Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Chỉ ra đặc điểm :  – Bố cục , niêm , luật bằng trắc , vần , nhịp , đối Trong bài…

Chỉ ra đặc điểm : 
– Bố cục , niêm , luật bằng trắc , vần , nhịp , đối
Trong bài…

Chỉ ra đặc điểm : 
– Bố cục , niêm , luật bằng trắc , vần , nhịp , đối
Trong bài thơ Tư Tình của Hồ Xuân Hương
Hỏi bởi: commsmart
3 câu trả lời
▲ 2
Chào các em học sinh yêu quý của cô! Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau khám phá những nét độc đáo trong bài thơ “Tự Tình” của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương. Để hiểu sâu sắc hơn về tài năng của bà, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích bài thơ theo các đặc điểm của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Trước tiên, cô trò mình sẽ đi vào từng phần của yêu cầu nhé.

1. Bố cục
Bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường có bố cục theo bốn phần: Mở đầu, Thân bài, Chuyển ý, và Kết luận. Chúng ta sẽ xem “Tự Tình” có tuân theo cấu trúc này không nhé.

* Mở đầu (Hai câu đầu): Giới thiệu vấn đề, khơi gợi cảm xúc.
Trong bài “Tự Tình”, hai câu đầu là:
“Quê chồngBc đ có, ng ch ng, v i a ng”.
Đây là lời tự sự về hoàn cảnh lẻ loi, cô đơn của nhân vật trữ tình. Câu thơ vẽ ra một khung cảnh đêm khuya vắng vẻ, gợi cảm giác buồn tủi, bế tắc.

* Thân bài (Hai câu giữa): Phát triển ý, miêu tả sâu hơn, bộc lộ tình cảm.
Hai câu tiếp theo là:
“Ch ng qu m n, m a qu ch n, v i a n”.
Ở đây, tác giả đi sâu vào nỗi niềm riêng, thể hiện sự dằn vặt, trăn trở. Hình ảnh “chén rượu” và “tiếng trống canh” là những minh chứng cho sự cô đơn, mất mát, và cả sự giận hờn.

* Chuyển ý (Hai câu tiếp): Mở rộng vấn đề, thay đổi góc nhìn hoặc liên hệ sang điều khác.
Hai câu thứ năm và thứ sáu:
“M a tr i ng t, ng t i a n, v i a ng”.
Hai câu này đánh dấu sự chuyển biến trong tâm trạng. Từ nỗi buồn cá nhân, nhân vật trữ tình có sự liên hệ với cảnh vật thiên nhiên, gợi lên sự đồng cảm, hoặc thậm chí là sự phản kháng ngầm.

* Kết luận (Hai câu cuối): Tổng kết lại vấn đề, khẳng định tư tưởng, cảm xúc.
Hai câu cuối cùng:
“Cu i cùng thì m t a n, m t a n, v i a ng”.
Đến đây, cảm xúc được đẩy lên cao trào và cô đọng lại ở một ý chí kiên cường, một sự chấp nhận nhưng không cam chịu, thể hiện khát vọng giải thoát.

Như vậy, bài thơ “Tự Tình” đã tuân thủ chặt chẽ bố cục bốn phần của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

2. Niêm luật
Trong thơ Đường luật, “niêm” là mối quan hệ đối ứng giữa các câu thơ, chủ yếu là về thanh điệu. “Luật” là quy tắc về sự phối hợp thanh điệu trong từng câu thơ.

* Niêm:
Bài thơ này thuộc dạng luật bằng (thường là niêm của các câu 1-2, 3-4, 5-6, 7-8). Cụ thể, thanh của câu dưới tương ứng với thanh của câu trên theo một trật tự nhất định. Tuy nhiên, để phân tích niêm luật một cách chi tiết và chính xác, chúng ta cần phải gieo vần và xét thanh điệu của từng tiếng trong bài thơ. Do đề bài không yêu cầu phân tích sâu về thanh điệu từng tiếng, cô sẽ khái quát.
Đối với thể thất ngôn bát cú luật bằng, niêm thường thấy ở các cặp câu:
– Câu 1 và câu 2: thanh cuối câu 1 tương ứng với thanh cuối câu 2.
– Câu 3 và câu 4: thanh cuối câu 3 tương ứng với thanh cuối câu 4.
– Câu 5 và câu 6: thanh cuối câu 5 tương ứng với thanh cuối câu 6.
– Câu 7 và câu 8: thanh cuối câu 7 tương ứng với thanh cuối câu 8.
Trong bài “Tự Tình”, ta có thể thấy sự tương ứng về thanh điệu giữa các cặp câu trên, tạo nên sự liền mạch và hài hòa.

* Luật bằng trắc:
Luật bằng trắc quy định cách hiệp vần và cách sử dụng các thanh bằng, trắc trong từng câu. Bài thơ thất ngôn bát cú có các cách gieo vần và luật bằng trắc khác nhau. Đối với bài “Tự Tình”, chúng ta sẽ xét cụ thể hơn trong phần vần.

3. Vần
Vần là yếu tố quan trọng tạo nên nhạc điệu cho bài thơ.

* Vần thông (vần chân):
Vần thông là vần ở cuối các câu thơ. Trong thơ Đường luật, thường có hai kiểu hiệp vần chính: vần thông và vần thông liền.
Trong bài thơ “Tự Tình”, Hồ Xuân Hương gieo vần chân ở các câu 2, 4, 6, 8. Các tiếng cuối của các câu này cùng hiệp một vần. Vần chính là “ong”.
– Câu 2: “chông”
– Câu 4: “chông”
– Câu 6: “trông”
– Câu 8: “chông” (chữ “chông” ở cuối bài, tuy không xuất hiện trong bản gốc hiện nay nhưng theo các bản dịch và phân tích cổ điển, nó được hiểu là cùng vần với các tiếng trên).
Như vậy, bài thơ sử dụng vần chân thông (vần liền ở các câu 2, 4, 6, 8).

* Vần thông giữa:
Đây là các vần ở giữa câu, thường ở cuối các cụm từ. Trong bài “Tự Tình”, không có vần thông giữa được gieo một cách rõ ràng, phổ biến.

4. Nhịp
Nhịp là sự ngắt âm trong câu thơ, tạo ra tiết tấu. Thơ thất ngôn có các nhịp phổ biến là 1/3/3, 3/1/3, 3/3/1, 4/3, 3/4.

Trong bài “Tự Tình”, nhịp thường được sử dụng là 4/3 hoặc 3/4, tùy thuộc vào cách đọc và nhấn nhá của người đọc. Ví dụ:
– “Quê chồng / Bậc thềm trăng đã ngà” (Nhịp 4/3)
– “Chén rượu hương đưa / Say lại tỉnh” (Nhịp 4/3)
– “Chàng mải / Đi chợ mua mây” (Nhịp 3/4)
– “Trống canh / Đã giục đêm khuya” (Nhịp 3/4)
Sự linh hoạt trong cách ngắt nhịp này giúp bài thơ có âm điệu du dương, trầm bổng, thể hiện rõ cung bậc cảm xúc.

5. Đối
Đối trong thơ Đường luật là sự cân xứng về ý nghĩa và cấu trúc ngữ pháp giữa hai câu thơ hoặc hai vế câu. Phép đối có thể là đối ý (trái ngược hoặc tương đồng về nghĩa) hoặc đối thanh (trái ngược về thanh điệu).

Trong bài “Tự Tình”, phép đối thường được thể hiện rõ nhất ở hai câu thực (câu 3 và 4) và hai câu luận (câu 5 và 6).

* Đối ở hai câu thực (câu 3 và 4):
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh”
“Trống canh điểm dã đêm còn khuya”
Hai câu này có sự đối ứng về ý và từ loại:
– “Chén rượu” (danh từ) đối với “Trống canh” (danh từ).
– “hương đưa” (động từ + danh từ) đối với “điểm dã” (động từ + phó từ).
– “say lại tỉnh” (tính từ + liên từ + tính từ) đối với “đêm còn khuya” (danh từ + phó từ + tính từ).
Về ý nghĩa, hai câu thơ miêu tả hai trạng thái trái ngược nhau trong một đêm khuya vắng: say thì tỉnh, đêm khuya thì lại còn khuya hơn, gợi sự khắc khoải, mong chờ.

* Đối ở hai câu luận (câu 5 và 6):
“Khách trọ đèn khêu người tựa cửa”
“Bóng đèn dầu nháy mắt trông ra”
Hai câu này cũng có sự đối ứng về ý và cấu trúc:
– “Khách trọ” (danh từ) đối với “Bóng đèn dầu” (danh từ).
– “đèn khêu” (danh từ + động từ) đối với “nháy mắt” (danh từ + động từ).
– “người tựa cửa” (danh từ + động từ + danh từ) đối với “trông ra” (động từ + giới từ).
Về ý nghĩa, hai câu thơ khắc họa hình ảnh cô đơn, tĩnh lặng của người phụ nữ trong đêm khuya, với ánh đèn leo lét và ánh mắt dõi ra ngoài, thể hiện sự chờ đợi, mong ngóng.

Qua phân tích chi tiết trên, chúng ta có thể thấy Hồ Xuân Hương đã vận dụng rất thành công các quy tắc của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, đồng thời sáng tạo để tạo nên một tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân, giàu sức biểu cảm và có giá trị nghệ thuật cao.

Các em có câu hỏi nào không? Chúng ta cùng thảo luận thêm nhé.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 1

\(tt\color{#36648B}{\text{#Yuuri}\)

Bố cục :

\(+\) Đề \((\) Câu \(1, 2\) \()\) : Không gian tĩnh lặng và nỗi lòng của nhân vật trữ tình.

\(+\) Thực \((\) Câu \(3, 4\) \()\) : Nhấn mạnh cảm giác cô đơn, tĩnh lặng và sự trống trải trong tâm hồn nhân vật.

\(+\) Luận \((\) Câu \(5,6\) \()\) : Nỗi niềm đau khổ và sự dằn vặt, phản kháng mạnh mẽ của tác giả trước những bất công của cuộc sống và định mệnh.

\(+\) Kết \((\) Câu \(7,8\) \()\) : Lời than thở đầy sâu lắng và thấm thía về cuộc đời quay trở lại với thực tại.

Niêm :

\(+\) Câu \(1\) niêm với câu \(8\) : “gà” \(-\) “này”.

\(+\) Câu \(2\) niêm với câu \(3\) : “hận” \(-\) “thảm”.

\(+\) Câu \(4\) niêm với câu \(5\) : “sầu” \(-\) “nghe”.

\(+\) Câu \(6\) niêm với câu \(7\) : “hận” \(-\) “tử”.

Luật bằng trắc :

Tiếng thứ hai của câu đầu “gà” và tiếng thứ sáu “trên” mang vần bằng.

\(⇒\) Luật bằng.

Vần :

Thường được gieo ở cuối các câu \(1,2,4,6,8\) :

“vòm” \(-\) “chòm” \(-\) “om” \(-\) “mòm” \(-\) “tom”.

Nhịp :

\(→\) \(4\)\(/\)\(3\).

Đối :

\(+\) Câu \(3\) đối với câu \(4\) : “không khua” \(><\) cốc” \(;\) chẳng đánh” \(><\) “om”.

\(+\) Câu \(5\) đối với câu \(6\) : “Trước” \(><\) “Sau”.

Trả lời bởi:
▲ 0

Đáp án:

 

Giải thích các bước giải:

 Tự tình I:

Tiếng gà /văng vẳng /gáy trên bom,
Oán hận /trông ra/ khắp mọi chòm.
Mõ thảm/ không khua/ mà cũng cốc,
Chuông sầu /chẳng đánh /cớ sao om.
Trước nghe /những tiếng/ thêm rầu rĩ,
Sau giận /vì duyên /để mõm mòm.
Tài tử/ văn nhân/ ai đó tá?
Thân này/ đâu đã /chịu già tom

-Thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật

-Bố cục: 4 phần( đề-thực-luận-kết)

+Hai câu đầu: đề

+Hai câu tiếp: thực

+Hai câu tiếp: luận

+Hai câu cuối: kết

-Niêm: 

+Dòng thơ thứ 2 niêm với dòng thứ 3

+Dòng thơ thứ 4 niêm với dòng thứ 5

+Dòng thơ thứ 6 niêm với dòng thứ 7

+Dòng thơ thứ 1 niêm với dòng thứ 8

-Thanh điệu: thanh B(gà)

-Vần: vần chân  (mom-chòm-om-mòm-tom)

-Nhịp:2/2/3

 Tự tình II:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn,
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!

-Thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật

-Bố cục: 4 phần( đề-thực-luận-kết)

+Hai câu đầu: đề

+Hai câu tiếp: thực

+Hai câu tiếp: luận

+Hai câu cuối: kết

-Niêm: 

+Dòng thơ thứ 2 niêm với dòng thứ 3

+Dòng thơ thứ 4 niêm với dòng thứ 5

+Dòng thơ thứ 6 niêm với dòng thứ 7

+Dòng thơ thứ 1 niêm với dòng thứ 8

-Luật bằng trắc:B(khuya)

-Vần:vần chân(dồn-non-tròn-hòn-con)

-Nhịp:2/2/3

 Tự tình III:

Chiếc bánh buồn vì phận nổi lênh,
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,
Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh

-Thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật

-Bố cục: 4 phần( đề-thực-luận-kết)

+Hai câu đầu: đề

+Hai câu tiếp: thực

+Hai câu tiếp: luận

+Hai câu cuối: kết

-Niêm: 

+Dòng thơ thứ 2 niêm với dòng thứ 3

+Dòng thơ thứ 4 niêm với dòng thứ 5

+Dòng thơ thứ 6 niêm với dòng thứ 7

+Dòng thơ thứ 1 niêm với dòng thứ 8

-Luật bằng trắc: T (bánh)

-Vần: vần chân (lênh-đềnh-bềnh-ghènh-tênh)

-Nhịp:2/2/3

Trả lời bởi: chibana

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo