ĐỀ 3ĐỌC – HIỂU Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:Công danh đã được hợp về n…
ĐỀ 3
ĐỌC – HIỂU
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Công danh đã được hợp về nhàn,
Lành dữ âu chi thế nghị khen.
Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh phát cỏ ương sen.
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,
Thuyền chở yên hà(1) nặng vạy(2) then.
Bui(3) có một lòng trung lẫn hiếu,
Mài chăng(4) khuyết, nhuộm chăng đen.
(Thuật hứng 24 – Nguyễn Trãi, Trích Luận đề về Nguyễn Trãi, NXB Thanh Niên, 2003, tr.87)
(1)Yên hà: khói và ráng chiều.
(2)Vạy: từ Nôm cổ, nghĩa là cong, quẹo..
(3)Bui: từ Nôm cổ, có nghĩa là duy (có), chỉ (có).
(4)Chăng: chẳng, không.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Giải thích nghĩa của các từ sau: công danh, phong nguyệt
Câu 3. Hai câu thơ sau cho em hiểu gì về cuộc sống của Nguyễn Trãi khi về ở ẩn?
Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh phát cỏ ương sen.
Câu 4. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ trong hai câu luận:
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,
Thuyền chở yên hà nặng vạy then.
Câu 5. Anh (chị) hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích giá trị nội dung về bài thơ Thuật hứng 24 trên.
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau chinh phục một bài tập đọc hiểu thú vị về bài thơ “Thuật hứng 24” của danh nhân Nguyễn Trãi. Các em hãy cùng cô đi từng bước để giải quyết từng câu hỏi nhé.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Để xác định thể thơ, chúng ta sẽ quan sát số câu, số chữ trong mỗi câu và cách gieo vần.
– Bài thơ có 8 câu.
– Mỗi câu có 7 chữ.
– Vần được gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 (vần “nhàn”, “khen”, “sen”, “then”, “đen”).
Dựa vào những đặc điểm trên, chúng ta có thể xác định đây là thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Giải thích nghĩa của các từ sau: công danh, phong nguyệt
Để giải thích nghĩa của từ, chúng ta cần dựa vào ngữ cảnh của bài thơ và vốn từ vựng.
– Công danh: Trong ngữ cảnh bài thơ, “công danh” chỉ danh vọng, sự nghiệp, chức vụ trong triều đình.
– Phong nguyệt: “Phong nguyệt” là một từ Hán Việt, có nghĩa là gió và trăng. Trong thơ ca cổ điển Việt Nam, “phong nguyệt” thường được hiểu rộng hơn, chỉ vẻ đẹp thiên nhiên, cảnh vật trữ tình, thơ mộng.
Câu 3. Hai câu thơ sau cho em hiểu gì về cuộc sống của Nguyễn Trãi khi về ở ẩn?
“Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh phát cỏ ương sen.”
Hai câu thơ này cho thấy cuộc sống của Nguyễn Trãi khi về ở ẩn vô cùng thanh bình, giản dị và gần gũi với thiên nhiên, lao động sản xuất.
– Ao cạn vớt bèo cấy muống: Hình ảnh này gợi lên sự chăm chỉ, tự túc trong sinh hoạt. Dù “ao cạn”, nhưng vẫn cố gắng vớt bèo để trồng muống, cho thấy một nếp sống không ngại khó khăn, vun vén cho cuộc sống.
– Đìa thanh phát cỏ ương sen: “Đìa thanh” là cái đìa nước trong, sạch. Việc “phát cỏ ương sen” cho thấy sự chăm chút cho cảnh quan, vun trồng cây sen để sen nở, mang lại vẻ đẹp và có thể cả vật phẩm cho cuộc sống.
Tóm lại, những câu thơ này khắc họa một bức tranh về cuộc sống an nhàn, tự tại, hòa mình vào thiên nhiên và làm những công việc đồng áng quen thuộc của người nông dân.
Câu 4. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ trong hai câu luận:
“Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,
Thuyền chở yên hà nặng vạy then.”
Trong hai câu luận này, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ hoán dụ và ẩn dụ.
– Hoán dụ: “Phong nguyệt” (gió trăng) được dùng để chỉ thú vui tao nhã, vẻ đẹp thiên nhiên, sự thư thái tinh thần.
– Ẩn dụ: “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc” và “Thuyền chở yên hà nặng vạy then” là những hình ảnh ẩn dụ đầy sức gợi.
Hiệu quả:
– Biện pháp tu từ này giúp khắc họa một cách sinh động và giàu hình ảnh cái giàu có về tinh thần của con người. Nguyễn Trãi không giàu sang về vật chất, nhưng tâm hồn ông lại đầy ắp “phong nguyệt”, “yên hà”.
– Nó thể hiện sự đối lập tinh tế giữa khát vọng công danh bị gác lại với niềm vui sống an nhàn, hưởng thụ vẻ đẹp của thiên nhiên.
– Cách diễn đạt “đầy qua nóc”, “nặng vạy then” cho thấy sự sung mãn, dồi dào của tâm hồn, một sự giàu có mà vật chất không thể nào sánh được. Nguyễn Trãi đã tìm thấy sự đủ đầy trong tâm hồn mình.
Câu 5. Anh (chị) hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích giá trị nội dung về bài thơ Thuật hứng 24 trên.
Bài thơ “Thuật hứng 24” của Nguyễn Trãi là một bức tranh sống động về tâm trạng và quan niệm sống của ông khi lui về ở ẩn.
Trước hết, bài thơ thể hiện khát vọng từ bỏ chốn quan trường đầy sóng gió: “Công danh đã được hợp về nhàn, Lành dữ âu chi thế nghị khen”. Tác giả không còn bận tâm đến những lời khen chê của thế gian, tìm thấy sự bình yên trong cuộc sống ẩn dật.
Tiếp đến, bài thơ khắc họa vẻ đẹp giản dị, thanh tao của cuộc sống nơi thôn dã: “Ao cạn vớt bèo cấy muống, Đìa thanh phát cỏ ương sen”. Qua những hình ảnh lao động quen thuộc, ta thấy được sự tự tại, an nhiên và gắn bó với thiên nhiên của bậc trí giả.
Đặc biệt, hai câu luận “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, Thuyền chở yên hà nặng vạy then” bằng nghệ thuật hoán dụ và ẩn dụ, đã ca ngợi sự giàu có trong tâm hồn. Nguyễn Trãi đã tìm thấy sự sung mãn, đủ đầy không nơi vật chất mà ở chính tâm hồn mình, ở tình yêu thiên nhiên và vẻ đẹp cuộc sống.
Cuối cùng, bài thơ khẳng định phẩm chất đạo đức cao đẹp của ông: “Bui có một lòng trung lẫn hiếu, Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen”. Dù ở ẩn, tấm lòng son sắt vì nước vì dân vẫn vẹn nguyên, không hề thay đổi, minh chứng cho khí tiết của một bậc trượng phu.
Bài thơ “Thuật hứng 24” là lời khẳng định về giá trị của cuộc sống thanh cao, tâm hồn phong phú và tấm lòng trung hiếu vẹn toàn của Nguyễn Trãi, một bậc danh nhân vĩ đại của dân tộc.
Cô hy vọng với những lời giải chi tiết này, các em đã hiểu rõ hơn về bài thơ và cách làm bài tập đọc hiểu. Hãy luyện tập thường xuyên để nâng cao kỹ năng của mình nhé!
C1. thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
C2.
– Công danh: sự nghiệp, địa vị, danh tiếng của con người trong xã hội phong kiến, gắn với con đường làm quan.
– Phong nguyệt: cảnh đẹp thiên nhiên (gió, trăng), biểu tượng cho cuộc sống thanh nhàn, tao nhã, thoát khỏi vòng danh lợi.
C3.
Hai câu thơ cho thấy cuộc sống khi về ở ẩn của Nguyễn Trãi giản dị, thanh bình và gắn bó với lao động đời thường. Ông tự tay làm những việc nhỏ bé như vớt bèo, trồng rau, phát cỏ, ươm sen. Cuộc sống ấy tuy đạm bạc nhưng yên vui, hòa hợp với thiên nhiên và thể hiện tâm thế ung dung, tự tại của một bậc trí thức lớn sau khi rời chốn quan trường.
C4.
– BPTT: Ẩn dụ và phóng đại.
– Tác dụng
+ “Kho thu phong nguyệt”, “thuyền chở yên hà” là hình ảnh ẩn dụ cho sự giàu có về tinh thần.
+ Phóng đại (“đầy qua nóc”, “nặng vạy then”) nhấn mạnh cuộc sống tinh thần phong phú, thanh cao, cho thấy Nguyễn Trãi coi vẻ đẹp thiên nhiên là tài sản quý giá nhất.
C5.
Bài thơ Thuật hứng 24 đã thể hiện vẻ đẹp nội dung sâu sắc về cuộc sống và nhân cách của Nguyễn Trãi khi lui về ở ẩn. Trước hết, bài thơ cho thấy một cuộc sống thanh nhàn, giản dị, gắn bó với thiên nhiên và lao động đời thường qua những hình ảnh như “vớt bèo cấy muống”, “phát cỏ ương sen”. Đó là cuộc sống tuy đạm bạc nhưng yên bình, thể hiện tâm thế ung dung, tự tại của nhà thơ sau khi rời chốn quan trường. Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn bộc lộ quan niệm sống cao đẹp khi coi thiên nhiên là nguồn giàu có tinh thần vô tận, thể hiện qua hình ảnh ẩn dụ “kho thu phong nguyệt”, “thuyền chở yên hà”. Đặc biệt, dù sống ẩn dật, ông vẫn giữ trọn lòng trung hiếu, trước sau không thay đổi. Qua đó, bài thơ ca ngợi nhân cách thanh cao và tâm hồn lớn của Nguyễn Trãi.
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2:
Công danh: Chỉ sự nghiệp, danh vọng của con người trong xã hội, thường gắn với việc làm quan, lập công trạng.
Phong nguyệt: Chỉ cảnh đẹp thiên nhiên với gió (phong) và trăng (nguyệt), tượng trưng cho thú vui thanh nhàn, lánh đời.
Câu 3: Hai câu thơ:
“Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh phát cỏ ương sen.”
=> Miêu tả cuộc sống giản dị, đạm bạc nhưng thanh nhàn của Nguyễn Trãi khi về ở ẩn. Ông hòa mình với thiên nhiên, lao động chân tay, chăm sóc ao hồ, trồng trọt, tận hưởng cuộc sống bình yên, không màng danh lợi.
Câu 4: Hai câu luận sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ và phóng đại:
“Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc”: Ẩn dụ “kho thu phong nguyệt” thể hiện sự giàu có về tinh thần, cho thấy Nguyễn Trãi tìm niềm vui trong cảnh đẹp thiên nhiên.
“Thuyền chở yên hà nặng vạy then”: Ẩn dụ “thuyền chở yên hà” thể hiện sự chất chứa bao tâm tư, nỗi niềm sâu kín của nhà thơ.
=> Hai câu thơ nhấn mạnh sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, thể hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, tìm được sự thanh thản trong cảnh sống ẩn dật.
Câu 5: bài làm
Bài thơ “Thuật hứng 24” của Nguyễn Trãi thể hiện tâm trạng và suy nghĩ của ông khi lui về ở ẩn sau bao năm cống hiến cho triều đình. Mở đầu bài thơ, ông khẳng định công danh đã trở thành quá khứ, không còn bận tâm chuyện khen chê của thế gian. Hai câu thực miêu tả cuộc sống điền viên bình dị với những công việc lao động thường ngày như vớt bèo, cấy muống, ương sen. Qua đó, ta thấy một Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên, tìm niềm vui trong cảnh sống đạm bạc. Hai câu luận sử dụng hình ảnh “kho thu phong nguyệt” và “thuyền chở yên hà” để thể hiện sự giàu có về tinh thần, tâm hồn thanh cao, ung dung, không vướng bụi trần. Cuối bài thơ, Nguyễn Trãi khẳng định lòng trung hiếu của mình vẫn vẹn nguyên, không bị hoàn cảnh làm thay đổi. Như vậy, bài thơ không chỉ thể hiện tình yêu thiên nhiên mà còn khắc họa nhân cách cao đẹp của Nguyễn Trãi—một con người dù ở ẩn nhưng vẫn mang trong mình lòng trung hiếu với dân với nước.
Vũ Khang Duy
câu cho trả lời hay nhất