ĐỀ 1
Đọc văn bản:
NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY
Làng kia có một viên lí trưởn…
ĐỀ 1
Đọc văn bản:
NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY
Làng kia có một viên lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi.
Một hôm nọ, Cải với Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải sợ kém thế, lót trước cho thầy lí năm đồng. Ngô biện chè lá những mười đồng. Khi xử kiện, thầy lí nói: Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi.
Cải vội xòe năm ngón tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí, khẽ bẩm:
– Xin xét lại, lẽ phải về con mà!
Thầy lí cũng xòe năm ngón tai trái úp lên trên năm ngón tay mặt, nói:
– Tao biết mày phải nhưng nó lại phải bằng hai mày!
(SGK Ngữ văn 10, Trang 80, Tập I, NXBGD 2006)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1: Xác định thể loại của VB trên.
Câu 2: Xác định đề tài của VB trên.
Câu 3: Câu văn mở đầu văn bản có ý nghĩa gì?
Câu 4: Biện pháp chơi chữ – phải của tác giả trong văn bản thuộc lối chơi chữ nào?
Câu 5: Truyện nói về thói hư tật xấu nào?
Câu 6: Theo em, đỉnh điểm của tiếng cười thể hiện ở câu nói nào trong truyện?
Câu 7: Thủ pháp trào phúng nào không được sử dụng trong VB?
Câu 8: Nội dung nghĩa hàm ẩn của câu: Tao biết mày phải nhưng nó lại phải bằng hai mày!
Câu 9. Trong văn bản, tác giả dân gian có kết hợp hai kiểu ngôn ngữ. Hãy chỉ ra và phân tích giá trị biểu đạt và biểu cảm của hai kiểu ngôn ngữ đó.
Câu 10. Theo em, văn bản muốn gửi gắm đến người đọc những bài học gì?
Bây giờ, chúng ta hãy cùng cô giải quyết bài tập này theo từng bước thật cẩn thận và chi tiết nhé!
Câu 1: Xác định thể loại của VB trên.
Bước 1: Nhận diện đặc điểm của văn bản.
Chúng ta thấy văn bản này có dung lượng ngắn, kể về một sự việc, nhân vật không được giới thiệu cụ thể tên tuổi mà dùng danh xưng chung (thầy lí, Cải, Ngô). Truyện có cốt truyện đơn giản, kết thúc bất ngờ, gây cười và mang tính châm biếm, phê phán một thói xấu trong xã hội.
Bước 2: Đối chiếu với các thể loại đã học.
Dựa vào các đặc điểm trên, văn bản này rất phù hợp với đặc trưng của truyện dân gian, đặc biệt là loại truyện có yếu tố gây cười và phê phán.
Đáp án cuối cùng: Truyện cười dân gian (hoặc truyện ngụ ngôn mang tính trào phúng).
Câu 2: Xác định đề tài của VB trên.
Bước 1: Tìm hiểu nội dung chính của câu chuyện.
Câu chuyện kể về việc lí trưởng xử kiện dựa trên số tiền hối lộ mà hai bên nguyên đơn và bị đơn mang đến, chứ không phải dựa trên lẽ phải. Việc Cải bị xử thua dù “phải” (đúng) chỉ vì Ngô hối lộ “bằng hai” phần của Cải.
Bước 2: Rút ra vấn đề mà truyện đề cập.
Qua câu chuyện này, tác giả dân gian muốn tố cáo, phê phán mạnh mẽ hiện tượng tham nhũng, nhận hối lộ, sự lộng hành của kẻ có quyền chức trong xã hội cũ.
Đáp án cuối cùng: Đề tài phê phán thói tham lam, nhận hối lộ, lạm dụng quyền chức của những kẻ “cầm cân nảy mực” trong xã hội cũ.
Câu 3: Câu văn mở đầu văn bản có ý nghĩa gì?
Bước 1: Đọc kĩ câu mở đầu và chú ý từ ngữ.
Câu văn là: “Làng kia có một viên lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi.” Từ “nổi tiếng”, “xử kiện giỏi” mang sắc thái tích cực.
Bước 2: So sánh với diễn biến và kết thúc câu chuyện.
Trên thực tế, lí trưởng xử kiện không hề “giỏi” theo nghĩa công minh, mà xử kiện theo số tiền hối lộ. Kết quả cuối cùng là một bản án oan trái, phi lí.
Bước 3: Rút ra ý nghĩa của sự tương phản.
Sự trái ngược giữa lời giới thiệu ban đầu và hành động thực tế của lí trưởng đã tạo nên sự mỉa mai, châm biếm sâu sắc. Nó là một thủ pháp gây cười, đồng thời bộc lộ ngay bản chất giả dối của nhân vật này.
Đáp án cuối cùng: Câu văn mở đầu có ý nghĩa tạo tình huống trào phúng, gây bất ngờ và mỉa mai. Nó là lời giới thiệu “ngược” để làm nổi bật sự tham lam, bất công của lí trưởng, đồng thời khơi gợi sự tò mò và tiếng cười cho người đọc.
Câu 4: Biện pháp chơi chữ – phải của tác giả trong văn bản thuộc lối chơi chữ nào?
Bước 1: Phân tích các nghĩa của từ “phải” trong văn bản.
- “Lẽ phải về con mà!”: “phải” ở đây có nghĩa là “đúng, có lí, công bằng”.
- “Tao biết mày phải nhưng nó lại phải bằng hai mày!”: “phải” ở đây lại mang nghĩa “được lợi, được nhận (tiền hối lộ)”.
Bước 2: Xác định mối quan hệ giữa các nghĩa.
Hai từ “phải” này có âm đọc giống nhau nhưng mang hai nghĩa hoàn toàn khác nhau, và cả hai nghĩa đều được sử dụng trong cùng một ngữ cảnh để tạo ra sự hài hước, châm biếm.
Đáp án cuối cùng: Biện pháp chơi chữ dựa trên hiện tượng từ đồng âm (hoặc gần âm, đa nghĩa). Cụ thể là khai thác sự đa nghĩa của từ “phải” để tạo ra tiếng cười châm biếm.
Câu 5: Truyện nói về thói hư tật xấu nào?
Bước 1: Tổng hợp các hành vi tiêu cực của nhân vật lí trưởng.
Lí trưởng nhận tiền hối lộ của cả hai bên, sau đó lại ưu tiên bên nào đưa nhiều tiền hơn. Ông ta không thực thi công lí mà để đồng tiền chi phối phán quyết.
Bước 2: Gọi tên thói hư tật xấu đó.
Những hành vi này thể hiện sự tham lam, biến chất, lạm dụng quyền lực và đặc biệt là thói nhận hối lộ (tham nhũng) của kẻ có chức quyền.
Đáp án cuối cùng: Truyện nói về thói hư tật xấu tham lam, nhận hối lộ, lạm dụng quyền lực và sự biến chất của những người có chức có quyền, đặc biệt là thói tham nhũng làm tha hóa công lí.
Câu 6: Theo em, đỉnh điểm của tiếng cười thể hiện ở câu nói nào trong truyện?
Bước 1: Xem xét các chi tiết gây cười trong truyện.
- Việc Cải lót tiền trước, Ngô lót tiền gấp đôi.
- Cải xòe năm ngón tay để nhắc nhở lí trưởng.
- Lí trưởng xòe mười ngón tay (năm ngón tay trái úp lên trên năm ngón tay mặt).
Bước 2: Phân tích tác động của câu nói cuối cùng của lí trưởng.
Câu nói “Tao biết mày phải nhưng nó lại phải bằng hai mày!” không chỉ giải thích hành động của lí trưởng mà còn bóc trần hoàn toàn bản chất tham lam, bất công của ông ta một cách trắng trợn. Tiếng cười bật ra ở đây là tiếng cười chua chát, thâm thúy, chứa đựng sự bất ngờ và mỉa mai cao độ.
Đáp án cuối cùng: Đỉnh điểm của tiếng cười thể hiện ở câu nói cuối cùng của lí trưởng: “Tao biết mày phải nhưng nó lại phải bằng hai mày!”. Đây là câu nói phơi bày bản chất tham nhũng của lí trưởng một cách trực tiếp, trắng trợn và đầy tính châm biếm.
Câu 7: Thủ pháp trào phúng nào không được sử dụng trong VB?
Bước 1: Nhắc lại các thủ pháp trào phúng phổ biến.
Các thủ pháp trào phúng thường gặp là: phóng đại (cường điệu), nói giảm nói tránh, tương phản, mỉa mai, chơi chữ, sử dụng yếu tố gây bất ngờ, lập lại…
Bước 2: Đối chiếu với văn bản và xác định các thủ pháp đã dùng.
- Tương phản/Mỉa mai: Giữa lời giới thiệu “xử kiện giỏi” và hành động thực tế; giữa lẽ phải và tiền bạc.
- Chơi chữ: Ở từ “phải” như đã phân tích ở Câu 4.
- Gây bất ngờ: Ở lời phán quyết cuối cùng của lí trưởng.
- Phóng đại: Có thể thấy ở mức độ tham nhũng trắng trợn của lí trưởng, nhưng không quá rõ nét như trong các truyện phóng đại về ngoại hình, hành động.
Bước 3: Tìm thủ pháp không có.
Trong văn bản, lí trưởng nói rất thẳng thắn, lộ liễu về việc nhận hối lộ. Ông ta không hề dùng lời lẽ hoa mỹ, vòng vo để che đậy hay làm giảm nhẹ hành vi của mình. Do đó, thủ pháp nói giảm nói tránh (dùng từ ngữ nhẹ hơn để nói về điều gì đó không hay) không hề được sử dụng.
Đáp án cuối cùng: Thủ pháp trào phúng nói giảm nói tránh không được sử dụng trong văn bản. Lí trưởng thể hiện sự tham lam của mình một cách trắng trợn, không hề che đậy hay làm nhẹ đi bản chất xấu xa đó.
Câu 8: Nội dung nghĩa hàm ẩn của câu: “Tao biết mày phải nhưng nó lại phải bằng hai mày!”
Bước 1: Giải thích nghĩa đen của câu nói.
“Tao biết mày đúng lý lẽ, nhưng số tiền hối lộ mà đối phương đưa cho ta lại gấp đôi của mày.”
Bước 2: Rút ra thông điệp sâu xa, không nói trực tiếp (nghĩa hàm ẩn).
Câu nói này ngụ ý rằng:
- Ở đây, công lí không tồn tại, lẽ phải bị tiền bạc mua chuộc.
- Lí trưởng hoàn toàn ý thức được hành vi sai trái của mình nhưng vẫn thực hiện một cách ngang nhiên, thậm chí còn ngụ ý khoe khoang sự tham lam của mình.
- Giá trị của công lí, của lẽ phải được định đoạt bằng tiền bạc, và bên nào “lót” nhiều hơn thì sẽ thắng.
Đáp án cuối cùng: Nội dung nghĩa hàm ẩn của câu nói là lời tố cáo đanh thép, phơi bày bản chất tham nhũng, biến chất của kẻ cầm quyền. Nó cho thấy công lí đã bị tha hóa hoàn toàn bởi đồng tiền, và sự thật, lẽ phải không còn giá trị trước lòng tham vô đáy của con người.
Câu 9. Trong văn bản, tác giả dân gian có kết hợp hai kiểu ngôn ngữ. Hãy chỉ ra và phân tích giá trị biểu đạt và biểu cảm của hai kiểu ngôn ngữ đó.
Bước 1: Xác định hai kiểu ngôn ngữ thường thấy trong văn xuôi.
Trong các văn bản tự sự (kể chuyện) nói chung và truyện dân gian nói riêng, có hai kiểu ngôn ngữ chính là lời người kể chuyện và lời nhân vật.
Bước 2: Phân tích từng kiểu ngôn ngữ.
a. Lời người kể chuyện:
- Chỉ ra: Là phần lời kể, dẫn dắt câu chuyện (ví dụ: “Làng kia có một viên lí trưởng…”, “Một hôm nọ, Cải với Ngô đánh nhau…”, “Khi xử kiện, thầy lí nói…”).
- Giá trị biểu đạt: Giới thiệu bối cảnh, nhân vật, tình huống; dẫn dắt mạch truyện một cách khách quan, rõ ràng, giúp người đọc nắm bắt được diễn biến.
- Giá trị biểu cảm: Đôi khi chứa đựng sắc thái mỉa mai, châm biếm ngầm (như câu mở đầu), tạo giọng điệu đặc trưng cho truyện cười dân gian.
b. Lời nhân vật (đối thoại):
- Chỉ ra: Là những câu nói trực tiếp của các nhân vật (ví dụ: lời Cải: “Xin xét lại, lẽ phải về con mà!”; lời lí trưởng: “Tao biết mày phải nhưng nó lại phải bằng hai mày!”).
- Giá trị biểu đạt: Trực tiếp thể hiện suy nghĩ, thái độ, bản chất và tính cách của từng nhân vật (sự lo sợ, yếu thế của Cải; sự tham lam, tráo trở của lí trưởng). Góp phần đẩy kịch tính của câu chuyện lên cao.
- Giá trị biểu cảm: Tạo ra tiếng cười trực tiếp, đặc biệt là câu nói của lí trưởng bóc trần sự thật một cách trần trụi, gây ấn tượng mạnh và tiếng cười châm biếm sâu sắc nhất.
Đáp án cuối cùng:
Hai kiểu ngôn ngữ được sử dụng là lời người kể chuyện và lời nhân vật (đối thoại).
– Lời người kể chuyện:
- Giá trị biểu đạt: Dẫn dắt câu chuyện, giới thiệu nhân vật, bối cảnh, các sự kiện diễn ra. Giúp người đọc theo dõi được mạch truyện một cách rõ ràng, khách quan.
- Giá trị biểu cảm: Tạo ra giọng điệu trần thuật mộc mạc, gần gũi của truyện dân gian, đồng thời có thể ẩn chứa sự mỉa mai nhẹ nhàng (như câu giới thiệu về lí trưởng), góp phần tạo tiếng cười thâm thúy.
– Lời nhân vật (đối thoại):
- Giá trị biểu đạt: Bộc lộ trực tiếp tính cách, suy nghĩ, thái độ của các nhân vật. Đặc biệt là làm nổi bật bản chất tham lam, tráo trở của lí trưởng (qua câu nói cuối).
- Giá trị biểu cảm: Tạo nên sự sinh động, kịch tính cho câu chuyện. Là yếu tố trực tiếp tạo ra tiếng cười, đặc biệt là tiếng cười châm biếm sâu sắc, phơi bày sự thối nát của xã hội thông qua màn đối thoại “chơi chữ” đầy ý nghĩa giữa Cải và lí trưởng.
Câu 10. Theo em, văn bản muốn gửi gắm đến người đọc những bài học gì?
Bước 1: Tổng hợp các vấn đề tiêu cực được nêu bật trong truyện.
Tham nhũng, hối lộ, sự bất công, lạm dụng quyền lực, sự tha hóa của kẻ có chức quyền.
Bước 2: Rút ra những thông điệp mang tính giáo dục, răn dạy.
Từ những vấn đề đó, câu chuyện muốn chúng ta nhận thức về:
- Sự nguy hiểm của tham nhũng đối với công lí và xã hội.
- Tầm quan trọng của sự công bằng, minh bạch.
- Bài học về sự cảnh giác trước những kẻ lợi dụng chức quyền để trục lợi.
- Giá trị của lẽ phải và đạo đức.
Đáp án cuối cùng: Văn bản muốn gửi gắm đến người đọc những bài học sâu sắc:
- Phê phán và tố cáo: Truyện là lời tố cáo mạnh mẽ thói tham lam, nhận hối lộ, lạm dụng quyền lực của những kẻ “cầm cân nảy mực”, làm cho công lí bị bóp méo.
- Đề cao công lí: Qua việc phê phán sự bất công, truyện ngầm khẳng định giá trị của công lí, lẽ phải và sự công bằng trong xã hội.
- Bài học về đạo đức: Nhắc nhở con người cần sống trung thực, ngay thẳng, không tham lam và biết đấu tranh cho lẽ phải.
- Cảnh giác: Giáo dục người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần tỉnh táo, có thái độ phê phán đối với những thói hư tật xấu trong xã hội để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.
Các em thấy đấy, chỉ với một truyện cười dân gian ngắn gọn, nhưng ông cha ta đã gửi gắm biết bao bài học quý giá về lẽ sống và đạo lí làm người. Cô mong rằng qua bài học này, các em không chỉ nắm vững kiến thức mà còn biết vận dụng những bài học này vào cuộc sống của mình. Hãy luôn sống trung thực, công bằng và có lòng dũng cảm bảo vệ lẽ phải nhé!
Chúc các em học tốt!
1, Truyẹn cười
2, Tạo tiếng cười, phê phán tệ nạn đút lót của người dân, quan liêu tham nhũng trong xã hội
3, Phê phán, châm biếm đả kích viên quan đó
4, dùng từ đồng âm
– phải 1 : lẽ phải
– phải 2: bên phải
5, tệ nạn đút lót của người dân, quan liêu tham nhũng trong xã hội
6,
– Tao biết mày phải nhưng nó lại phải bằng hai mày!
7, Lối nói khoa trương, phóng đại
8, Câu nói này có nghĩa hàm ẩn là dù Cải đúng nhưng Ngô đã đút lót gấp đôi Cải nên quan xử Ngô thắng
9,
*Ngôn ngữ tường minh: Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi.
–> Ra lệnh phạt Cải
*Ngôn ngữ hàm ẩn:
Cải vội xòe năm ngón tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí, khẽ bẩm:
– Xin xét lại, lẽ phải về con mà!
–> Con đã đút lót 5 đồng rồi
Thầy lí cũng xòe năm ngón tai trái úp lên trên năm ngón tay mặt, nói:
– Tao biết mày phải nhưng nó lại phải bằng hai mày!
–> dù Cải đúng nhưng Ngô đã đút lót gấp đôi Cải nên quan xử Ngô thắng
–> Tác dụng: thể hiện tiếng cười hài hước và thủ pháp trào phúng độc đáo của tác giả dân gian
10, Thông điệp là tiếng cười sâu cay, châm biếm tệ nạn đút lót của người dân, quan liêu tham nhũng trong xã hội