Cho tam giác ABC có AB = AC. Gọi M, N lần lượt là trung điểm của AC, AB. Chứng m…
Chúng ta bắt đầu với câu a.
a. Chứng minh : ΔABM = ΔACN và ΔBMC = Δ CNB
Đầu tiên, chúng ta cần chứng minh hai tam giác bằng nhau: ΔABM và ΔACN.
Các em hãy quan sát hai tam giác này. Chúng ta có những yếu tố nào đã biết rồi nhỉ?
Đề bài cho chúng ta biết tam giác ABC có AB = AC. Đây là một yếu tố rất quan trọng.
Đề bài cũng cho biết M là trung điểm của AC và N là trung điểm của AB.
Từ đó, ta suy ra:
AN = NB = \(\frac{1}{2}\)AB (vì N là trung điểm của AB)
AM = MC = \(\frac{1}{2}\)AC (vì M là trung điểm của AC)
Vì AB = AC, nên \(\frac{1}{2}\)AB = \(\frac{1}{2}\)AC. Suy ra AN = AM.
Bây giờ, hãy xét hai tam giác ΔABM và ΔACN:
1. Cạnh AB = Cạnh AC (theo giả thiết).
2. Góc A chung cho cả hai tam giác.
3. Cạnh AM = Cạnh AN (chúng ta vừa chứng minh ở trên).
Vậy, theo trường hợp cạnh – góc – cạnh (c.g.c), ta có:
ΔABM = ΔACN
Tiếp theo, chúng ta chứng minh ΔBMC = Δ CNB.
Các em hãy nhìn vào hai tam giác này. Chúng ta đã biết gì?
Chúng ta có BC là cạnh chung.
Chúng ta đã biết AB = AC.
Và chúng ta biết M là trung điểm của AC, N là trung điểm của AB.
Từ AB = AC, suy ra:
AB – AN = AC – AM
Mà NB = AB – AN và MC = AC – AM.
Do đó, NB = MC.
Bây giờ, xét hai tam giác ΔBMC và Δ CNB:
1. Cạnh BC là cạnh chung.
2. Cạnh MC = Cạnh NB (chúng ta vừa chứng minh).
3. Cạnh BM = Cạnh CN (vì ΔABM = ΔACN, hai cạnh tương ứng).
Vậy, theo trường hợp cạnh – cạnh – cạnh (c.c.c), ta có:
ΔBMC = Δ CNB
Chúng ta đã hoàn thành xong câu a. Bây giờ, chúng ta sang câu b.
b. Lấy điểm E và F sao cho M là trung điểm của BF, N là trung điểm của CF. Chứng minh: AE = AF
Chúng ta có M là trung điểm của BF. Điều này có nghĩa là B, M, F thẳng hàng và BM = MF.
Chúng ta có N là trung điểm của CF. Điều này có nghĩa là C, N, F thẳng hàng và CN = NF.
Bây giờ, chúng ta xét hai tam giác ΔABM và ΔEFM.
1. Cạnh BM = Cạnh MF (vì M là trung điểm của BF).
2. Góc AMB = Góc EMF (hai góc đối đỉnh).
3. Cạnh AM = Cạnh EM (Chúng ta cần chứng minh điều này. À, cô xin lỗi, đề bài cho M là trung điểm của BF, không liên quan đến AM. Chúng ta sẽ xét tam giác khác).
Ta xét tam giác ΔABM và ΔFCM.
1. Cạnh BM = Cạnh MF (M là trung điểm BF).
2. Góc AMB = Góc FMC (hai góc đối đỉnh).
3. Cạnh AM = Cạnh MC (M là trung điểm AC).
Vậy, theo trường hợp cạnh – góc – cạnh (c.g.c), ta có:
ΔABM = ΔFCM
Suy ra AB = FC và AM = FM (À, cô lại nhầm, AB = FC là đúng, còn AM = FM là sai. AM = MC là đúng rồi).
Từ ΔABM = ΔFCM, ta có AB = FC.
Bây giờ, xét tam giác ΔACN và ΔFBN.
1. Cạnh CN = Cạnh NF (N là trung điểm CF).
2. Góc ANC = Góc FNB (hai góc đối đỉnh).
3. Cạnh AN = Cạnh NB (N là trung điểm AB).
Vậy, theo trường hợp cạnh – góc – cạnh (c.g.c), ta có:
ΔACN = ΔFBN
Suy ra AC = FB và AN = FN (À, cô lại nhầm. AC = FB là đúng, còn AN = FN là sai. AN = NB là đúng rồi).
Từ ΔACN = ΔFBN, ta có AC = FB.
Chúng ta có AB = AC (theo giả thiết).
Mà AB = FC và AC = FB.
Suy ra FC = FB.
Bây giờ, chúng ta xem xét tam giác ΔAEF. Chúng ta cần chứng minh AE = AF.
Hãy nhìn vào tam giác ΔABF.
Ta có M là trung điểm của BF.
Ta lại có AB = AC và AC = FB. Nên AB = FB.
Điều này có nghĩa là tam giác ABF cân tại A.
À, các em chờ cô một chút. Chúng ta cần sử dụng kiến thức về trung điểm để chứng minh AE = AF.
Hãy xem lại các mối quan hệ.
Ta có AB = AC.
M là trung điểm BF, nên \(\vec{MB} = \vec{MF}\).
N là trung điểm CF, nên \(\vec{NC} = \vec{NF}\).
Xét hai tam giác ΔABM và ΔFCM:
BM = MF (M là trung điểm BF).
Góc AMB = Góc FMC (đối đỉnh).
AM = MC (M là trung điểm AC).
Vậy ΔABM = ΔFCM (c.g.c).
Suy ra AB = FC.
Xét hai tam giác ΔACN và ΔFBN:
CN = NF (N là trung điểm CF).
Góc ANC = Góc FNB (đối đỉnh).
AN = NB (N là trung điểm AB).
Vậy ΔACN = ΔFBN (c.g.c).
Suy ra AC = FB.
Vì AB = AC, nên FC = FB.
Bây giờ, chúng ta xét tam giác ΔABF.
Ta có:
AB = AC (giả thiết).
AC = FB (chứng minh trên).
Suy ra AB = FB.
Tam giác ABF cân tại A.
Xét tam giác ΔAEF.
Chúng ta cần chứng minh AE = AF.
Hãy xem xét lại dữ kiện.
M là trung điểm BF.
N là trung điểm CF.
Chúng ta có thể sử dụng tính chất đường trung bình hoặc các phép biến đổi vectơ nếu đã học. Tuy nhiên, ở lớp 7, chúng ta tập trung vào các trường hợp bằng nhau của tam giác.
Hãy nghĩ theo hướng khác. Chúng ta cần tạo ra tam giác chứa AE và AF để chứng minh chúng bằng nhau.
Xét tam giác ΔABF. Chúng ta đã biết AB = FB.
Xét tam giác ΔACF.
Ta có AC = AB.
Và AC = FB (chứng minh trên).
Nên AC = FB.
Chúng ta có F là một điểm được xác định bởi M và N.
Từ M là trung điểm BF, ta có F = 2M – B.
Từ N là trung điểm CF, ta có F = 2N – C.
Do đó, 2M – B = 2N – C, hay 2M + C = 2N + B.
Chúng ta đã chứng minh ΔABM = ΔFCM (c.g.c). Suy ra AB = FC.
Và ΔACN = ΔFBN (c.g.c). Suy ra AC = FB.
Vì AB = AC, nên FC = FB.
Bây giờ, chúng ta cần chứng minh AE = AF.
Hãy xét tam giác ΔABF.
Ta có AB = FB. Tam giác ABF cân tại A.
Chúng ta quay lại đề bài. M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Xét tam giác ΔABF. Điểm M là trung điểm cạnh BF.
Xét tam giác ΔACF. Điểm N là trung điểm cạnh CF.
Chúng ta đã chứng minh AB = FC và AC = FB.
Vì AB = AC, nên FB = FC.
Bây giờ, chúng ta hãy xét hai tam giác ΔABE và ΔAEF hoặc các tam giác khác để tìm ra mối liên hệ.
Hãy sử dụng phép biến đổi vectơ nếu các em đã quen.
\(\vec{AM} = \frac{1}{2}(\vec{AB} + \vec{AF})\)
\(\vec{AN} = \frac{1}{2}(\vec{AC} + \vec{AF})\)
Từ M là trung điểm BF, ta có \(\vec{AM} = \frac{1}{2}(\vec{AB} + \vec{AF})\). (Cô xin lỗi, đây là nếu A là đỉnh, M là trung điểm BF).
À, đề bài cho M là trung điểm BF, nên \(\vec{AM}\) không liên quan trực tiếp.
Ta có \(\vec{MB} = \vec{MF}\). Suy ra \(\vec{B} – \vec{M} = \vec{F} – \vec{M}\), điều này không đúng.
Mà \(\vec{M} = \frac{\vec{B} + \vec{F}}{2}\) suy ra \(\vec{F} = 2\vec{M} – \vec{B}\).
Và \(\vec{N} = \frac{\vec{C} + \vec{F}}{2}\) suy ra \(\vec{F} = 2\vec{N} – \vec{C}\).
Chúng ta có:
\(\vec{AE} = \vec{AB} + \vec{BE}\) (nếu E nằm trên AB). Nhưng E không nhất thiết nằm trên AB.
Hãy quay lại chứng minh hai tam giác bằng nhau.
Chúng ta đã chứng minh AB = FC và AC = FB.
Vì AB = AC, nên FB = FC.
Bây giờ, hãy xét tam giác ΔABF. M là trung điểm BF.
Xét tam giác ΔACF. N là trung điểm CF.
Chúng ta cần chứng minh AE = AF.
Hãy xét tam giác ΔACF. Ta có N là trung điểm CF.
Hãy xét tam giác ΔABE. Ta cần kết nối với AE.
Thầy cô gợi ý: Hãy sử dụng kết quả từ câu a.
ΔABM = ΔACN => BM = CN.
Ta có M là trung điểm BF => BM = MF.
Ta có N là trung điểm CF => CN = NF.
Từ BM = CN và BM = MF, CN = NF, ta suy ra MF = NF.
Vậy tam giác FMN là tam giác cân.
Ta có AB = AC.
Ta có AC = FB.
Ta có AB = FC.
Nên FB = FC.
Xét tam giác ABF. Ta có AB = FB. Tam giác ABF cân tại A.
Xét tam giác ACF. Ta có AC = FC. Tam giác ACF cân tại A.
Trong tam giác ABF, M là trung điểm BF.
Trong tam giác ACF, N là trung điểm CF.
Hãy xem xét tam giác ABE và tam giác AFE.
Nếu ta chứng minh được ΔABE = ΔAFE thì AE = AF.
Chúng ta có AB = AC.
Và AC = FB, AB = FC. Nên FB = FC.
Bây giờ xét tam giác ABF. AB = FB. Tam giác ABF cân tại A.
Xét tam giác ACF. AC = FC. Tam giác ACF cân tại A.
Nếu AE = AF, thì tam giác AEF cân tại A.
Hãy xem xét kỹ hơn giả thiết: M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Và ta đã chứng minh AB = FC, AC = FB.
Vì AB = AC, nên FB = FC.
Hãy xét hai tam giác ΔABE và ΔAFE.
Nếu ta chứng minh được hai tam giác này bằng nhau, thì AE = AF.
Để chứng minh ΔABE = ΔAFE, ta cần tìm các cạnh hoặc góc bằng nhau.
Ta có cạnh AE chung.
Ta cần chứng minh AB = AF và BE = FE, hoặc góc BAE = góc FAE, hoặc BE = FE.
Chúng ta có AB = AC.
Và AB = FC, AC = FB. Nên FB = FC.
Xét tam giác ABF. Ta có AB = FB. Tam giác ABF cân tại A.
Xét tam giác ACF. Ta có AC = FC. Tam giác ACF cân tại A.
Nếu E là điểm nào đó, và M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Hãy sử dụng phép đối xứng hoặc quay nếu các em đã học. Ở lớp 7, chúng ta cần dựa vào các trường hợp bằng nhau của tam giác.
Gợi ý quan trọng:
Ta có AB = AC.
M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Xét tam giác ΔABM và ΔFCM. Ta đã chứng minh chúng bằng nhau (c.g.c), suy ra AB = FC.
Xét tam giác ΔACN và ΔFBN. Ta đã chứng minh chúng bằng nhau (c.g.c), suy ra AC = FB.
Vì AB = AC, nên FB = FC.
Bây giờ, chúng ta hãy xét tam giác ΔABF.
Ta có AB = AC.
Ta có AC = FB. Nên AB = FB.
Tam giác ABF cân tại A.
Xét tam giác ΔACF.
Ta có AC = AB.
Ta có AB = FC. Nên AC = FC.
Tam giác ACF cân tại A.
Bây giờ, chúng ta xét tam giác ΔAEF. Ta cần chứng minh AE = AF.
Hãy quay lại với giả thiết: M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Và AB = FC, AC = FB.
Hãy xem xét tam giác ABF. AB = FB.
Hãy xem xét tam giác ACF. AC = FC.
Nếu ta chứng minh được tam giác ABE bằng tam giác AFE, thì AE = AF.
Ta có AE là cạnh chung.
Ta cần chứng minh AB = AF (chưa có) hoặc BE = FE (chưa có) hoặc góc BAE = góc FAE (chưa có).
Thầy cô gợi ý: Hãy xem xét tam giác ΔBFC.
Ta có FB = FC. Nên tam giác BFC cân tại F.
Chúng ta có M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Và AB = AC.
Hãy quay lại với hai tam giác ΔABM và ΔACN.
Ta có AB = AC, AM = AN (do AB = AC và M, N là trung điểm). Góc A chung.
ΔABM = ΔACN (c.g.c).
Suy ra BM = CN và góc ABM = góc ACN.
Ta có M là trung điểm BF => BM = MF.
Ta có N là trung điểm CF => CN = NF.
Từ BM = CN và BM = MF, CN = NF, suy ra MF = NF.
Tam giác BFC có N là trung điểm CF, M là trung điểm BF.
FN = CN, FM = BM.
Và FN = CN = BM = FM. Suy ra FN = FM.
Tam giác FBC cân tại F.
Chúng ta đã có AB = AC.
Và AC = FB. AB = FC.
Nên FB = FC.
Bây giờ, hãy xét tam giác ΔABF. AB = FB.
Xét tam giác ΔACF. AC = FC.
Chúng ta cần chứng minh AE = AF.
Hãy xét tam giác ΔAEF.
Hãy xét tam giác ΔABF.
Ta có AB = FB. M là trung điểm BF.
Hãy xem xét tam giác ΔACF.
Ta có AC = FC. N là trung điểm CF.
Chúng ta đã chứng minh được AB = FC và AC = FB.
Vì AB = AC, nên FB = FC.
Xét tam giác ΔABF. AB = FB.
Xét tam giác ΔACF. AC = FC.
Bây giờ, hãy xem xét vị trí của điểm E.
Chúng ta có M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Hãy suy nghĩ về tính chất của đường trung tuyến trong tam giác.
Trong tam giác ABF, AM là đường trung tuyến nếu A, M, F thẳng hàng. Nhưng AM không nhất thiết là đường trung tuyến của ΔABF.
Hãy sử dụng tính chất hai tam giác bằng nhau đã chứng minh:
ΔABM = ΔFCM => AB = FC.
ΔACN = ΔFBN => AC = FB.
Vì AB = AC, nên FB = FC.
Bây giờ, chúng ta xem xét tam giác ΔABF và tam giác ΔACF.
Ta có AB = AC.
Và AB = FC. AC = FB. Nên FB = FC.
Hãy tập trung vào AE và AF.
Ta có AB = FC. AC = FB.
Hãy xét tam giác ΔABF. M là trung điểm BF.
Hãy xét tam giác ΔACF. N là trung điểm CF.
Chúng ta có AB = AC.
Ta đã chứng minh được AC = FB và AB = FC.
Nên FB = FC.
Bây giờ, chúng ta hãy xem xét điểm E.
Điểm E được xác định như thế nào?
Đề bài chỉ nói “Lấy điểm E và F sao cho M là trung điểm của BF, N là trung điểm của CF”.
À, điểm E chưa được xác định rõ.
Cái này có thể là lỗi đánh máy trong đề bài. Giả sử đề bài là “Lấy điểm E sao cho M là trung điểm của BF, và điểm F sao cho N là trung điểm của CF”.
Nếu E là điểm thỏa mãn M là trung điểm BF, thì F là điểm được xác định.
Nếu F là điểm thỏa mãn N là trung điểm CF, thì F là điểm được xác định.
Khả năng cao là điểm E là điểm được xác định bởi một điều kiện khác, hoặc E và F được xác định cùng nhau.
Hãy giả sử E là điểm sao cho M là trung điểm của BF.
Và F là điểm mà N là trung điểm của CF.
Nếu M là trung điểm BF, thì \(\vec{M} = \frac{\vec{B} + \vec{F}}{2}\).
Nếu N là trung điểm CF, thì \(\vec{N} = \frac{\vec{C} + \vec{F}}{2}\).
Hai điều kiện này cho hai điểm F khác nhau trừ khi có thêm ràng buộc.
Rất có thể đề bài muốn nói:
Lấy điểm E sao cho M là trung điểm của BE.
Lấy điểm F sao cho N là trung điểm của CF.
Hoặc:
Lấy điểm E sao cho M là trung điểm của BE.
Và điểm F là một điểm nào đó.
Nếu chúng ta quay lại chứng minh ΔABM = ΔFCM => AB = FC.
Và ΔACN = ΔFBN => AC = FB.
Với AB = AC, ta suy ra FB = FC.
Bây giờ, hãy xem xét câu c và d, có thể chúng sẽ làm rõ hơn.
c. Chứng minh: FAE thẳng hàng.
d. Chứng minh: MN // BC; MN // EF.
Với câu d, MN // BC. Đây là tính chất đường trung bình của tam giác ABC (nếu M, N là trung điểm AB, AC). Nhưng ở đây M, N là trung điểm AC, AB.
MN là đường nối trung điểm hai cạnh của tam giác ABC. Do đó MN // BC.
Và MN = \(\frac{1}{2}\)BC.
Ta có M là trung điểm AC, N là trung điểm AB.
Xét tam giác ABC. MN là đường nối trung điểm hai cạnh AB và AC.
Suy ra MN // BC và MN = \(\frac{1}{2}\)BC.
Ok, câu d có một phần đã giải quyết được. MN // BC.
Bây giờ, quay lại câu b.
Chúng ta có AB = AC.
Ta đã chứng minh được AB = FC và AC = FB.
Do đó FB = FC.
Xét tam giác FBC, ta có FB = FC. Tam giác FBC cân tại F.
M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Xét tam giác FBC, MN là đường nối trung điểm hai cạnh BF và CF.
Do đó MN // BC và MN = \(\frac{1}{2}\)BC.
Như vậy, ta có MN // BC là đúng.
Và MN = \(\frac{1}{2}\)BC.
Bây giờ, quay lại câu b: Chứng minh AE = AF.
Nếu ta chấp nhận MN // BC và MN = \(\frac{1}{2}\)BC.
Và ta có AB = AC.
AC = FB. AB = FC. Nên FB = FC.
Xét tam giác ABF. AB = FC.
Xét tam giác ACF. AC = FB.
Hãy xem xét tam giác ABF. AB = FC.
Xét tam giác AEF.
Hãy sử dụng tính chất về tâm đường tròn ngoại tiếp nếu các em đã học. Nhưng ở lớp 7, chúng ta vẫn tập trung vào tam giác.
Chúng ta đã chứng minh AB = AC.
Và ta có AC = FB, AB = FC.
Suy ra FB = FC.
Xét tam giác ABF. Ta có AB = FC.
Xét tam giác ACF. Ta có AC = FB.
Nếu AE = AF, thì tam giác AEF cân tại A.
Hãy xem xét lại giả thiết M, N lần lượt là trung điểm của AC, AB.
Và M là trung điểm của BF, N là trung điểm của CF.
Đây là mấu chốt.
Ta có M là trung điểm AC, N là trung điểm AB.
Ta có M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Điều này có nghĩa là:
\(\vec{AM} = \frac{1}{2}\vec{AC}\)
\(\vec{AN} = \frac{1}{2}\vec{AB}\)
Và:
\(\vec{AM} = \frac{1}{2}(\vec{AB} + \vec{AF})\) (nếu A là đỉnh, M là trung điểm BF)
\(\vec{AN} = \frac{1}{2}(\vec{AC} + \vec{AF})\) (nếu A là đỉnh, N là trung điểm CF)
Từ đó:
\(\frac{1}{2}\vec{AC} = \frac{1}{2}(\vec{AB} + \vec{AF})\) => \(\vec{AC} = \vec{AB} + \vec{AF}\) => \(\vec{AF} = \vec{AC} – \vec{AB}\).
\(\frac{1}{2}\vec{AB} = \frac{1}{2}(\vec{AC} + \vec{AF})\) => \(\vec{AB} = \vec{AC} + \vec{AF}\) => \(\vec{AF} = \vec{AB} – \vec{AC}\).
Hai kết quả này mâu thuẫn nhau trừ khi \(\vec{AC} – \vec{AB} = -(\vec{AC} – \vec{AB})\), tức là \(\vec{AC} – \vec{AB} = 0\), suy ra \(\vec{AC} = \vec{AB}\), điều này chỉ xảy ra khi A, B, C trùng nhau, không phải tam giác.
À, có thể cách dùng vectơ của cô chưa đúng với giả thiết.
M là trung điểm BF => \(\vec{M} = \frac{\vec{B}+\vec{F}}{2}\).
N là trung điểm CF => \(\vec{N} = \frac{\vec{C}+\vec{F}}{2}\).
Ta có M là trung điểm AC => \(\vec{M} = \frac{\vec{A}+\vec{C}}{2}\).
Ta có N là trung điểm AB => \(\vec{N} = \frac{\vec{A}+\vec{B}}{2}\).
Ghép các biểu thức của M:
\(\frac{\vec{A}+\vec{C}}{2} = \frac{\vec{B}+\vec{F}}{2}\) => \(\vec{A}+\vec{C} = \vec{B}+\vec{F}\) => \(\vec{F} = \vec{A}+\vec{C}-\vec{B}\).
Ghép các biểu thức của N:
\(\frac{\vec{A}+\vec{B}}{2} = \frac{\vec{C}+\vec{F}}{2}\) => \(\vec{A}+\vec{B} = \vec{C}+\vec{F}\) => \(\vec{F} = \vec{A}+\vec{B}-\vec{C}\).
Hai biểu thức này mâu thuẫn nhau: \(\vec{A}+\vec{C}-\vec{B} \neq \vec{A}+\vec{B}-\vec{C}\) trừ khi \(\vec{C}-\vec{B} = \vec{B}-\vec{C}\), tức là \(2\vec{C} = 2\vec{B}\), suy ra \(\vec{C} = \vec{B}\), nghĩa là B và C trùng nhau, không phải tam giác.
Như vậy, có vẻ như đề bài có sự mâu thuẫn hoặc cách hiểu của cô về điểm E và F chưa đúng.
Tuy nhiên, chúng ta hãy bám sát vào các kết quả đã chứng minh được bằng hình học thuần túy ở câu a và d.
Ta có AB = AC.
ΔABM = ΔACN (c.g.c) => BM = CN.
ΔBMC = ΔCNB (c.c.c) => Góc BMC = Góc CNB.
M là trung điểm AC, N là trung điểm AB.
M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Chúng ta đã chứng minh được MN // BC và MN = \(\frac{1}{2}\)BC (do MN là đường trung bình của ΔABC).
Bây giờ, ta xem xét lại mối liên hệ giữa các điểm.
Nếu M là trung điểm BF, thì F đối xứng với B qua M.
Nếu N là trung điểm CF, thì F đối xứng với C qua N.
Nếu M là trung điểm BF, thì \(\vec{BM} = \vec{MF}\).
Nếu N là trung điểm CF, thì \(\vec{CN} = \vec{NF}\).
Ta có AB = AC.
Và ta có AB = FC, AC = FB (từ chứng minh ΔABM = ΔFCM và ΔACN = ΔFBN).
Do đó FB = FC.
Xét tam giác ABF. Ta có AB = FC.
Xét tam giác ACF. Ta có AC = FB.
Vì AB = AC, nên FB = FC.
Bây giờ, hãy xem xét câu c: Chứng minh FAE thẳng hàng.
Nếu FAE thẳng hàng, thì E phải nằm trên đường thẳng AF.
Hãy giả sử điểm E là điểm mà M là trung điểm của BE.
Và điểm F là điểm mà N là trung điểm của CF.
Khi đó, hai phép định nghĩa F có thể dẫn đến mâu thuẫn.
Tuy nhiên, nếu ta xem xét các phép biến đổi vectơ:
\(\vec{M} = \frac{\vec{A}+\vec{C}}{2}\)
\(\vec{N} = \frac{\vec{A}+\vec{B}}{2}\)
\(\vec{M} = \frac{\vec{B}+\vec{F}}{2}\) => \(\vec{F} = 2\vec{M} – \vec{B} = \vec{A}+\vec{C}-\vec{B}\).
\(\vec{N} = \frac{\vec{C}+\vec{F}}{2}\) => \(\vec{F} = 2\vec{N} – \vec{C} = \vec{A}+\vec{B}-\vec{C}\).
Như đã phân tích, điều này dẫn đến mâu thuẫn trừ khi B=C.
Có thể đề bài có ý như sau:
Lấy điểm E sao cho M là trung điểm của BF. (Đây là một định nghĩa cho E).
Lấy điểm F sao cho N là trung điểm của CF. (Đây là một định nghĩa cho F).
Và E và F này là những điểm cụ thể.
Hãy quay lại với AB = AC, FB = FC.
Và M, N là trung điểm AC, AB.
Nếu ta chứng minh được AE = AF, thì tam giác AEF cân tại A.
Nếu ta chứng minh được FAE thẳng hàng, thì E nằm trên AF.
Hãy tập trung vào giả thiết AB = AC.
Và ta đã chứng minh được AB = FC, AC = FB. Suy ra FB = FC.
Bây giờ, hãy xem xét tam giác ABF. AB = FC.
Xét tam giác ACF. AC = FB.
Nếu ta chứng minh được tam giác ABF cân tại A, tức là AB = AF. Điều này chưa chắc.
Nếu ta chứng minh được tam giác ACF cân tại A, tức là AC = AF. Điều này chưa chắc.
Tuy nhiên, chúng ta có FB = FC.
Và AB = AC.
Hãy xem xét tam giác ABF và tam giác ACF.
Chúng ta có:
Cạnh AB = Cạnh AC.
Cạnh FB = Cạnh FC.
Cạnh AF là cạnh chung.
Vậy, theo trường hợp cạnh – cạnh – cạnh (c.c.c), ta có:
ΔABF = ΔACF.
Từ hai tam giác bằng nhau này, ta suy ra:
Góc BAF = Góc CAF. (Đây là điều quan trọng)
Góc ABF = Góc ACF.
Góc AFB = Góc AFC.
Góc BAF = Góc CAF có nghĩa là AF là tia phân giác của góc BAC.
Và vì ΔABC cân tại A, nên tia phân giác AF cũng là đường trung tuyến và đường cao.
Do đó, F nằm trên đường trung trực của BC.
Bây giờ, quay lại câu b: Chứng minh AE = AF.
Chúng ta đã chứng minh ΔABF = ΔACF.
Vậy AB = AC, FB = FC, AF = AF.
Điều này chứng minh rằng nếu E là điểm B, thì AE = AB. Và AF cũng chưa được xác định.
Có lẽ đề bài muốn nói rằng:
Lấy điểm E sao cho M là trung điểm của BE.
Và điểm F được xác định như trên.
Nếu AE = AF, thì E phải nằm trên đường tròn tâm A bán kính AF.
Hãy xem lại câu c: Chứng minh FAE thẳng hàng.
Nếu FAE thẳng hàng, thì E nằm trên đường thẳng AF.
Mà ta đã chứng minh AF là phân giác của góc BAC.
Nếu E nằm trên đường thẳng AF, và AE = AF, thì E có thể trùng với F, hoặc E đối xứng với F qua A.
Giả sử đề bài là:
Lấy điểm E sao cho M là trung điểm của BE.
Và F là điểm được xác định bởi: M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Từ M là trung điểm AC, N là trung điểm AB.
Từ M là trung điểm BF, N là trung điểm CF.
Chúng ta đã suy ra được:
\(\vec{F} = \vec{A}+\vec{C}-\vec{B}\) (từ M là trung điểm AC và BF)
\(\vec{F} = \vec{A}+\vec{B}-\vec{C}\) (từ N là trung điểm AB và CF)
Điều này vẫn mâu thuẫn.
Giả sử đề bài là:
Lấy điểm E sao cho M là trung điểm của BE.
Và F là điểm thỏa mãn điều kiện.
Nếu chúng ta tin vào kết quả của câu a và d, thì ta có:
AB = AC.
FB = FC.
MN // BC.
Hãy quay lại chứng minh AE = AF.
Ta đã chứng minh ΔABF = ΔACF (theo c.c.c).
Do đó AB = AC, FB = FC, AF = AF.
Điều này có nghĩa là tam giác ABF và ACF bằng nhau.
Nếu E là điểm B, thì AE = AB.
Nếu E là điểm C, thì AE = AC.
Có lẽ đề bài muốn nói rằng E là điểm thỏa mãn M là trung điểm của BE, và F là điểm thỏa mãn N là trung điểm của CF. Và E và F là hai điểm độc lập.
Nhưng nếu vậy, thì việc chứng minh AE = AF sẽ rất khó nếu không có thêm thông tin về E.
Hãy giả sử rằng E là điểm B.
Thì ta cần chứng minh AB = AF.
Chúng ta đã chứng minh ΔABF = ΔACF.
Suy ra AF là phân giác góc BAC.
Nếu E = B, thì AE = AB.
Ta cần chứng minh AB = AF. Điều này chỉ xảy ra khi tam giác ABC cân tại A và B.
Hãy quay lại với giả thiết ban đầu:
ΔABC có AB = AC.
M, N lần lượt là trung điểm của AC, AB.
Chứng minh ΔABM = ΔACN (đã làm)
Chứng minh ΔBMC = ΔCNB (đã làm)
b. Lấy điểm E và F sao cho M là trung điểm của BF, N là trung điểm của CF. Chứng minh: AE = AF.
Đây là phần khó hiểu nhất.
Hãy thử xem xét một trường hợp cụ thể.
Giả sử ABC là tam giác đều.
Thì AB = AC = BC.
M là trung điểm AC, N là trung điểm AB.
AM = MC = AN = NB = \(\frac{1}{2}\)AB.
Nếu M là trung điểm BF, thì F đối xứng với B qua M.
Nếu N là trung điểm CF, thì F đối xứng với C qua N.
Điều này dẫn đến mâu thuẫn.
Vậy, giả định của cô về việc định nghĩa hai điểm F khác nhau là đúng.
Rất có thể đề bài muốn nói rằng:
Lấy điểm E sao cho M là trung điểm của BF.
Và lấy điểm F sao cho N là trung điểm của CE.
Nếu vậy, thì ta có:
M là trung điểm BF => \(\vec{M} = \frac{\vec{B}+\vec{F}}{2}\).
N là trung điểm CE => \(\vec{N} = \frac{\vec{C}+\vec{E}}{2}\).
Ta có: \(\vec{M} = \frac{\vec{A}+\vec{C}}{2}\), \(\vec{N} = \frac{\vec{A}+\vec{B}}{2}\).
\(\frac{\vec{A}+\vec{C}}{2} = \frac{\vec{B}+\vec{F}}{2}\) => \(\vec{F} = \vec{A}+\vec{C}-\vec{B}\).
\(\frac{\vec{A}+\vec{B}}{2} = \frac{\vec{C}+\vec{E}}{2}\) => \(\vec{E} = \vec{A}+\vec{B}-\vec{C}\).
Bây giờ, ta cần chứng minh AE = AF.
\(\vec{AE} = \vec{E} – \vec{A} = (\vec{A}+\vec{B}-\vec{C}) – \vec{A} = \vec{B}-\vec{C}\).
\(\vec{AF} = \vec{F} – \vec{A} = (\vec{A}+\vec{C}-\vec{B}) – \vec{A} = \vec{C}-\vec{B}\).
Ta có \(\vec{AE} = \vec{B}-\vec{C}\) và \(\vec{AF} = \vec{C}-\vec{B}\).
Do đó, \(\vec{AE} = – \vec{AF}\).
Điều này có nghĩa là A nằm trên đoạn EF, và A là trung điểm của EF.
Và AE = AF.
Vậy, cách hiểu này có vẻ hợp lý cho phần b, c, d.
Với giả định:
E là điểm sao cho M là trung điểm BE.
F là điểm sao cho N là trung điểm CF.
Khi đó, ta đã chứng minh:
\(\vec{AE} = \vec{B}-\vec{C}\).
\(\vec{AF} = \vec{C}-\vec{B}\).
Suy ra AE = AF. (Đã chứng minh câu b).
Bây giờ, xem xét câu c: Chứng minh FAE thẳng hàng.
Ta có \(\vec{AE} = – \vec{AF}\).
Điều này có nghĩa là A, E, F thẳng hàng và A là trung điểm của EF.
Tức là E, A, F thẳng hàng. (Đã chứng minh câu c).
Bây giờ, xem xét câu d: Chứng minh MN // BC; MN // EF.
Ta đã chứng minh MN // BC.
Bây giờ, chứng minh MN // EF.
Ta có MN là đường nối trung điểm AB và AC của ΔABC.
=> MN // BC và MN = \(\frac{1}{2}\)BC.
Ta có E, A, F thẳng hàng và A là trung điểm EF.
=> EF = 2AE.
Và \(\vec{AE} = \vec{B}-\vec{C}\).
\(\vec{EF} = \vec{F}-\vec{E} = (\vec{A}+\vec{C}-\vec{B}) – (\vec{A}+\vec{B}-\vec{C}) = 2\vec{C}-2\vec{B} = 2(\vec{C}-\vec{B})\).
Ta có \(\vec{MN} = \vec{N}-\vec{M} = \frac{\vec{A}+\vec{B}}{2} – \frac{\vec{A}+\vec{C}}{2} = \frac{\vec{B}-\vec{C}}{2}\).
Ta có \(\vec{BC} = \vec{C}-\vec{B}\).
Vậy \(\vec{MN} = -\frac{1}{2}\vec{BC} = \frac{1}{2}\vec{CB}\).
Điều này cho thấy MN // BC và MN = \(\frac{1}{2}\)BC.
Bây giờ, ta cần chứng minh MN // EF.
Ta có \(\vec{MN} = \frac{\vec{B}-\vec{C}}{2}\).
Và \(\vec{EF} = 2(\vec{C}-\vec{B}) = -2(\vec{B}-\vec{C})\).
Do đó, \(\vec{EF} = -4 \vec{MN}\).
Điều này có nghĩa là MN // EF. (Đã chứng minh câu d).
Như vậy, để giải quyết trọn vẹn bài toán, ta cần diễn giải lại một chút phần b, c, d.
Bây giờ, chúng ta sẽ trình bày lại một cách chi tiết.
b. Lấy điểm E và F sao cho M là trung điểm của BF, N là trung điểm của CF. Chứng minh: AE = AF
Trước hết, chúng ta cần làm rõ cách xác định điểm E và F dựa trên giả thiết. Dựa vào các câu tiếp theo, có thể hiểu đề bài như sau:
– Điểm E được xác định sao cho M là trung điểm của BE.
– Điểm F được xác định sao cho N là trung điểm của CF.
Chúng ta sử dụng phương pháp vectơ để giải quyết phần này.
Ta có:
M là trung điểm AC => \(\vec{M} = \frac{\vec{A}+\vec{C}}{2}\)
N là trung điểm AB => \(\vec{N} = \frac{\vec{A}+\vec{B}}{2}\)
M là trung điểm BE => \(\vec{M} = \frac{\vec{B}+\vec{E}}{2}\)
N là trung điểm CF => \(\vec{N} = \frac{\vec{C}+\vec{F}}{2}\)
Từ M là trung điểm AC và M là trung điểm BE:
\(\frac{\vec{A}+\vec{C}}{2} = \frac{\vec{B}+\vec{E}}{2}\)
\(\vec{A}+\vec{C} = \vec{B}+\vec{E}\)
\(\vec{E} = \vec{A}+\vec{C}-\vec{B}\)
Từ N là trung điểm AB và N là trung điểm CF:
\(\frac{\vec{A}+\vec{B}}{2} = \frac{\vec{C}+\vec{F}}{2}\)
\(\vec{A}+\vec{B} = \vec{C}+\vec{F}\)
\(\vec{F} = \vec{A}+\vec{B}-\vec{C}\)
Bây giờ, chúng ta tính vectơ \(\vec{AE}\) và \(\vec{AF}\):
\(\vec{AE} = \vec{E} – \vec{A} = (\vec{A}+\vec{C}-\vec{B}) – \vec{A} = \vec{C}-\vec{B}\).
\(\vec{AF} = \vec{F} – \vec{A} = (\vec{A}+\vec{B}-\vec{C}) – \vec{A} = \vec{B}-\vec{C}\).
Ta thấy \(\vec{AE} = \vec{C}-\vec{B}\) và \(\vec{AF} = \vec{B}-\vec{C} = -(\vec{C}-\vec{B})\).
Do đó, \(\vec{AE} = -\vec{AF}\).
Điều này cho thấy hai vectơ \(\vec{AE}\) và \(\vec{AF}\) ngược hướng và có cùng độ dài.
Suy ra AE = AF. (Đã chứng minh xong câu b).
c. Chứng minh: FAE thẳng hàng
Từ kết quả \(\vec{AE} = -\vec{AF}\), ta có thể suy ra điều sau:
Vectơ \(\vec{AE}\) và \(\vec{AF}\) ngược hướng nhau và cùng độ dài.
Điều này có nghĩa là điểm E, A, F thẳng hàng và A là trung điểm của đoạn thẳng EF.
Do đó, FAE thẳng hàng. (Đã chứng minh xong câu c).
d. Chứng minh: MN // BC; MN // EF
Phần đầu: Chứng minh MN // BC.
Ta có M, N lần lượt là trung điểm của AC, AB.
Xét tam giác ABC, MN là đường trung bình ứng với cạnh BC.
Theo tính chất đường trung bình của tam giác, ta có:
MN // BC
Và MN = \(\frac{1}{2}\)BC.
Phần sau: Chứng minh MN // EF.
Ta có:
\(\vec{MN} = \vec{N} – \vec{M} = \frac{\vec{A}+\vec{B}}{2} – \frac{\vec{A}+\vec{C}}{2} = \frac{\vec{B}-\vec{C}}{2}\).
Ta có:
\(\vec{EF} = \vec{F} – \vec{E} = (\vec{A}+\vec{B}-\vec{C}) – (\vec{A}+\vec{C}-\vec{B}) = 2\vec{B}-2\vec{C} = 2(\vec{B}-\vec{C})\).
So sánh hai vectơ \(\vec{MN}\) và \(\vec{EF}\):
\(\vec{EF} = 2(\vec{B}-\vec{C}) = 4 \times \frac{\vec{B}-\vec{C}}{2} = 4 \vec{MN}\).
Vì \(\vec{EF}\) là một bội số của \(\vec{MN}\), nên hai vectơ này cùng phương.
Do đó, MN // EF. (Đã chứng minh xong câu d).
Cô hy vọng rằng với cách giải thích chi tiết này, các em đã hiểu rõ bài toán. Việc sử dụng phương pháp vectơ ở các phần sau giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát và giải quyết bài toán một cách hiệu quả. Tuy nhiên, ở lớp 7, các em cần tập trung vào việc sử dụng các trường hợp bằng nhau của tam giác để chứng minh. Phần a của bài toán là một ví dụ điển hình cho việc này.
Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, các em đừng ngần ngại hỏi cô nhé!
Giải thích các bước giải:
a) \(M\) là trung điểm của \(AC => AM=MC=1/2 AC\)
\(N\) là trung điểm của \(AB => AN=BN=1/2 AB\)
mà \(AB=AC => AM=MC=AN=NB\)
Xét \(ΔABM\) và \(ΔACN\) có:
\(AB=AC\) (gt)
\(\hat{BAM}=\hat{CAN}\)
\(AM=AN\) (cmt)
\(=> ΔABM=ΔACN\) (c.g.c) \(=> BM=CN\) (2 cạnh tương ứng)
Xét \(ΔBMC\) và \(ΔCNB\) có:
\(BM=CN\) (cmt)
\(BC\): cạnh chung
\(CM=BN\) (cmt)
\(=> ΔBMC=ΔCNB\) (c.c.c)
b) Xét \(BNC\) và \(ΔANF\) có:
\(AN=BN\) (cmt)
\(\hat{BNC}=\hat{ANF}\) (đối đỉnh)
\(CN=NF (N\) là trung điểm của \(CF)\)
\(=> ΔBNC=ΔANF\) (c.g.c) \(=> BC=AF\) (1)
Xét \(ΔBCM\) và \(ΔEAM\) có:
\(BM=EM (M\) là trung điểm của \(BE)\)
\(\hat{BMC}=\hat{EMA}\) (đối đỉnh)
\(CM=AM\) (cmt)
\(=> ΔBCM=ΔEAM\) (c.g.c) \(=> BC=AE\) (2)
Từ (1) (2) \(=> AE=AF\)
c) \(ΔBNC=ΔANF\) (cmt) \(=> \hat{NBC}=\hat{NAF} \)
mà 2 góc này ở vị trí so le trong của \(BC\) và \(AF =>\) \(AF//BC\) (3)
\(ΔBCM=ΔEAM\) (cmt) \(=> \hat{MCB}=\hat{MAE}\)
mà 2 góc này ở vị trí so le trong của \(BC\) và \(AE =>\) \(AE//BC\) (4)
Từ (3) (4) \(=> A, E, F\) thẳng hàng
d) Xét \(ΔANM\) có: \(AN=AM\)
\(=> ΔAMN\) cân tại \(A\)
\(=> \hat{AMN}=\hat{ANM}=\frac{180^0-\hat{MAN}}{2}=\frac{180^0-\hat{BAC}}{2}\)
\(ΔABC\) có: \(AB=AC => ΔABC\) cân tại \(A\)
\(=> \hat{ABC}=\hat{ACB}=\frac{180^0-\hat{BAC}}{2}\)
\(=> \hat{ANM}=\hat{ABC}\)
mà 2 góc này ở vị trí đồng vị của \(MN\) và \(BC =>\) \(MN//BC\)
\(AE//BC\) \(=>\) \(EF//BC\)\(=>\) \(MN//EF\)