Có bao nhiêu số nguyên m để phương trình log4(x^2) + log2(4-x)=log2(m) có 3 nghi…
Chúng ta bắt đầu nhé!
Đề bài của chúng ta là: Có bao nhiêu số nguyên m để phương trình log4(x^2) + log2(4-x) = log2(m) có 3 nghiệm thực phân biệt?
Trước hết, chúng ta cần xác định điều kiện xác định của phương trình.
* Đối với log4(x^2): cơ số 4 > 0 và 4 khác 1. Biểu thức trong logarit là x^2, nên ta cần x^2 > 0, tức là x khác 0.
* Đối với log2(4-x): cơ số 2 > 0 và 2 khác 1. Biểu thức trong logarit là 4-x, nên ta cần 4-x > 0, tức là x < 4.
* Đối với log2(m): cơ số 2 > 0 và 2 khác 1. Biểu thức trong logarit là m, nên ta cần m > 0.
Vậy, điều kiện xác định chung của phương trình là: x khác 0, x < 4 và m > 0.
Bây giờ, chúng ta sẽ biến đổi phương trình để đưa về dạng đơn giản hơn.
Ta có log4(x^2) = log(2^2)(x^2). Sử dụng công thức đổi cơ số loga(b^n) = n loga(b) và log(a^n)(b) = 1/n loga(b), ta có:
log4(x^2) = log(2^2)(x^2) = 1/2 * log2(x^2).
Tiếp theo, ta sử dụng công thức loga(b^n) = n loga(b). Tuy nhiên, ở đây là log2(x^2), với x có thể âm.
Nếu x > 0, thì log2(x^2) = 2 log2(x).
Nếu x < 0, thì x^2 > 0, nhưng ta không thể viết là 2 log2(x) vì log2(x) không xác định. Thay vào đó, ta có thể viết log2(x^2) = log2((-x)^2) = 2 log2(-x), vì -x > 0 khi x < 0.
Nhìn chung, ta có thể viết log2(x^2) = 2 log2(|x|).
Do đó, log4(x^2) = 1/2 * (2 log2(|x|)) = log2(|x|).
Bây giờ, thay vào phương trình ban đầu:
log2(|x|) + log2(4-x) = log2(m)
Sử dụng công thức loga(b) + loga(c) = loga(b*c):
log2(|x| * (4-x)) = log2(m)
Vì hàm số logarit là đơn ánh, nên ta có thể bỏ logarit hai vế:
|x| * (4-x) = m
Chúng ta cần tìm m nguyên dương sao cho phương trình |x| * (4-x) = m có đúng 3 nghiệm thực phân biệt, thỏa mãn điều kiện xác định x khác 0 và x < 4.
Bây giờ, chúng ta sẽ xét hàm số f(x) = |x| * (4-x) và khảo sát sự biến thiên của nó trên miền xác định.
Miền xác định là x < 4 và x khác 0.
Chúng ta cần chia làm hai trường hợp cho |x|:
Trường hợp 1: x > 0.
Trong trường hợp này, |x| = x. Điều kiện là 0 < x < 4.
Hàm số trở thành f(x) = x * (4-x) = 4x - x^2.
Đây là một parabol có bề lõm quay xuống, đỉnh tại x = -4/(2*(-1)) = 2.
Giá trị của f(x) tại đỉnh là f(2) = 4*2 - 2^2 = 8 - 4 = 4.
Tại x = 0 (không thuộc miền xét), f(0) = 0.
Tại x = 4 (không thuộc miền xét), f(4) = 0.
Trên khoảng (0, 4), hàm số f(x) đồng biến từ 0 lên 4 rồi nghịch biến từ 4 về 0.
Cụ thể, f(x) tăng từ f(0)=0 đến f(2)=4, và giảm từ f(2)=4 về f(4)=0.
Trường hợp 2: x < 0.
Trong trường hợp này, |x| = -x. Điều kiện là x < 0.
Hàm số trở thành f(x) = (-x) * (4-x) = -4x + x^2.
Đây là một parabol có bề lõm quay lên.
Để khảo sát, ta xem xét giới hạn:
Khi x tiến về 0 từ bên trái (x -> 0-), f(x) -> 0.
Khi x tiến về âm vô cùng (x -> -∞), f(x) = x^2 – 4x. Ta có thể viết f(x) = x(x-4). Khi x âm rất lớn, cả x và x-4 đều âm, nên tích của chúng là dương và tiến ra dương vô cùng.
Bây giờ, chúng ta sẽ vẽ đồ thị của hàm số y = f(x) = |x|(4-x) trên miền xác định x < 4, x khác 0. * Với 0 < x < 4: đồ thị là một phần của parabol y = 4x - x^2, có đỉnh tại (2, 4). * Với x < 0: đồ thị là một phần của parabol y = x^2 - 4x. Để phương trình f(x) = m có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m (với m > 0) phải cắt đồ thị y = f(x) tại đúng 3 điểm phân biệt.
Hãy xem xét đồ thị của f(x):
* Phần đồ thị cho 0 < x < 4: Đây là một cung parabol lồi lên, với giá trị lớn nhất là 4 tại x=2. Nó đi qua (0,0) và (4,0) (nhưng không bao gồm hai điểm mút này).
* Phần đồ thị cho x < 0: Đây là một nhánh của parabol y = x^2 - 4x. Khi x < 0, x^2 - 4x luôn dương. Giá trị nhỏ nhất của x^2 - 4x xảy ra tại x = -(-4)/(2*1) = 2, nhưng điều này không nằm trong miền x < 0. Trên miền x < 0, hàm số y = x^2 - 4x luôn có giá trị dương và tiến về dương vô cùng khi x tiến về âm vô cùng. Nó đi qua (0,0) nhưng không bao gồm điểm này.
Để có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m phải cắt đồ thị tại 3 điểm.
Quan sát đồ thị, chúng ta thấy rằng:
* Nếu m = 4, đường thẳng y = 4 chỉ cắt phần parabol ứng với 0 < x < 4 tại 1 điểm (x=2). Phần đồ thị với x < 0 sẽ không cắt y = 4 nếu giá trị lớn nhất của nó (nếu có) nhỏ hơn 4. Tuy nhiên, phần đồ thị với x < 0 là x^2 - 4x, nó tăng dần về dương vô cùng.
* Chúng ta cần 3 nghiệm phân biệt. Điều này có nghĩa là đường thẳng y = m sẽ cắt cả hai "nhánh" của đồ thị.
Xét kỹ hơn đồ thị của f(x) = |x|(4-x):
1. Nhánh bên phải (0 < x < 4): f(x) = 4x - x^2. Giá trị từ 0 đến 4.
2. Nhánh bên trái (x < 0): f(x) = x^2 - 4x. Giá trị từ 0 đến dương vô cùng.
Để có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m phải cắt:
* Một lần ở nhánh bên phải (0 < x < 4).
* Hai lần ở nhánh bên trái (x < 0).
Điều này xảy ra khi m nằm trong một khoảng nhất định.
Giá trị lớn nhất của nhánh bên phải là 4 (tại x=2).
Nhánh bên trái (x^2 - 4x) bắt đầu từ 0 (không bao gồm) và tăng vô hạn.
Hãy xem xét giá trị của f(x) khi x < 0:
f(x) = x^2 - 4x.
Để phương trình x^2 - 4x = m có hai nghiệm phân biệt khi x < 0, ta cần:
x^2 - 4x - m = 0.
Delta' = (-2)^2 - 1*(-m) = 4 + m.
Để có hai nghiệm phân biệt, Delta' > 0, tức là 4 + m > 0, hay m > -4.
Vì m > 0 đã là điều kiện xác định, nên điều kiện này luôn thỏa.
Hai nghiệm của x^2 – 4x – m = 0 là x = (4 +/- sqrt(4+m))/2 = 2 +/- sqrt(4+m)/2.
Chúng ta cần cả hai nghiệm này đều nhỏ hơn 0.
Xét nghiệm thứ nhất: 2 + sqrt(4+m)/2. Vì sqrt(4+m)/2 luôn dương, nên 2 + sqrt(4+m)/2 luôn dương. Nghiệm này không bao giờ nhỏ hơn 0. Vậy là sai lầm ở đâu đó.
Chúng ta cần xem xét kỹ hơn về sự phân bố nghiệm của f(x) = m.
Vẽ đồ thị của y = |x|(4-x).
– Phần 1: 0 < x < 4, y = 4x - x^2. Đồ thị là một cung parabol đi từ (0,0) đến (4,0), đỉnh tại (2,4).
- Phần 2: x < 0, y = x^2 - 4x. Đây là một nhánh của parabol y = x^2 - 4x. Đỉnh của parabol này là tại x = 2, y = -4. Tuy nhiên, ta chỉ xét x < 0. Khi x < 0, hàm số y = x^2 - 4x luôn dương. Giá trị nhỏ nhất của nó trên miền x < 0 không tồn tại, nhưng nó tiến về 0 khi x tiến về 0-.
Để y = m có 3 nghiệm phân biệt, ta cần:
1. Một nghiệm trong khoảng (0, 4).
2. Hai nghiệm trong khoảng (-∞, 0).
Điều này xảy ra khi đường thẳng y = m cắt cả hai phần của đồ thị.
* Nhánh cho 0 < x < 4: Giá trị của f(x) trong khoảng này là (0, 4]. Nếu m = 4, ta có 1 nghiệm x=2. Nếu 0 < m < 4, ta có 2 nghiệm trong khoảng (0, 4).
* Nhánh cho x < 0: f(x) = x^2 - 4x. Giá trị của f(x) trên miền này là (0, +∞).
Để có 3 nghiệm phân biệt, ta cần đường thẳng y = m cắt phần đồ thị bên trái (x < 0) tại 2 điểm, và cắt phần đồ thị bên phải (0 < x < 4) tại 1 điểm.
Điều này chỉ xảy ra khi m nằm trong một khoảng mà nó cắt nhánh x < 0 tại 2 điểm và cắt nhánh 0 < x < 4 tại 1 điểm.
Xét lại đồ thị:
- Với 0 < x < 4, hàm số f(x) = 4x - x^2 đi từ 0 lên 4 rồi xuống 0.
- Với x < 0, hàm số f(x) = x^2 - 4x đi từ 0 (tiến dần) xuống đến một điểm nào đó rồi lên vô cùng.
Ta cần xem xét điểm cực tiểu của nhánh x^2 - 4x. Tuy nhiên, x^2 - 4x có đỉnh tại x = 2, không thuộc miền x < 0. Trên miền x < 0, x^2 - 4x là một hàm đồng biến khi ta xét từ âm vô cùng đến 0.
Khi x -> -∞, f(x) -> +∞.
Khi x -> 0-, f(x) -> 0.
Để phương trình có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m phải cắt nhánh x < 0 tại 2 điểm và cắt nhánh 0 < x < 4 tại 1 điểm. Điều này xảy ra khi m nằm trong khoảng (0, 4). Nếu 0 < m < 4, thì: - Đường thẳng y = m sẽ cắt nhánh 0 < x < 4 tại 2 điểm. - Đường thẳng y = m sẽ cắt nhánh x < 0 tại 2 điểm (vì nhánh này nhận giá trị từ 0 đến +∞). Vậy là có 4 nghiệm? Chúng ta cần xem lại điều kiện xác định. x khác 0, x < 4. Hãy vẽ đồ thị cẩn thận hơn. Đồ thị y = |x|(4-x): - Khi x >= 0: y = x(4-x) = 4x – x^2. Đây là parabol lõm xuống, đỉnh tại (2,4). Nó đi qua (0,0) và (4,0). Do điều kiện x < 4, ta chỉ xét đoạn từ (0,0) (không bao gồm) đến (4,0) (không bao gồm). - Khi x < 0: y = -x(4-x) = x^2 - 4x. Đây là parabol lõm lên. Đỉnh của parabol y = x^2 - 4x là tại x = 2, y = -4. Tuy nhiên, ta chỉ xét x < 0. Trên miền x < 0, hàm số y = x^2 - 4x luôn dương. Khi x tiến về âm vô cùng, y tiến về dương vô cùng. Khi x tiến về 0 từ bên trái, y tiến về 0. Để phương trình |x|(4-x) = m có 3 nghiệm thực phân biệt, đường thẳng y = m phải cắt đồ thị y = |x|(4-x) tại 3 điểm. Xem xét hình dạng đồ thị: - Phần 1 (0 < x < 4): Là một cung parabol từ (0,0) lên đỉnh (2,4) rồi xuống (4,0). - Phần 2 (x < 0): Là một nhánh của parabol x^2 - 4x, bắt đầu từ 0 (không bao gồm) và đi lên vô cùng. Để có 3 nghiệm: Đường thẳng y = m phải cắt phần thứ nhất tại 1 điểm VÀ cắt phần thứ hai tại 2 điểm. Hoặc cắt phần thứ nhất tại 2 điểm VÀ cắt phần thứ hai tại 1 điểm. Ta cần 3 nghiệm phân biệt. 1. Nếu 0 < m < 4: - Đường thẳng y = m cắt nhánh (0,4) tại 2 điểm. - Đường thẳng y = m cắt nhánh x < 0 tại 2 điểm (vì giá trị của nhánh này là (0, +∞)). Tổng cộng 4 nghiệm. 2. Nếu m = 4: - Đường thẳng y = 4 cắt nhánh (0,4) tại 1 điểm (x=2). - Đường thẳng y = 4 cắt nhánh x < 0 tại 1 điểm (giải x^2 - 4x = 4 => x^2 – 4x – 4 = 0. Delta = 16 – 4(-4) = 32 > 0. x = (4 +/- sqrt(32))/2 = 2 +/- 2*sqrt(2). Ta lấy nghiệm x = 2 – 2*sqrt(2) < 0). Tổng cộng 2 nghiệm. 3. Chúng ta cần tìm trường hợp có đúng 3 nghiệm. Điều này xảy ra khi một trong các giao điểm trùng nhau hoặc không thỏa mãn điều kiện. Hãy xem xét kỹ hơn giá trị của f(x) trên hai miền: Miền 1: 0 < x < 4. Giá trị của f(x) là (0, 4]. Miền 2: x < 0. Giá trị của f(x) là (0, +∞). Để có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m phải cắt đồ thị tại đúng 3 điểm. Điều này xảy ra khi đường thẳng y = m chạm vào "đỉnh" của một phần đồ thị và cắt phần còn lại một số lần phù hợp. Hãy xem xét tại x = 2, f(2) = 4. Khi m = 4, ta có 1 nghiệm x=2. Và ta cần tìm nghiệm âm cho x^2 - 4x = 4. Ta đã tìm được x = 2 - 2*sqrt(2) < 0. Vậy m = 4 cho 2 nghiệm. Chúng ta cần tìm m sao cho phương trình |x|(4-x) = m có 3 nghiệm phân biệt. Xem xét lại hình dạng đồ thị. - Nhánh bên phải (0 < x < 4): hàm số đi từ 0 lên đỉnh (2,4) rồi xuống 0. - Nhánh bên trái (x < 0): hàm số đi từ 0 xuống đến một giá trị nào đó rồi lên vô cùng. Ah, ta đã nhầm về nhánh bên trái. Nhánh bên trái là y = x^2 - 4x với x < 0. Xét hàm số g(x) = x^2 - 4x. Đạo hàm g'(x) = 2x - 4. Khi x < 0, g'(x) < -4, nên hàm số luôn nghịch biến trên (-∞, 0). Khi x tiến về âm vô cùng, g(x) tiến về +∞. Khi x tiến về 0 từ bên trái, g(x) tiến về 0. Vậy, trên miền x < 0, hàm số y = x^2 - 4x có các giá trị trong khoảng (0, +∞). Bây giờ, để có 3 nghiệm, đường thẳng y = m phải cắt đồ thị tại 3 điểm. - Nếu m = 4: đường thẳng y = 4 cắt nhánh (0,4) tại x=2. Nó cũng cắt nhánh x < 0 tại 1 nghiệm âm (như đã tính ở trên). Vậy m=4 cho 2 nghiệm. Chúng ta cần 3 nghiệm. Điều này xảy ra khi đường thẳng y = m cắt nhánh bên phải tại 1 điểm VÀ cắt nhánh bên trái tại 2 điểm. Để cắt nhánh bên trái (x < 0) tại 2 điểm, thì giá trị m phải nằm trong khoảng mà nhánh đó có thể tạo ra 2 giao điểm. Tuy nhiên, nhánh này là đơn điệu đi xuống từ vô cùng về 0. Vậy nó chỉ cắt mỗi đường thẳng y=m tại 1 điểm duy nhất với m > 0.
Vậy, chúng ta cần tìm m để:
– Có 1 nghiệm trong khoảng (0,4).
– Có 2 nghiệm trong khoảng (-∞, 0).
Tuy nhiên, nhánh x < 0 của đồ thị y = |x|(4-x) là y = x^2 - 4x. Hàm số này nghịch biến trên (-∞, 0). Vì vậy, nó chỉ cắt đường thẳng y = m tại tối đa 1 điểm với m > 0.
Có lẽ ta cần xem lại bài toán hoặc cách biến đổi.
log4(x^2) + log2(4-x) = log2(m)
Điều kiện: x khác 0, x < 4, m > 0.
Biến đổi: log2(|x|) + log2(4-x) = log2(m)
=> log2(|x|(4-x)) = log2(m)
=> |x|(4-x) = m
Xét hàm số f(x) = |x|(4-x).
– Nếu 0 < x < 4: f(x) = 4x - x^2. Đồ thị là một cung parabol, đi từ (0,0) lên đỉnh (2,4) rồi xuống (4,0).
- Nếu x < 0: f(x) = x^2 - 4x. Đồ thị là một nhánh của parabol. Khi x -> -∞, f(x) -> +∞. Khi x -> 0-, f(x) -> 0.
Để có 3 nghiệm phân biệt, đường thẳng y = m cắt đồ thị f(x) tại 3 điểm.
Hãy hình dung đồ thị này:
Phần 1: Cung tròn từ (0,0) lên tới (2,4) rồi xuống tới (4,0).
Phần 2: Một đường cong đi từ (+∞) xuống gần (0,0).
Để có 3 nghiệm, đường thẳng y = m phải đi qua “đỉnh” của một phần và cắt phần còn lại.
Trường hợp 1: m = 4 (giá trị tại đỉnh của phần 0 < x < 4).
Khi m = 4, đường thẳng y = 4 cắt nhánh 0 < x < 4 tại x = 2.
Đồng thời, ta cần giải x^2 - 4x = 4 cho x < 0. Ta đã tìm được x = 2 - 2*sqrt(2) < 0.
Vậy, với m = 4, ta có 2 nghiệm phân biệt.
Trường hợp 2: Đường thẳng y = m cắt nhánh bên trái (x < 0) tại 2 điểm VÀ cắt nhánh bên phải (0 < x < 4) tại 1 điểm.
Để cắt nhánh bên trái (x^2 - 4x) tại 2 điểm, điều đó là không thể vì nó nghịch biến trên (-∞, 0).
Trường hợp 3: Đường thẳng y = m cắt nhánh bên trái (x < 0) tại 1 điểm VÀ cắt nhánh bên phải (0 < x < 4) tại 2 điểm.
Để cắt nhánh bên phải (0 < x < 4) tại 2 điểm, ta cần 0 < m < 4.
Khi 0 < m < 4, đường thẳng y = m cắt nhánh bên phải tại 2 nghiệm phân biệt.
Đồng thời, đường thẳng y = m sẽ cắt nhánh bên trái (x < 0) tại 1 nghiệm duy nhất (vì nhánh này nghịch biến từ +∞ xuống 0).
Ví dụ, nếu m = 3.
- Giải 4x - x^2 = 3 (với 0 < x < 4) => x^2 – 4x + 3 = 0 => (x-1)(x-3) = 0 => x=1, x=3. (2 nghiệm).
– Giải x^2 – 4x = 3 (với x < 0) => x^2 – 4x – 3 = 0. Delta = 16 – 4(-3) = 28 > 0. x = (4 +/- sqrt(28))/2 = 2 +/- sqrt(7). Ta lấy nghiệm x = 2 – sqrt(7) < 0. (1 nghiệm).
Tổng cộng là 3 nghiệm.
Vậy, các giá trị của m để phương trình có 3 nghiệm phân biệt là khi 0 < m < 4.
Đề bài yêu cầu tìm bao nhiêu số nguyên m.
Các số nguyên m thỏa mãn 0 < m < 4 là m = 1, m = 2, m = 3.
Có 3 giá trị nguyên của m.
Kiểm tra lại điều kiện xác định: m > 0. Các giá trị m=1, 2, 3 đều thỏa mãn.
Vậy, có 3 số nguyên m để phương trình đã cho có 3 nghiệm thực phân biệt.
Đáp số: Có 3 số nguyên m.
Đáp án: \(3\) số
Giải thích các bước giải:
ĐKXĐ: \(4<x, n\ne 0\)
Ta có:
\(\log_4x^2+\log_2(4-x)=\log_2m\)
\(\to\log_{2^2}x^2+\log_2(4-x)=\log_2m\)
\(\to\dfrac12\log_{2}x^2+\log_2(4-x)=\log_2m\)
\(\to\log_{2}\sqrt{x^2}+\log_2(4-x)=\log_2m\)
\(\to\log_{2}|x|+\log_2(4-x)=\log_2m\)
\(\to\log_{2}|x|(4-x)=\log_2m\)
\(\to |x|(4-x)=m\)
Đặt \(y=|x|(4-x)\)
Với \(x\ge 0\to y=x(4-x)=-x^2+4x\)
Với \(x<0\to y=-x(4-x)=x^2-4x\)
Vẽ đồ thị hàm số \(y=|x|(4-x)\)
\(\to |x|(4-x)=m\) có \(3\) nghiệm thực phân biệt
\(\to 0<m<4\)
\(\to\)Có \(3\) số nguyên \(m\) thỏa mãn đề
Đáp án: \(m\in\{1;2;3\}\)
Giải thích các bước giải:
ĐK: \(x<4, x\ne 0\)
\(\log_4x^2+\log_2(4-x)=\log_2m\)
\(\to \dfrac{1}{2}\log_2 x^2+\log_2(4-x)=\log_2m\)
\(\to \log_2[ |x|(4-x)]=\log_2m\)
\(\to |x|(4-x)=m\)
Xét hàm số \(y=|x|(4-x)\)
– Với \(x\in (0;4)\): \(y=x(4-x)=-x^2+4x\)
\(y’=-2x+4=0\to x=2\) (TM)
– Với \(x\in (-\infty;0)\): \(y=-x(4-x)=x^2-4x\)
\(y’=2x-4=0\to x=2\) (loại)
Ta có BBT \(y\) như hình
Để \(y=m\) cắt đồ thị tại ba điểm phân biệt thoả \(x\ne 0, x<4\) thì \(0<m<4\)