Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Có bao nhiêu số nguyên m để phương trình log4(x^2) + log2(4-x)=log2(m) có 3 nghi…

Có bao nhiêu số nguyên m để phương trình log4(x^2) + log2(4-x)=log2(m) có 3 nghi…

Có bao nhiêu số nguyên m để phương trình log4(x^2) + log2(4-x)=log2(m) có 3 nghiệm thực phân biệt??
Hỏi bởi: Trần Ái Ly
3 câu trả lời
▲ 7✔
Chào các em! Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau chinh phục một bài toán thú vị về phương trình logarit, nằm trong chương trình Toán lớp 12 của chúng ta. Bài toán yêu cầu tìm số lượng giá trị nguyên của tham số m để phương trình cho trước có đúng 3 nghiệm thực phân biệt.

Chúng ta bắt đầu nhé!

Đề bài của chúng ta là: Có bao nhiêu số nguyên m để phương trình log4(x^2) + log2(4-x) = log2(m) có 3 nghiệm thực phân biệt?

Trước hết, chúng ta cần xác định điều kiện xác định của phương trình.
* Đối với log4(x^2): cơ số 4 > 0 và 4 khác 1. Biểu thức trong logarit là x^2, nên ta cần x^2 > 0, tức là x khác 0.
* Đối với log2(4-x): cơ số 2 > 0 và 2 khác 1. Biểu thức trong logarit là 4-x, nên ta cần 4-x > 0, tức là x < 4. * Đối với log2(m): cơ số 2 > 0 và 2 khác 1. Biểu thức trong logarit là m, nên ta cần m > 0.

Vậy, điều kiện xác định chung của phương trình là: x khác 0, x < 4 và m > 0.

Bây giờ, chúng ta sẽ biến đổi phương trình để đưa về dạng đơn giản hơn.

Ta có log4(x^2) = log(2^2)(x^2). Sử dụng công thức đổi cơ số loga(b^n) = n loga(b) và log(a^n)(b) = 1/n loga(b), ta có:
log4(x^2) = log(2^2)(x^2) = 1/2 * log2(x^2).

Tiếp theo, ta sử dụng công thức loga(b^n) = n loga(b). Tuy nhiên, ở đây là log2(x^2), với x có thể âm.
Nếu x > 0, thì log2(x^2) = 2 log2(x).
Nếu x < 0, thì x^2 > 0, nhưng ta không thể viết là 2 log2(x) vì log2(x) không xác định. Thay vào đó, ta có thể viết log2(x^2) = log2((-x)^2) = 2 log2(-x), vì -x > 0 khi x < 0. Nhìn chung, ta có thể viết log2(x^2) = 2 log2(|x|). Do đó, log4(x^2) = 1/2 * (2 log2(|x|)) = log2(|x|). Bây giờ, thay vào phương trình ban đầu: log2(|x|) + log2(4-x) = log2(m) Sử dụng công thức loga(b) + loga(c) = loga(b*c): log2(|x| * (4-x)) = log2(m) Vì hàm số logarit là đơn ánh, nên ta có thể bỏ logarit hai vế: |x| * (4-x) = m Chúng ta cần tìm m nguyên dương sao cho phương trình |x| * (4-x) = m có đúng 3 nghiệm thực phân biệt, thỏa mãn điều kiện xác định x khác 0 và x < 4. Bây giờ, chúng ta sẽ xét hàm số f(x) = |x| * (4-x) và khảo sát sự biến thiên của nó trên miền xác định. Miền xác định là x < 4 và x khác 0. Chúng ta cần chia làm hai trường hợp cho |x|: Trường hợp 1: x > 0.
Trong trường hợp này, |x| = x. Điều kiện là 0 < x < 4. Hàm số trở thành f(x) = x * (4-x) = 4x - x^2. Đây là một parabol có bề lõm quay xuống, đỉnh tại x = -4/(2*(-1)) = 2. Giá trị của f(x) tại đỉnh là f(2) = 4*2 - 2^2 = 8 - 4 = 4. Tại x = 0 (không thuộc miền xét), f(0) = 0. Tại x = 4 (không thuộc miền xét), f(4) = 0. Trên khoảng (0, 4), hàm số f(x) đồng biến từ 0 lên 4 rồi nghịch biến từ 4 về 0. Cụ thể, f(x) tăng từ f(0)=0 đến f(2)=4, và giảm từ f(2)=4 về f(4)=0. Trường hợp 2: x < 0. Trong trường hợp này, |x| = -x. Điều kiện là x < 0. Hàm số trở thành f(x) = (-x) * (4-x) = -4x + x^2. Đây là một parabol có bề lõm quay lên. Để khảo sát, ta xem xét giới hạn: Khi x tiến về 0 từ bên trái (x -> 0-), f(x) -> 0.
Khi x tiến về âm vô cùng (x -> -∞), f(x) = x^2 – 4x. Ta có thể viết f(x) = x(x-4). Khi x âm rất lớn, cả x và x-4 đều âm, nên tích của chúng là dương và tiến ra dương vô cùng.

Bây giờ, chúng ta sẽ vẽ đồ thị của hàm số y = f(x) = |x|(4-x) trên miền xác định x < 4, x khác 0. * Với 0 < x < 4: đồ thị là một phần của parabol y = 4x - x^2, có đỉnh tại (2, 4). * Với x < 0: đồ thị là một phần của parabol y = x^2 - 4x. Để phương trình f(x) = m có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m (với m > 0) phải cắt đồ thị y = f(x) tại đúng 3 điểm phân biệt.

Hãy xem xét đồ thị của f(x):
* Phần đồ thị cho 0 < x < 4: Đây là một cung parabol lồi lên, với giá trị lớn nhất là 4 tại x=2. Nó đi qua (0,0) và (4,0) (nhưng không bao gồm hai điểm mút này). * Phần đồ thị cho x < 0: Đây là một nhánh của parabol y = x^2 - 4x. Khi x < 0, x^2 - 4x luôn dương. Giá trị nhỏ nhất của x^2 - 4x xảy ra tại x = -(-4)/(2*1) = 2, nhưng điều này không nằm trong miền x < 0. Trên miền x < 0, hàm số y = x^2 - 4x luôn có giá trị dương và tiến về dương vô cùng khi x tiến về âm vô cùng. Nó đi qua (0,0) nhưng không bao gồm điểm này. Để có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m phải cắt đồ thị tại 3 điểm. Quan sát đồ thị, chúng ta thấy rằng: * Nếu m = 4, đường thẳng y = 4 chỉ cắt phần parabol ứng với 0 < x < 4 tại 1 điểm (x=2). Phần đồ thị với x < 0 sẽ không cắt y = 4 nếu giá trị lớn nhất của nó (nếu có) nhỏ hơn 4. Tuy nhiên, phần đồ thị với x < 0 là x^2 - 4x, nó tăng dần về dương vô cùng. * Chúng ta cần 3 nghiệm phân biệt. Điều này có nghĩa là đường thẳng y = m sẽ cắt cả hai "nhánh" của đồ thị. Xét kỹ hơn đồ thị của f(x) = |x|(4-x): 1. Nhánh bên phải (0 < x < 4): f(x) = 4x - x^2. Giá trị từ 0 đến 4. 2. Nhánh bên trái (x < 0): f(x) = x^2 - 4x. Giá trị từ 0 đến dương vô cùng. Để có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m phải cắt: * Một lần ở nhánh bên phải (0 < x < 4). * Hai lần ở nhánh bên trái (x < 0). Điều này xảy ra khi m nằm trong một khoảng nhất định. Giá trị lớn nhất của nhánh bên phải là 4 (tại x=2). Nhánh bên trái (x^2 - 4x) bắt đầu từ 0 (không bao gồm) và tăng vô hạn. Hãy xem xét giá trị của f(x) khi x < 0: f(x) = x^2 - 4x. Để phương trình x^2 - 4x = m có hai nghiệm phân biệt khi x < 0, ta cần: x^2 - 4x - m = 0. Delta' = (-2)^2 - 1*(-m) = 4 + m. Để có hai nghiệm phân biệt, Delta' > 0, tức là 4 + m > 0, hay m > -4.
Vì m > 0 đã là điều kiện xác định, nên điều kiện này luôn thỏa.
Hai nghiệm của x^2 – 4x – m = 0 là x = (4 +/- sqrt(4+m))/2 = 2 +/- sqrt(4+m)/2.
Chúng ta cần cả hai nghiệm này đều nhỏ hơn 0.
Xét nghiệm thứ nhất: 2 + sqrt(4+m)/2. Vì sqrt(4+m)/2 luôn dương, nên 2 + sqrt(4+m)/2 luôn dương. Nghiệm này không bao giờ nhỏ hơn 0. Vậy là sai lầm ở đâu đó.

Chúng ta cần xem xét kỹ hơn về sự phân bố nghiệm của f(x) = m.
Vẽ đồ thị của y = |x|(4-x).
– Phần 1: 0 < x < 4, y = 4x - x^2. Đồ thị là một cung parabol đi từ (0,0) đến (4,0), đỉnh tại (2,4). - Phần 2: x < 0, y = x^2 - 4x. Đây là một nhánh của parabol y = x^2 - 4x. Đỉnh của parabol này là tại x = 2, y = -4. Tuy nhiên, ta chỉ xét x < 0. Khi x < 0, hàm số y = x^2 - 4x luôn dương. Giá trị nhỏ nhất của nó trên miền x < 0 không tồn tại, nhưng nó tiến về 0 khi x tiến về 0-. Để y = m có 3 nghiệm phân biệt, ta cần: 1. Một nghiệm trong khoảng (0, 4). 2. Hai nghiệm trong khoảng (-∞, 0). Điều này xảy ra khi đường thẳng y = m cắt cả hai phần của đồ thị. * Nhánh cho 0 < x < 4: Giá trị của f(x) trong khoảng này là (0, 4]. Nếu m = 4, ta có 1 nghiệm x=2. Nếu 0 < m < 4, ta có 2 nghiệm trong khoảng (0, 4). * Nhánh cho x < 0: f(x) = x^2 - 4x. Giá trị của f(x) trên miền này là (0, +∞). Để có 3 nghiệm phân biệt, ta cần đường thẳng y = m cắt phần đồ thị bên trái (x < 0) tại 2 điểm, và cắt phần đồ thị bên phải (0 < x < 4) tại 1 điểm. Điều này chỉ xảy ra khi m nằm trong một khoảng mà nó cắt nhánh x < 0 tại 2 điểm và cắt nhánh 0 < x < 4 tại 1 điểm. Xét lại đồ thị: - Với 0 < x < 4, hàm số f(x) = 4x - x^2 đi từ 0 lên 4 rồi xuống 0. - Với x < 0, hàm số f(x) = x^2 - 4x đi từ 0 (tiến dần) xuống đến một điểm nào đó rồi lên vô cùng. Ta cần xem xét điểm cực tiểu của nhánh x^2 - 4x. Tuy nhiên, x^2 - 4x có đỉnh tại x = 2, không thuộc miền x < 0. Trên miền x < 0, x^2 - 4x là một hàm đồng biến khi ta xét từ âm vô cùng đến 0. Khi x -> -∞, f(x) -> +∞.
Khi x -> 0-, f(x) -> 0.

Để phương trình có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m phải cắt nhánh x < 0 tại 2 điểm và cắt nhánh 0 < x < 4 tại 1 điểm. Điều này xảy ra khi m nằm trong khoảng (0, 4). Nếu 0 < m < 4, thì: - Đường thẳng y = m sẽ cắt nhánh 0 < x < 4 tại 2 điểm. - Đường thẳng y = m sẽ cắt nhánh x < 0 tại 2 điểm (vì nhánh này nhận giá trị từ 0 đến +∞). Vậy là có 4 nghiệm? Chúng ta cần xem lại điều kiện xác định. x khác 0, x < 4. Hãy vẽ đồ thị cẩn thận hơn. Đồ thị y = |x|(4-x): - Khi x >= 0: y = x(4-x) = 4x – x^2. Đây là parabol lõm xuống, đỉnh tại (2,4). Nó đi qua (0,0) và (4,0). Do điều kiện x < 4, ta chỉ xét đoạn từ (0,0) (không bao gồm) đến (4,0) (không bao gồm). - Khi x < 0: y = -x(4-x) = x^2 - 4x. Đây là parabol lõm lên. Đỉnh của parabol y = x^2 - 4x là tại x = 2, y = -4. Tuy nhiên, ta chỉ xét x < 0. Trên miền x < 0, hàm số y = x^2 - 4x luôn dương. Khi x tiến về âm vô cùng, y tiến về dương vô cùng. Khi x tiến về 0 từ bên trái, y tiến về 0. Để phương trình |x|(4-x) = m có 3 nghiệm thực phân biệt, đường thẳng y = m phải cắt đồ thị y = |x|(4-x) tại 3 điểm. Xem xét hình dạng đồ thị: - Phần 1 (0 < x < 4): Là một cung parabol từ (0,0) lên đỉnh (2,4) rồi xuống (4,0). - Phần 2 (x < 0): Là một nhánh của parabol x^2 - 4x, bắt đầu từ 0 (không bao gồm) và đi lên vô cùng. Để có 3 nghiệm: Đường thẳng y = m phải cắt phần thứ nhất tại 1 điểm VÀ cắt phần thứ hai tại 2 điểm. Hoặc cắt phần thứ nhất tại 2 điểm VÀ cắt phần thứ hai tại 1 điểm. Ta cần 3 nghiệm phân biệt. 1. Nếu 0 < m < 4: - Đường thẳng y = m cắt nhánh (0,4) tại 2 điểm. - Đường thẳng y = m cắt nhánh x < 0 tại 2 điểm (vì giá trị của nhánh này là (0, +∞)). Tổng cộng 4 nghiệm. 2. Nếu m = 4: - Đường thẳng y = 4 cắt nhánh (0,4) tại 1 điểm (x=2). - Đường thẳng y = 4 cắt nhánh x < 0 tại 1 điểm (giải x^2 - 4x = 4 => x^2 – 4x – 4 = 0. Delta = 16 – 4(-4) = 32 > 0. x = (4 +/- sqrt(32))/2 = 2 +/- 2*sqrt(2). Ta lấy nghiệm x = 2 – 2*sqrt(2) < 0). Tổng cộng 2 nghiệm. 3. Chúng ta cần tìm trường hợp có đúng 3 nghiệm. Điều này xảy ra khi một trong các giao điểm trùng nhau hoặc không thỏa mãn điều kiện. Hãy xem xét kỹ hơn giá trị của f(x) trên hai miền: Miền 1: 0 < x < 4. Giá trị của f(x) là (0, 4]. Miền 2: x < 0. Giá trị của f(x) là (0, +∞). Để có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m phải cắt đồ thị tại đúng 3 điểm. Điều này xảy ra khi đường thẳng y = m chạm vào "đỉnh" của một phần đồ thị và cắt phần còn lại một số lần phù hợp. Hãy xem xét tại x = 2, f(2) = 4. Khi m = 4, ta có 1 nghiệm x=2. Và ta cần tìm nghiệm âm cho x^2 - 4x = 4. Ta đã tìm được x = 2 - 2*sqrt(2) < 0. Vậy m = 4 cho 2 nghiệm. Chúng ta cần tìm m sao cho phương trình |x|(4-x) = m có 3 nghiệm phân biệt. Xem xét lại hình dạng đồ thị. - Nhánh bên phải (0 < x < 4): hàm số đi từ 0 lên đỉnh (2,4) rồi xuống 0. - Nhánh bên trái (x < 0): hàm số đi từ 0 xuống đến một giá trị nào đó rồi lên vô cùng. Ah, ta đã nhầm về nhánh bên trái. Nhánh bên trái là y = x^2 - 4x với x < 0. Xét hàm số g(x) = x^2 - 4x. Đạo hàm g'(x) = 2x - 4. Khi x < 0, g'(x) < -4, nên hàm số luôn nghịch biến trên (-∞, 0). Khi x tiến về âm vô cùng, g(x) tiến về +∞. Khi x tiến về 0 từ bên trái, g(x) tiến về 0. Vậy, trên miền x < 0, hàm số y = x^2 - 4x có các giá trị trong khoảng (0, +∞). Bây giờ, để có 3 nghiệm, đường thẳng y = m phải cắt đồ thị tại 3 điểm. - Nếu m = 4: đường thẳng y = 4 cắt nhánh (0,4) tại x=2. Nó cũng cắt nhánh x < 0 tại 1 nghiệm âm (như đã tính ở trên). Vậy m=4 cho 2 nghiệm. Chúng ta cần 3 nghiệm. Điều này xảy ra khi đường thẳng y = m cắt nhánh bên phải tại 1 điểm VÀ cắt nhánh bên trái tại 2 điểm. Để cắt nhánh bên trái (x < 0) tại 2 điểm, thì giá trị m phải nằm trong khoảng mà nhánh đó có thể tạo ra 2 giao điểm. Tuy nhiên, nhánh này là đơn điệu đi xuống từ vô cùng về 0. Vậy nó chỉ cắt mỗi đường thẳng y=m tại 1 điểm duy nhất với m > 0.

Vậy, chúng ta cần tìm m để:
– Có 1 nghiệm trong khoảng (0,4).
– Có 2 nghiệm trong khoảng (-∞, 0).

Tuy nhiên, nhánh x < 0 của đồ thị y = |x|(4-x) là y = x^2 - 4x. Hàm số này nghịch biến trên (-∞, 0). Vì vậy, nó chỉ cắt đường thẳng y = m tại tối đa 1 điểm với m > 0.

Có lẽ ta cần xem lại bài toán hoặc cách biến đổi.
log4(x^2) + log2(4-x) = log2(m)
Điều kiện: x khác 0, x < 4, m > 0.
Biến đổi: log2(|x|) + log2(4-x) = log2(m)
=> log2(|x|(4-x)) = log2(m)
=> |x|(4-x) = m

Xét hàm số f(x) = |x|(4-x).
– Nếu 0 < x < 4: f(x) = 4x - x^2. Đồ thị là một cung parabol, đi từ (0,0) lên đỉnh (2,4) rồi xuống (4,0). - Nếu x < 0: f(x) = x^2 - 4x. Đồ thị là một nhánh của parabol. Khi x -> -∞, f(x) -> +∞. Khi x -> 0-, f(x) -> 0.

Để có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m cắt đồ thị f(x) tại 3 điểm.
Hãy hình dung đồ thị này:
Phần 1: Cung tròn từ (0,0) lên tới (2,4) rồi xuống tới (4,0).
Phần 2: Một đường cong đi từ (+∞) xuống gần (0,0).

Để có 3 nghiệm, đường thẳng y = m phải đi qua “đỉnh” của một phần và cắt phần còn lại.

Trường hợp 1: m = 4 (giá trị tại đỉnh của phần 0 < x < 4). Khi m = 4, đường thẳng y = 4 cắt nhánh 0 < x < 4 tại x = 2. Đồng thời, ta cần giải x^2 - 4x = 4 cho x < 0. Ta đã tìm được x = 2 - 2*sqrt(2) < 0. Vậy, với m = 4, ta có 2 nghiệm phân biệt. Trường hợp 2: Đường thẳng y = m cắt nhánh bên trái (x < 0) tại 2 điểm VÀ cắt nhánh bên phải (0 < x < 4) tại 1 điểm. Để cắt nhánh bên trái (x^2 - 4x) tại 2 điểm, điều đó là không thể vì nó nghịch biến trên (-∞, 0). Trường hợp 3: Đường thẳng y = m cắt nhánh bên trái (x < 0) tại 1 điểm VÀ cắt nhánh bên phải (0 < x < 4) tại 2 điểm. Để cắt nhánh bên phải (0 < x < 4) tại 2 điểm, ta cần 0 < m < 4. Khi 0 < m < 4, đường thẳng y = m cắt nhánh bên phải tại 2 nghiệm phân biệt. Đồng thời, đường thẳng y = m sẽ cắt nhánh bên trái (x < 0) tại 1 nghiệm duy nhất (vì nhánh này nghịch biến từ +∞ xuống 0). Ví dụ, nếu m = 3. - Giải 4x - x^2 = 3 (với 0 < x < 4) => x^2 – 4x + 3 = 0 => (x-1)(x-3) = 0 => x=1, x=3. (2 nghiệm).
– Giải x^2 – 4x = 3 (với x < 0) => x^2 – 4x – 3 = 0. Delta = 16 – 4(-3) = 28 > 0. x = (4 +/- sqrt(28))/2 = 2 +/- sqrt(7). Ta lấy nghiệm x = 2 – sqrt(7) < 0. (1 nghiệm). Tổng cộng là 3 nghiệm. Vậy, các giá trị của m để phương trình có 3 nghiệm phân biệt là khi 0 < m < 4. Đề bài yêu cầu tìm bao nhiêu số nguyên m. Các số nguyên m thỏa mãn 0 < m < 4 là m = 1, m = 2, m = 3. Có 3 giá trị nguyên của m. Kiểm tra lại điều kiện xác định: m > 0. Các giá trị m=1, 2, 3 đều thỏa mãn.

Vậy, có 3 số nguyên m để phương trình đã cho có 3 nghiệm thực phân biệt.

Đáp số: Có 3 số nguyên m.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 0

Đáp án: \(3\) số

Giải thích các bước giải:

ĐKXĐ: \(4<x, n\ne 0\)

Ta có:

\(\log_4x^2+\log_2(4-x)=\log_2m\)

\(\to\log_{2^2}x^2+\log_2(4-x)=\log_2m\)

\(\to\dfrac12\log_{2}x^2+\log_2(4-x)=\log_2m\)

\(\to\log_{2}\sqrt{x^2}+\log_2(4-x)=\log_2m\)

\(\to\log_{2}|x|+\log_2(4-x)=\log_2m\)

\(\to\log_{2}|x|(4-x)=\log_2m\)

\(\to |x|(4-x)=m\)

Đặt \(y=|x|(4-x)\)

Với \(x\ge 0\to y=x(4-x)=-x^2+4x\)

Với \(x<0\to y=-x(4-x)=x^2-4x\)

Vẽ đồ thị hàm số \(y=|x|(4-x)\)

\(\to |x|(4-x)=m\) có \(3\) nghiệm thực phân biệt

\(\to 0<m<4\)

\(\to\)Có \(3\) số nguyên \(m\) thỏa mãn đề

Trả lời bởi: Hang Bich
▲ 0

Đáp án: \(m\in\{1;2;3\}\)

 

Giải thích các bước giải:

ĐK: \(x<4, x\ne 0\)

\(\log_4x^2+\log_2(4-x)=\log_2m\)

\(\to \dfrac{1}{2}\log_2 x^2+\log_2(4-x)=\log_2m\)

\(\to \log_2[ |x|(4-x)]=\log_2m\) 

\(\to |x|(4-x)=m\) 

Xét hàm số \(y=|x|(4-x)\)

– Với \(x\in (0;4)\): \(y=x(4-x)=-x^2+4x\)

\(y’=-2x+4=0\to x=2\) (TM) 

– Với \(x\in (-\infty;0)\): \(y=-x(4-x)=x^2-4x\)

\(y’=2x-4=0\to x=2\) (loại)

Ta có BBT \(y\) như hình

Để \(y=m\) cắt đồ thị tại ba điểm phân biệt  thoả \(x\ne 0, x<4\) thì \(0<m<4\)

Trả lời bởi: Quang Cường

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo