Đề nghị luận văn học:
Nói về tính độc đáo trong sáng tác văn học , có ý kiến ch…
Nói về tính độc đáo trong sáng tác văn học , có ý kiến cho rằng “ nghệ thuật là lĩnh vực độc đáo , vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật tức là có nét gì đó rất riêng mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình “
Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên ? Hãy làm sáng tỏ qua Chuyện người con gái Nam Xương
Các em thân mến, để làm tốt bài tập nghị luận văn học này, chúng ta cần đi theo một trình tự logic, có hệ thống, giống như chúng ta xây một ngôi nhà vậy, phải có nền móng vững chắc, có tường, có mái. Cô sẽ hướng dẫn các em từng bước một.
Bước 1: Mở bài.
Trong phần mở bài, các em cần giới thiệu chung về vấn đề nghị luận, đó là tính độc đáo trong sáng tác văn học và phong cách của người nghệ sĩ. Sau đó, các em dẫn dắt vào ý kiến đã cho và khẳng định quan điểm của mình về ý kiến đó.
Ví dụ:
“Văn học, với muôn màu sắc và cung bậc cảm xúc, luôn mang trong mình một vẻ đẹp độc đáo, khác biệt. Chính vì lẽ đó, người nghệ sĩ trên con đường sáng tạo của mình không ngừng tìm kiếm, định hình một phong cách riêng, một dấu ấn cá nhân không thể trộn lẫn. Có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật là lĩnh vực độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình”. Cô hoàn toàn đồng ý với ý kiến này. Bởi lẽ, phong cách độc đáo chính là linh hồn, là sức sống mãnh liệt làm nên giá trị vĩnh cửu cho một tác phẩm văn chương.”
Bước 2: Thân bài.
Đây là phần quan trọng nhất, chúng ta cần triển khai ý kiến đã cho một cách chi tiết và làm sáng tỏ nó bằng dẫn chứng cụ thể.
Trong phần thân bài, chúng ta sẽ đi theo các ý sau:
2.1. Giải thích ý kiến:
Các em cần làm rõ ý nghĩa của các khái niệm trong ý kiến đã cho.
“Nghệ thuật là lĩnh vực độc đáo”: Điều này có nghĩa là mỗi tác phẩm nghệ thuật, mỗi nghệ sĩ đều có cách cảm, cách nhìn, cách thể hiện riêng biệt, không thể sao chép.
“Đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật”: Phong cách nổi bật không phải là sự gò ép hay bắt chước, mà là sự thể hiện nhất quán, mang dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ trong cách lựa chọn đề tài, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu, tư tưởng…
“Nét gì đó rất riêng, mới lạ”: Đây là những yếu tố độc đáo, sáng tạo, có khả năng lay động, chinh phục người đọc, người xem, khiến tác phẩm trở nên có sức sống và giá trị lâu bền.
2.2. Phân tích, chứng minh ý kiến qua tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”:
Đây là lúc chúng ta vận dụng kiến thức về tác phẩm để chứng minh cho nhận định ban đầu. Cô sẽ hướng dẫn các em phân tích các khía cạnh sau:
2.2.1. Tác giả Nguyễn Dữ và phong cách sáng tác:
Chúng ta cần nói về Nguyễn Dữ, một nhà văn tiêu biểu của thế kỷ XVI. Ông sống trong một thời kỳ đầy biến động, nên các sáng tác của ông thường mang hơi hướng bi thương, phản ánh nỗi đau, số phận bi kịch của con người, đặc biệt là phụ nữ.
2.2.2. Sự độc đáo trong cốt truyện và chủ đề của “Chuyện người con gái Nam Xương”:
* Cốt truyện độc đáo: Truyện không chỉ là một câu chuyện tình yêu đôi lứa mà còn là lời tố cáo xã hội phong kiến đầy bất công, oan nghiệt. Sự độc đáo nằm ở việc kết hợp yếu tố thực tế và yếu tố kỳ ảo (sự hiện về của Vũ Nương dưới thủy cung). Sự kết hợp này làm tăng thêm sức mạnh tố cáo và làm cho câu chuyện thêm phần ám ảnh.
* Chủ đề mới lạ: Tác phẩm đề cao vẻ đẹp phẩm hạnh, đức hạnh của người phụ nữ Việt Nam xưa: “Tam tòng”, “Tứ đức” nhưng đồng thời cũng phơi bày bi kịch của họ khi bị xã hội, bởi những định kiến hà khắc, oan khuất vùi dập.
2.2.3. Tính cách nhân vật Vũ Nương – sự độc đáo trong khắc họa chân dung người phụ nữ:
* Vũ Nương là hiện thân của vẻ đẹp truyền thống: Cô là người vợ, người mẹ hiếu thảo, đảm đang, có công dung ngôn hạnh. “Tô son điểm phấn, rồi đặt mình một chỗ”, “trên gối mỹ nhân, dưới chân gối của chồng, không hề sai một chút gì”.
* Vũ Nương là nạn nhân của bi kịch: Tuy mang vẻ đẹp truyền thống, nhưng số phận nàng lại vô cùng bi thương. Nàng bị chồng nghi oan vì lời nói ngây thơ của con thơ, bị đẩy vào bước đường cùng và cuối cùng tự vẫn nơi sông Hoàng Giang. Sự oan khuất, đau đớn của nàng khi phải lìa xa chồng con khiến người đọc không khỏi xót xa.
* Sự độc đáo trong cái chết và sự hóa giải: Cái chết của Vũ Nương không chỉ là sự giải thoát khỏi oan khuất mà còn là lời phản kháng thầm lặng. Sự hóa giải kỳ ảo ở cuối truyện (hiện về trong cung dưới thủy cung) cho thấy một cái nhìn nhân đạo của tác giả, một ước mơ về sự công bằng và sự hóa giải những oan trái.
2.2.4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ của Nguyễn Dữ:
* Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật: Tác giả đã rất tài tình trong việc khắc họa tâm trạng phức tạp, đau đớn của Vũ Nương khi bị chồng hiểu lầm. Từ nỗi sợ hãi, bàng hoàng đến sự tuyệt vọng, cuối cùng là sự quyết liệt tìm đến cái chết.
* Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc: Ngôn ngữ của tác phẩm vừa trang trọng, cổ kính, vừa giàu sức gợi, thể hiện rõ nét văn hóa thời bấy giờ. Các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được sử dụng hiệu quả, làm cho câu chuyện thêm sống động và lay động lòng người.
* Yếu tố kỳ ảo: Việc kết hợp yếu tố kỳ ảo tạo nên một không gian huyền bí, làm tăng tính hấp dẫn và ý nghĩa phê phán của tác phẩm.
2.2.5. Bài học về phong cách độc đáo:
Qua việc phân tích “Chuyện người con gái Nam Xương”, chúng ta thấy được Nguyễn Dữ đã tạo ra một tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân. Đó là cách ông nhìn nhận, khai thác và thể hiện thân phận người phụ nữ, là cách ông lồng ghép những giá trị đạo đức truyền thống với những vấn đề xã hội đương thời. Chính những điều này đã làm nên sự độc đáo và giá trị vượt thời gian của tác phẩm.
Bước 3: Kết bài.
Trong phần kết bài, các em cần khẳng định lại ý kiến ban đầu, tổng kết lại những luận điểm đã trình bày và nêu ý nghĩa, bài học rút ra.
Ví dụ:
“Tóm lại, ý kiến “Nghệ thuật là lĩnh vực độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình” là hoàn toàn đúng đắn. “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đã minh chứng rõ nét cho điều này. Bằng tài năng và tâm huyết của mình, Nguyễn Dữ đã khắc họa nên một thế giới nghệ thuật đầy ấn tượng, với một câu chuyện cảm động, một nhân vật bi kịch và một thông điệp sâu sắc. Mỗi tác phẩm văn học có giá trị đích thực đều mang trong mình hơi thở riêng của người nghệ sĩ, và đó chính là yếu tố quan trọng làm nên sự trường tồn của nghệ thuật.”
Các em thấy đấy, để làm một bài văn nghị luận văn học tốt, chúng ta cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, từ việc hiểu đề, lập dàn ý chi tiết, đến việc phân tích tác phẩm một cách sâu sắc. Cô tin rằng với phương pháp này, các em sẽ ngày càng tự tin hơn trong môn Văn.
Bây giờ, các em hãy dành thời gian suy ngẫm và ghi chép lại những gì cô vừa trình bày. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, đừng ngần ngại hỏi cô nhé!
Nam Cao, trong một tác phẩm văn chương của mình đã viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Nói đến nghệ thuật là nói đến lĩnh vực của sự sáng tạo mà bất cứ sự sáng tạo nào cũng không thể chấp nhấn sự dập khuôn, máy mớc. Nghệ thuật đòi hỏi rất cao ở người nghệ sĩ năng lực sáng tạo độc đáo, làm nên phong cách của riêng mình. Chính vì vậy mà khi nói đến tính độc đáo trong phong cách sáng tác văn học đã có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy, nó đòi hỏi người sáng tác phải cổ phong cách nổi bật, tức là có cái gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong phong cách của mình”. Tìm hiểu phong cách nghệ thuật của Nguyền Tuân, ta sẽ hiểu rõ thêm về ý kiến này.
Thế nào là phong cách nghệ thuật? Có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thế tựu chung lại trong những nét khái niệm cơ bản: đó là khuôn mặt riêng, là giọng điệu riêng, cách thức riêng của từng nghệ sĩ trong thế giới nghệ thuật; là những nét riêng biệt, chủ yếu của một tài năng nghệ thuật độc đáo khiến cho người ta nhận ra nhà vãn này và sản phạm tinh thần của họ mà không nhầm lẫn với một người nào khác. Nghệ thuật là lĩnh vực của những cái độc đáo, bởi vậy nó rất cần những nét riêng kia của các nhà văn để làm nên sự độc đáo, đa dạng và phong phú cho mình. Phong cách nghệ thuật thể hiện trong những nét riêng, cái mới lạ trong tác phẩm tức là những cái nhìn độc đáo đối với hiện thực cuộc sống thể hiện chiều sâu của sự cảm nhận và khám phá cuộc sống của nhà văn. Từ đó, nhà văn sáng tạo nên những cái mới mẻ trong tác phẩm của mình, từ việc lựa chọn hình ảnh đến các phương tiện hình thức nghệ thuật như lời văn, câu văn, giọng điệu, ngôn từ… Phong cách là vậy nhưng không phải muốn là có thể có phong cách cũng như tất cả những người sáng tác nghệ thuật đều có phong cách. Phong cách đòi hỏi một quá trình rèn luyện bền bỉ, lâu dài và công phu cùng với sự sáng tạo và tìm tòi không ngừng nghỉ. Nó phải là sự phát hiện, đổi mới trên cái nền đã ổn định để nhìn vào hàng loạt các tác phẩm, người ta vẫn nhận ra đó là tác phẩm của ai ở cái giọng điệu rất riêng nhưng lại không hề cảm thây sự lặp lại và nhàm chán trong từng tác phẩm riêng biệt. Nói như thế cũng đủ thấy để có được phong cách và lưu giữ được phong cách của bản. thân’mình đô’i với người nghệ sĩ là một việc không hề đơn giản. Phong cách, do vậy, xét đến cùng chính là bản lĩnh và tài nghệ xuất chúng của nhà văn.
Trong số các nhà văn hiện đại Việt Nam tạo nên được phong cách nghệ thuật độc đáo có thể nhắc đến Nguyễn Tuân như một trường hợp tiêu biểu. Nếu như Nam Cào, xuất hiện sau hàng loạt các bậc đàn anh có tên tuổi như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, vẫn tạo cho mình một phong cách văn chương hiện thực phê phán độc đáo khi viết về bi kịch của người nông dân bị cái đói làm cho tha hóa đến mất hết nhân hình và nhân tính, là tiếng kêu cứu đói, cứu lấy nhân phẩm; Vũ Trọng Phụng là một phong cách nghệ thuật trào phúng hiện thực xã hội chủ nghĩa sâu sắc thì Nguyễn Tuân lại thể hiện phong cách của mình là nhà văn xuất sắc trên một ninh diện khác. Cái mới lạ của ông thể hiện ngay từ mong muốn lúc nào cũng chơi ngông với đời cho đến hàng loạt các phương thức thể hiện và giọng điệu riêng. Là nhà văn ưu cái mới lạ, độc đáo, Nguyễn Tuân cũng bắt những độc giả của mình phải tham gia vào một thế giới nghệ thuật đầy thú vị, nhọc nhằn và lắm công phu.
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nhận xét: “Nguyễn Tuân bước vào nghề văn như để chơi ngông với thiên hạ”. Nhận xét ấy quả thục không có. gì là quá đáng. Chính cáí ngông đó đã góp phần tạo nên một nét quan trong trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Vì ngông nên ông luôn đứng ngoài mọi thứ, chi hướng đến một điều duy nhất là sáng tạo sao cho thỏa mãn được cái tôi ngông đó của mình. Chính, nhà văn đã từng xác định: “Tôi quan niệm đã viết văn là phải viết cho hay, cho đúng cái tạng riêng của mình. Văn chương cần có sự độc đáo hơn trong bất kì một lĩnh vực nào khác”. Với quan niệm ấy, cả cuộc đời viết văn của Nguyễn Tuân là một chặng đường dài để khám phá và thể hiện chữ ngông. Chất ngông của Nguyễn Tuân vừa mang mà của hiện đại dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu nhân của Nits-xơ lại vừa mang màu sắc cổ điển chịu ảnh hưởng của các nhà nho bất đắc chí kiểu Nguyễn Công Trử, Tú Xương, Tàn Đà; như Nguyễn Công Trứ đã từng nói:
“Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng giành để tháng ngày chơi”
Phong cách ngông, nét riêng trong sáng tác trước hết được thể hiện ở việc nhìn đời bằng con mắt mĩ thuật. Dưới ngòi bút của ông, những con người mà ông miêu tả, bất cứ ai; thuộc tầng lớp nào,… thì cũng phải là những người tài hoa. Cáì đẹp được nhà văn suốt đời tìm kiếm, phụng sự và tôn thờ. Trong “Chữ người tử tù” vẻ đẹp được tập trung chủ yếu vào trong hình ảnh nhân vật Huấn Cao, một kẻ tử tù đang chờ ngày xử chém. Chơi chữ là một thú chơi tao nhã của những người có thiên lương cao đẹp vậy mà ở đây, nó lại được đặt vào trong tay một người bị coi là tử tù.
Nguyễn Tuân đã không ngần ngại khi dành cho Huấn Cao một thái độ trân trọng, ưu ái đặc biệt. Thiên lương trở thành tiêu chuẩn để đánh giá vẻ đẹp của con người. Quán ngục là thanh âm trong trẻo giữ bản nhạc mà nhạc luật đều xô bồ, náo loạn bởi ông có một thiên lương trong sáng, có một tấm lòng biệt nhỡn liên tài, biết yêu và trân trọng cái đẹp. Sự gặp nhau của hai tấm thiên lương ấy đã trồ thành môi trường cho cái đẹp sinh thành và tỏa sáng rực rỡ. Đó cũng chính là ông lái đò tài hoa trong “Người lái đò sông Đà” lái chiếc thuyền vượt qua bao ghềnh thác sông Đà như một ngựời nghệ sĩ thực thụ. Ông lái đò chỉ là một người lao động bình thường nhưng ông cũng là một tay lái tài hoa và dũng cảm nắm chắc binh pháp cùa thần sông, thần nước. Qua lại trên ghềnh thác sông Đà nguy hiểm, khó khăn là thê nhưng dường như đã trở thành nhịp sống bình thường-của nhà đò. Hình ảnh con người hiện lên đẹp hùng vĩ nhưng cũng, hết sức bình dị.
Viết về thiên nhiên, người ta cũng bắt gập ở Nguyễn Tuân một cách thể hiện rất riêng. Thiên nhiên của ông không có chỗ cho những bức tranh bằng bằng, nhàn nhạt. Đó phái là một bức tranh thiên nhiên tuyệt bích đẹp hùng vĩ, dữ dội hay hết sức nên thơ, trữ tình. Hình ảnh con sông Đà trong “Người lái đò sông Đà” là một hình ảnh thiên nhiên tiêu biểu cho nét riêng ặy trong phong cách Nguyễn tuân. Con sông Đà dữ dội.với vẻ hoang sơ chảy giữ điệp trùng của núi rừng Tây Bắc, ớ những quách thành dựng đứng, những hút nước khủng khiếp và đá như bày thạch trận.ở khía cạnh này, con sông hùng vi và hoang sơ trở thành kẻ thù số một cùa con người. Nhưng chảy qua thượng nguồn, dòng sông lại trở về với cái vẻ dịu hiền không thế’ ngờ tới của nó. Kẻ hung dữ đã trở thành người con gái dịu dàng “tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong núi rừng Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng Hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Thiên nhiên mang một vẻ đẹp trữ tình đầy quỵến rũ.
Nhà văn là nhà nghệ sĩ ngộn từ nhưng ngôn từ trong tay Nguyễn Tuân lại có những thứ công năng và quyền năng riêng độc đáo. Ngôn ngữ của ông không chỉ thể hiện sự am tường ngôn ngữ dân tộc, am tường cuộc sống mà còn là một khả năng vận dụng tài tình những hiểu biết đó của mình vào trong văn chương. Có lẽ chỉ Nguyễn Tuân mới có thể quan sát để phát hiện con ong một ngày bay được 2.700.000 chuyến với 8.000.000 cây số, hiểu được quá trình hoài thai của ngọc, phát hiện ra. bông hồng xanh của em bé Nga hay bộ hương vòng ngự đụng của vua Lý. Và người ta cũng chỉ bắt gặp ở ông với sáng tác văn học nhưng là sự tập trung của nhiều ngành nghề khoa học nghệ thuật như địa lí, lịch sử, quân sự, mĩ thuật thậm chí cả hội họa, điện ảnh, âm nhạc… Những thế võ, thế đá như “đánh đòn âm”, “đánh đòn tia”, “đá trái”, “thúc gối”… với những cửa sinh, cửa tử, “trận đồ trường xa bát quái” mà Nguyễn Tuân gán cho thác đá sông Đà quả thực là những độc chiêu lạ lẫm còn bức tranh trong Tờ hoa thì khiến người ta ấn tượng bởi sự lịch lãm, sang trọng trong dáng vẻ kiêu bạc đến gai góc: “Bướm phù phiếm cũng bay vào hoa nhưng cặp cánh hào nhoáng chẳng để lại gì. Từ ngày có lịch sử tiến hóa của loài người chưa ai dám nói tới mật bướm bao giờ”.
Xê dịch trên mọi miền đất cùng Nguyễn Tuân, khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong các tác phẩm của ông, ta hiểu và thêm khâm phục về một tài năng, một một phong cách văn học lớn, độc đáo “vô song”. “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy, nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức ìà có cái gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong phong cách của mình”. Và bởi Nguyễn Tuân đã rất thành công trong việc thể hiện cá tính riêng ấy của mình nên nhà văn cùng với các tác phẩm của mình sẽ tồn tại mãi cùng thời gian và trong lòng người đọc