 3 dung dịch còn lại.
– Lấy 3 ống nghiệm chứa 3 dung dịch chưa biết.
– Cho một lượng nhỏ dung dịch Na₂CO₃ vào từng ống.
– Quan sát hiện tượng:
– Ống A: Xuất hiện kết tủa trắng. Đây là dung dịch CaCl₂.
Phương trình: Na₂CO₃(dd) + CaCl₂(dd) → CaCO₃(s)↓ + 2NaCl(dd)
– Ống B: Ban đầu có thể xuất hiện kết tủa trắng, nhưng kết tủa này có thể tan trong dung dịch bazơ dư của Na₂CO₃. Tuy nhiên, ta sẽ thấy có phản ứng xảy ra. Đây là dung dịch AlCl₃.
Phản ứng chính: 2AlCl₃(dd) + 3Na₂CO₃(dd) + 3H₂O(l) → 2Al(OH)₃(s)↓ + 6NaCl(dd) + 3CO₂(khí)↑
(Kết tủa Al(OH)₃ có thể tan tiếp nếu Na₂CO₃ dư: Al(OH)₃ + Na₂CO₃ → 2Na[AlO₂] + H₂O + CO₂ hoặc Al(OH)₃ + NaOH → Na[Al(OH)₄])
Để phân biệt rõ với CaCl₂, ta có thể chú ý: CaCO₃ không tan trong kiềm yếu. Al(OH)₃ tan trong kiềm mạnh. Na₂CO₃ là một bazơ yếu, nó có thể tạo kết tủa Al(OH)₃ và sau đó kết tủa này có thể tan nếu có OH⁻ dư hoặc CO₃²⁻ dư.
Một cách phân biệt rõ hơn AlCl₃ và CaCl₂ bằng Na₂CO₃ là quan sát kỹ. Với CaCl₂, chỉ có kết tủa trắng CaCO₃. Với AlCl₃, có thể có khí thoát ra (CO₂) và kết tủa trắng keo Al(OH)₃. Nếu dung dịch Na₂CO₃ dư, kết tủa Al(OH)₃ sẽ tan.
Trong trường hợp này, ta sẽ giả định là có thể quan sát được phản ứng tạo kết tủa ban đầu và khí.
– Ống C: Không có hiện tượng gì xảy ra. Đây là dung dịch NaCl.

Tóm lại quy trình là:
1. Dùng quỳ tím để nhận biết Na₂CO₃ (hóa xanh) và NH₄Cl (hóa đỏ). 3 dung dịch còn lại (NaCl, CaCl₂, AlCl₃) làm quỳ tím không đổi màu.
2. Lấy dung dịch Na₂CO₃ đã nhận biết, cho tác dụng với 3 dung dịch còn lại.
– Dung dịch nào tạo kết tủa trắng (CaCO₃) là CaCl₂.
– Dung dịch nào có thể tạo kết tủa trắng (Al(OH)₃) và có thể có khí thoát ra, kết tủa tan trong dư là AlCl₃.
– Dung dịch nào không có hiện tượng gì là NaCl.

Nếu đề bài “chỉ dùng thêm quỳ tím” có nghĩa là chỉ được phép sử dụng quỳ tím và không được sử dụng các hóa chất đã nhận biết được, thì bài tập này không thể giải quyết triệt để chỉ bằng quỳ tím. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh các bài tập hóa học phổ thông, cách giải sử dụng các hóa chất đã nhận biết để phân biệt tiếp là cách hiểu thông thường.

Chốt lại, ta sẽ trình bày theo cách sử dụng quỳ tím để phân loại ban đầu, sau đó dùng Na₂CO₃ để phân biệt các dung dịch trung tính.

Chúc các em học tốt!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 3

Dùng quỳ tím

Na2Co3 làm quỳ tím hóa xanh.

NH4Cl, AlCl3 làm quỳ tím hóa đỏ. (1)

NaCl, CaCl2không đổi màu quỳ tím. (2)

Cho Na2CO3 vào (1), chất nào tác dụng với Na2CO3 tạo kết tủa trắng -> AlCl3

2AlCl3 + 3Na2CO3  +3H2O —> 2Al(OH)3 + 6NaCl + 3CO2

Cho Na2Co3 vào (2), chất nào tạo kết tủa trắng là CaCl2

CaCl2 + Na2CO3 —> CaCO3 + 2NaCl

 

Trả lời bởi:
▲ 2

Đáp án:

 

Giải thích các bước giải:

– Cho quỳ tím vào từng mẫu thử

+ Quỳ tím hóa xanh: Na2CO3

+ Quỳ tím hóa đỏ: NH4Cl, AlCl3

+ Không đổi màu: NaCl, CaCl2

– Cho Na2CO3 vào từng chất NH4Cl, AlCl3

+ Kết tủa trắng: AlCl3

+ Không hiện tượng: NH4Cl

– Cho Na2Co3 vào từng chất NaCl, CaCl2

+ Kết tủa trắng: CaCl2

+ Không hiện tượng: NaCl

PTHH:

2AlCl3 + 3Na2CO3 + 3H2O → 2Al(OH)3 ↓+ 6NaCl + 3CO2 

CaCl2 + Na2CO3 → CaCO3 ↓ + 2NaCl

 

Trả lời bởi: Nam Cung Ngọc Thanh

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo