Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Đề số 3 Đọc bài văn bản sau: BẢO KÍNH CẢNH GIỚI (Bài 21) Ở bầu thì dáng ắt nên t…

Đề số 3
Đọc bài văn bản sau:
BẢO KÍNH CẢNH GIỚI
(Bài 21)
Ở bầu thì dáng ắt nên t…

Đề số 3

Đọc bài văn bản sau:

BẢO KÍNH CẢNH GIỚI

(Bài 21)

Ở bầu thì dáng ắt nên tròn,

Xấu tốt đều thì rắp khuôn .

Lân cận nhà giàu no bữa cám ,

Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn.

Chơi cùng đứa dại nên bầy dại,

Kết mấy người khôn học nết khôn.

Ở đấng thấp thì nên đấng thấp,

Đen gần mực, đỏ gần son.

(Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, NXB Khoa học xã hội, 1976, tr. 445)

Chú thích: (1) và (2): Hai câu này là do câu tục ngữ ở gần nhà giàu đau răng ăn cốm, ở gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn. Chữ đau răng ăn cốm là đúng chữ câu tục ngữ. Nhưng kẻ ở gần nhà giàu mà được ăn cốm nhiều thì cũng lạ. Chúng tôi cho rằng chính là cám nói chệch đi cho hợp với vần trộm ở câu dưới mà thành cốm mà ở gần nhà giàu được no bữa cám thì nghĩa mới thông.

Lựa chọn đáp án đúng nhất:

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

A. Thất ngôn bát cú Đường luật

B. Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

C. Thất ngôn xen lục ngôn

D. Song thất lục bát

Câu 2. Chủ đề của bài thơ là gì?

A. Triết lí nhân sinh

B. Nhân tình thế thái

C. Lòng yêu nước

D. Tình yêu thiên nhiên

Câu 3. Trong bài thơ, phép đối xuất hiện ở những cặp câu nào?

A. 1 – 2, 3 4.

B. 3 – 4, 5 6.

C. 5 6, 7 8.

D. 1 2, 7 8.

Câu 4. Cặp từ cặp từ trái nghĩa nào xuất hiện trong bài thơ?

A. Xấu tốt, dại khôn, đen đỏ.

B. Xấu tốt, dại khôn, tròn dài.

C. Dại khôn, đen đỏ, mực – son

D. Dại khôn, đen đỏ, cao thấp

Câu 5. Câu thơ Ở bầu thì dáng ắt nên tròn gợi cho liên tưởng đến câu tục ngữ nào?

A. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng

B. Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác

C. Xỏi lởi trời cởi cho, so đo trời co lại

D. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

Câu 6. Nêu ý nghĩa của hai câu thơ sau: Đen gần mực, đỏ gần son.”?

A. Môi trường sống hình thành nên nhân cách.

B. Môi trường sống có ảnh hưởng lớn đến nhân cách.

C. Môi trường sống không ảnh hưởng đến nhân cách.

D. Môi trường sống tạo nên con người tốt đẹp

Câu 7. Nêu nội dung của hai câu thơ sau: Chơi cùng đứa dại nên bảy dại/ Kết mấy người khôn học nết khôn.”

A. Phải biết chọn bạn. Thời đi học, thời trẻ cần biết chọn bạn. Chơi với bạn xấu rất nguy hiểm, không chóng thì chầy sẽ sa ngã hư hỏng.

B. Đứa dại là đứa lừa thầy phản bạn, là đứa xâu. Những vụ cướp của giết người, những vụ bạo lực học đường cho ta thấy “đứa dại” đó toàn là học sinh cá biệt, đứa con rắn mặt, bất hiếu.

C. Kết bạn với kẻ xấu dễ dàng lây nhiễm thói hư tật xấu, kết bạn với người khôn là người thông minh, có đạo đức tốt thì ta sẽ học được “nết khôn” để làm người

D. Kết bạn với người khôn là người thông minh, có đạo đức tốt thì ta sẽ học được “nết khôn” để làm người, để trở thành con ngoan, trò giỏi.

Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:

Câu 8. Liệt kê 3 câu tục ngữ được sử dụng trong bài thơ, nêu tác dụng của việc sử dụng các câu tục ngữ này.

Câu 9. Qua bài thơ, nhà thơ muốn răn mình điều gì? Trình bày từ 5-7 dòng.

Câu 10. Bài học cho bản thân mà anh/chị rút ra từ việc đọc hiểu bài thơ Bảo kính cảnh giới (XXI) của Nguyễn Trãi?

Giúp mình với ạ mik đang cần gấp lắm ạ

Hỏi bởi: tramynguyenthi
3 câu trả lời
▲ 9
Chào các em học sinh thân mến! Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu và giải đáp những câu hỏi về bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (Bài 21) của Nguyễn Trãi. Đây là một bài thơ chứa đựng nhiều bài học sâu sắc về cuộc sống, về cách lựa chọn bạn bè và môi trường sống. Cô tin rằng sau buổi học này, các em sẽ có thêm những suy ngẫm ý nghĩa.

Chúng ta bắt đầu với phần trắc nghiệm nhé!

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

A. Thất ngôn bát cú Đường luật

B. Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

C. Thất ngôn xen lục ngôn

D. Song thất lục bát

Phân tích: Bài thơ có 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Đây là đặc điểm của thể thơ thất ngôn. Tuy nhiên, chúng ta cần xem xét cấu trúc và vần điệu để xác định chính xác. Bài thơ có cấu trúc 4 cặp câu, mỗi cặp có mối quan hệ nhất định về nội dung và hình thức. Khi xem xét kỹ, chúng ta thấy rằng đây là thể thơ thất ngôn Đường luật. Tuy nhiên, cấu trúc 8 câu thất ngôn không hoàn toàn tuân thủ chặt chẽ luật về niêm, vần, đối của Đường luật mà có sự phóng khoáng hơn. Tuy nhiên, trong các lựa chọn đưa ra, thể thất ngôn là phù hợp nhất. So với các thể khác: thất ngôn tứ tuyệt chỉ có 4 câu, song thất lục bát có sự xen kẽ giữa câu 7 và câu 6. Thất ngôn xen lục ngôn cũng không phải là tên gọi chính xác cho thể thơ này. Do đó, ta xét theo số chữ trong mỗi câu và số lượng câu. Bài thơ có 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Trong chương trình Ngữ Văn lớp 10, ta thường gặp các thể thơ Đường luật. Xét kỹ hơn, bài thơ này không hoàn toàn là bát cú Đường luật chuẩn mực về niêm, vần, đối. Tuy nhiên, nếu xét về cấu trúc cơ bản 8 câu, mỗi câu 7 chữ thì nó gần với thất ngôn bát cú. Nhưng để chính xác hơn, ta cần xem xét nội dung và cách gieo vần.

Trong các lựa chọn, nếu xét về số lượng câu và số chữ trong mỗi câu thì Thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, 7 chữ) là gần nhất. Tuy nhiên, các bài thơ thất ngôn Đường luật thường có luật bằng trắc và niêm luật rất chặt chẽ. Bài thơ này có cấu trúc 4 cặp câu, mỗi cặp có ý nghĩa tương đồng hoặc tương phản, thể hiện sự liên kết nội dung.

Cô nhấn mạnh lại: Đây là một bài thơ thất ngôn. Các lựa chọn còn lại như tứ tuyệt (4 câu), song thất lục bát (sự xen kẽ 7-6), thất ngôn xen lục ngôn không đúng với cấu trúc 8 câu 7 chữ. Vậy khả năng cao là thuộc nhóm Thất ngôn.

Dựa vào cấu trúc 8 câu, mỗi câu 7 chữ, ta xét đến thể thơ Thất ngôn. Trong các lựa chọn, chỉ có A và B là Thất ngôn. B là Thất ngôn tứ tuyệt (4 câu), không đúng. Vậy còn lại A: Thất ngôn bát cú Đường luật. Tuy nhiên, bài thơ này không tuân thủ chặt chẽ luật niêm, vần, đối của Đường luật. Do đó, có thể đây là một thể thơ thất ngôn tự do hoặc thất ngôn Đường luật có biến thể. Nhưng trong khuôn khổ chương trình học và các lựa chọn có sẵn, ta chọn phương án gần nhất.

Thực tế, bài thơ này có 8 câu, mỗi câu 7 chữ, được coi là thuộc thể thơ Thất ngôn. Tuy không tuân thủ nghiêm ngặt luật Đường luật, nhưng cấu trúc 8 câu thất ngôn là đặc trưng.

Đáp án đúng: A (Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đây không phải là Thất ngôn bát cú Đường luật chuẩn mực, nhưng trong các lựa chọn thì đây là phương án gần nhất về cấu trúc câu và số lượng câu).

Câu 2. Chủ đề của bài thơ là gì?

A. Triết lí nhân sinh

B. Nhân tình thế thái

C. Lòng yêu nước

D. Tình yêu thiên nhiên

Phân tích: Bài thơ nói về việc “ở bầu thì tròn”, “lân cận nhà giàu”, “bạn bè kẻ trộm”, “chơi cùng đứa dại”, “kết mấy người khôn”, “ở đấng thấp”. Tất cả những câu này đều đề cập đến ảnh hưởng của môi trường sống, của người xung quanh đến bản thân. Bài thơ đưa ra những lời khuyên, những bài học về cách lựa chọn hoàn cảnh sống và bạn bè để có thể giữ gìn phẩm chất, đạo đức của mình. Đây là những vấn đề thuộc về triết lý sống, cách ứng xử trong xã hội.

Đáp án đúng: A

Câu 3. Trong bài thơ, phép đối xuất hiện ở những cặp câu nào?

Phân tích: Phép đối trong thơ là sự đặt cạnh nhau hai câu (hoặc hai cụm từ, hai từ) có ý nghĩa, cấu trúc tương đồng hoặc tương phản. Ta xem xét từng cặp câu:

– Câu 1-2: “Ở bầu thì dáng ắt nên tròn,” – “Xấu tốt đều thì rắp khuôn .” (Có sự đối lập về ý nghĩa: “tròn” và “khuôn” tuy không đối trực tiếp nhưng gợi sự hình thành. “Xấu tốt” là cặp đối).

– Câu 3-4: “Lân cận nhà giàu no bữa cám ,” – “Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn.” (Có sự đối lập: “nhà giàu” – “kẻ trộm”, “no bữa cám” – “đau đòn”. Đây là cặp đối rõ nét).

– Câu 5-6: “Chơi cùng đứa dại nên bầy dại,” – “Kết mấy người khôn học nết khôn.” (Có sự đối lập: “đứa dại” – “người khôn”, “bầy dại” – “nết khôn”. Đây là cặp đối rõ nét).

– Câu 7-8: “Ở đấng thấp thì nên đấng thấp,” – “Đen gần mực, đỏ gần son.” (Câu 7 nói về vị trí, câu 8 nói về sự ảnh hưởng màu sắc. Có sự tương đồng về cấu trúc và ý nghĩa: môi trường xung quanh ảnh hưởng đến bản thân). Tuy nhiên, “nên đấng thấp” và “Đen gần mực, đỏ gần son” không hẳn là một cặp đối chặt chẽ về ý nghĩa và cấu trúc như cặp 3-4, 5-6. “Đen” đối với “đỏ”, “mực” đối với “son” là những cặp đối trong câu 8.

Trong các lựa chọn, ta tìm cặp câu thể hiện phép đối rõ ràng nhất.

A. 1 – 2, 3 – 4. (1-2 có đối, 3-4 có đối).

B. 3 – 4, 5 – 6. (Cả hai đều có đối rõ nét).

C. 5 – 6, 7 – 8. (5-6 có đối, 7-8 có đối. Tuy nhiên, đối ở 7-8 không mạnh bằng 3-4, 5-6).

D. 1 – 2, 7 – 8. (1-2 có đối, 7-8 có đối).

Phép đối thường xuất hiện ở các câu 3-4, 5-6, 7-8 trong thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, nơi các câu thực và câu kết thường đối nhau. Bài thơ này cũng có cấu trúc tương tự.

Ta xét các cặp câu sau:

– Cặp 3-4: “Lân cận nhà giàu no bữa cám,” – “Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn.” (Đối: giàu-trộm, no-đau đòn).

– Cặp 5-6: “Chơi cùng đứa dại nên bầy dại,” – “Kết mấy người khôn học nết khôn.” (Đối: dại-khôn, bầy dại-nết khôn).

– Cặp 7-8: “Ở đấng thấp thì nên đấng thấp,” – “Đen gần mực, đỏ gần son.” (Đối: đen-đỏ, mực-son trong câu 8). Câu 7 và câu 8 có ý nghĩa bổ sung cho nhau, đều nói về sự ảnh hưởng. Tuy nhiên, câu 7 “nên đấng thấp” không có đối trực tiếp với câu 8.

Trong các lựa chọn, cặp 3-4 và 5-6 là những cặp đối rõ ràng nhất.

Đáp án đúng: B

Câu 4. Cặp từ trái nghĩa nào xuất hiện trong bài thơ?

Phân tích: Ta tìm các từ có nghĩa trái ngược nhau trong bài thơ.

– “Xấu tốt”: xuất hiện ở câu 2.

– “Dại khôn”: xuất hiện ở câu 5 và 6.

– “Đen đỏ”: xuất hiện ở câu 8.

– “Nhà giàu” và “kẻ trộm”: tuy trái ngược về địa vị, nhưng không phải là cặp từ trái nghĩa theo nghĩa đen thông thường.

– “Thấp” và “cao” (ẩn ý): câu 7 “Ở đấng thấp thì nên đấng thấp”, ngụ ý có “đấng cao”.

Xét các lựa chọn:

A. Xấu – tốt, dại – khôn, đen – đỏ. (Đúng, cả ba cặp đều có).

B. Xấu – tốt, dại – khôn, tròn – dài. (“Tròn” và “dài” không phải là cặp từ trái nghĩa xuất hiện trong bài, “tròn” xuất hiện ở câu 1, “dài” không có).

C. Dại – khôn, đen – đỏ, mực – son. (“Mực” và “son” là hai vật thể, không phải cặp từ trái nghĩa).

D. Dại – khôn, đen – đỏ, cao – thấp. (“Cao” không xuất hiện trực tiếp).

Đáp án đúng: A

Câu 5. Câu thơ Ở bầu thì dáng ắt nên tròn gợi cho liên tưởng đến câu tục ngữ nào?

Phân tích: Câu thơ “Ở bầu thì dáng ắt nên tròn” nói về việc hình dạng của sự vật sẽ bị ảnh hưởng bởi cái bầu nó ở trong. Bầu là vật chứa. Hình ảnh này rất gần gũi với câu tục ngữ nói về sự ảnh hưởng của môi trường sống.

A. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. (Nói về ảnh hưởng của bạn bè, môi trường).

B. Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác. (Nói về quy luật nhân quả của hành động).

C. Xỏi lởi trời cởi cho, so đo trời co lại. (Nói về sự cho đi và nhận lại).

D. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. (Đây chính là câu tục ngữ mô tả chính xác hình ảnh và ý nghĩa của câu thơ).

Đáp án đúng: D

Câu 6. Nêu ý nghĩa của hai câu thơ sau: Đen gần mực, đỏ gần son.”?

Phân tích: Hai câu thơ “Đen gần mực, đỏ gần son” sử dụng hình ảnh màu sắc để nói về sự ảnh hưởng. Màu đen khi ở gần mực (thường là mực tàu, mực đen) sẽ càng thêm đen. Màu đỏ khi ở gần son (loại phấn tô son môi màu đỏ) sẽ càng thêm đỏ. Ý nghĩa ở đây là môi trường xung quanh, những người ta tiếp xúc sẽ làm thay đổi, định hình phẩm chất, tính cách của con người.

A. Môi trường sống hình thành nên nhân cách. (Hơi tuyệt đối, “hình thành” có thể hiểu là tạo ra hoàn toàn).

B. Môi trường sống có ảnh hưởng lớn đến nhân cách. (Đây là ý nghĩa chính xác, diễn đạt đúng sắc thái “ảnh hưởng”).

C. Môi trường sống không ảnh hưởng đến nhân cách. (Sai hoàn toàn).

D. Môi trường sống tạo nên con người tốt đẹp. (Không phải lúc nào môi trường tốt cũng tạo ra con người tốt đẹp, và bài thơ không chỉ nói về con người tốt đẹp).

Đáp án đúng: B

Câu 7. Nêu nội dung của hai câu thơ sau: Chơi cùng đứa dại nên bầy dại/ Kết mấy người khôn học nết khôn.”?

Phân tích: Hai câu thơ này nói rõ về việc chọn bạn mà chơi. Nếu chơi với “đứa dại” thì sẽ bị ảnh hưởng và trở nên “bầy dại” (tức là bị cuốn theo những thói hư tật xấu, hành động dại dột). Ngược lại, nếu kết giao với “người khôn” thì sẽ học hỏi được những phẩm chất tốt đẹp, “nết khôn” để trở thành người tốt.

A. Phải biết chọn bạn. Thời đi học, thời trẻ cần biết chọn bạn. Chơi với bạn xấu rất nguy hiểm, không chóng thì chầy sẽ sa ngã hư hỏng. (Nội dung này đúng, nhưng chưa đầy đủ).

B. Đứa dại là đứa lừa thầy phản bạn, là đứa xâu. Những vụ cướp của giết người, những vụ bạo lực học đường cho ta thấy “đứa dại” đó toàn là học sinh cá biệt, đứa con rắn mặt, bất hiếu. (Câu này diễn giải “đứa dại” quá cụ thể và có phần tiêu cực, không bao quát hết ý nghĩa của “dại” trong bài thơ. Bài thơ nói về sự ảnh hưởng chung, không chỉ giới hạn ở các hành vi phạm tội).

C. Kết bạn với kẻ xấu dễ dàng lây nhiễm thói hư tật xấu, kết bạn với người khôn là người thông minh, có đạo đức tốt thì ta sẽ học được “nết khôn” để làm người. (Diễn đạt này đầy đủ và chính xác. “Thói hư tật xấu” tương ứng với “bầy dại”, “thông minh, có đạo đức tốt” tương ứng với “người khôn”, và “học được nết khôn để làm người” là ý nghĩa trực tiếp của câu thơ).

D. Kết bạn với người khôn là người thông minh, có đạo đức tốt thì ta sẽ học được “nết khôn” để làm người, để trở thành con ngoan, trò giỏi. (Câu này chỉ nói về mặt tích cực, chưa đề cập đến mặt tiêu cực khi chơi với bạn xấu).

Đáp án đúng: C

Bây giờ, chúng ta chuyển sang phần tự luận nhé!

Câu 8. Liệt kê 3 câu tục ngữ được sử dụng trong bài thơ, nêu tác dụng của việc sử dụng các câu tục ngữ này.

Phân tích: Chúng ta cùng xem lại bài thơ và chú thích để tìm các câu tục ngữ.

1. “Ở bầu thì dáng ắt nên tròn,” – Câu này gợi nhớ đến câu tục ngữ: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”.

2. “Lân cận nhà giàu no bữa cám,” – Đây là sự biến đổi của câu tục ngữ “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” hoặc “Gần đèn thì sáng, gần đèn thì rạng”. Tuy nhiên, chú thích đã giải thích rõ đây là sự biến đổi từ câu “ở gần nhà giàu đau răng ăn cốm”, hoặc ngụ ý “gần nhà giàu thì được no bữa”. Tuy nhiên, ý chính là sự ảnh hưởng của môi trường giàu có. Nếu xét về ý nghĩa ảnh hưởng thì tương đồng với các câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”.

3. “Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn.” – Tương tự như câu trên, nói về sự ảnh hưởng tiêu cực từ việc kết giao với kẻ xấu.

4. “Chơi cùng đứa dại nên bầy dại,” – Gợi nhớ đến “Gần mực thì đen”.

5. “Kết mấy người khôn học nết khôn.” – Gợi nhớ đến “Gần đèn thì rạng”.

6. “Đen gần mực, đỏ gần son.” – Đây là một câu tục ngữ/thành ngữ quen thuộc.

Liệt kê 3 câu tục ngữ được sử dụng hoặc gợi ý:

– “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.” (Gợi ý từ câu 1)

– “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.” (Gợi ý từ các câu 3, 4, 5, 6)

– “Đen gần mực, đỏ gần son.” (Câu 8 là một thành ngữ/câu tục ngữ)

Tác dụng của việc sử dụng các câu tục ngữ:

Tăng tính cụ thể, sinh động cho lời khuyên: Các câu tục ngữ có hình ảnh gần gũi, quen thuộc với đời sống, giúp người đọc dễ hình dung và hiểu bài học mà tác giả muốn truyền đạt.

Tăng tính thuyết phục: Tục ngữ là những kinh nghiệm đúc kết từ dân gian, mang tính chân lý, được nhiều người công nhận. Việc lồng ghép tục ngữ giúp lời răn của tác giả trở nên có sức nặng, dễ đi vào lòng người.

Ngắn gọn, súc tích: Tục ngữ cô đọng ý nghĩa sâu sắc trong những câu văn ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc.

Thể hiện sự uyên bác, am hiểu của tác giả: Nguyễn Trãi đã vận dụng một cách khéo léo những câu tục ngữ, thành ngữ, làm cho bài thơ thêm phần hàm súc và giàu giá trị văn hóa.

Trả lời chi tiết:

Ba câu tục ngữ (hoặc hình ảnh gợi từ tục ngữ) được sử dụng trong bài thơ là:

1. “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.” (gợi từ câu thơ: “Ở bầu thì dáng ắt nên tròn,”)

2. “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.” (gợi từ các câu thơ: “Lân cận nhà giàu no bữa cám,”, “Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn.”, “Chơi cùng đứa dại nên bầy dại,”, “Kết mấy người khôn học nết khôn.”)

3. “Đen gần mực, đỏ gần son.” (là câu thơ thứ 8 của bài thơ)

Tác dụng của việc sử dụng các câu tục ngữ này là:

– Làm cho lời khuyên của tác giả trở nên sinh động, dễ hiểu, gần gũi với đời sống của người đọc.

– Tăng tính thuyết phục cho bài học, vì tục ngữ là những kinh nghiệm được đúc kết từ ngàn xưa, mang tính chân lý.

– Giúp bài thơ thêm phần hàm súc, cô đọng, dễ đi vào lòng người và dễ ghi nhớ.

– Thể hiện sự uyên bác, am hiểu sâu sắc của Nguyễn Trãi về vốn văn hóa dân gian.

Câu 9. Qua bài thơ, nhà thơ muốn răn mình điều gì? Trình bày từ 5-7 dòng.

Phân tích: Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” có nghĩa là “Cái gương báu khuyên răn điều lành”. Tên bài thơ đã nói lên mục đích của tác giả. Tác giả muốn đưa ra những lời cảnh báo, khuyên nhủ bản thân và mọi người về tầm quan trọng của việc lựa chọn môi trường sống và bạn bè.

Trả lời:

Qua bài thơ, nhà thơ Nguyễn Trãi muốn răn mình (và răn cả người đọc) về quy luật ảnh hưởng của môi trường sống và bạn bè đối với sự hình thành nhân cách. Ông muốn nhắc nhở bản thân phải biết “chọn lọc”, tránh xa những cám dỗ, những thói hư tật xấu. Phải luôn tỉnh táo để nhận ra đâu là “mực đen” cần tránh, đâu là “son đỏ” đáng học hỏi. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết giao với những người “khôn”, những người có phẩm hạnh tốt để có thể học hỏi và hoàn thiện bản thân, tránh sa ngã vào con đường tội lỗi hay dại khờ. Đây là bài học về sự tự bảo vệ mình trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài.

Câu 10. Bài học cho bản thân mà anh/chị rút ra từ việc đọc hiểu bài thơ Bảo kính cảnh giới (XXI) của Nguyễn Trãi?

Phân tích: Câu hỏi này yêu cầu chúng ta suy ngẫm và rút ra bài học cá nhân. Dựa trên nội dung và ý nghĩa của bài thơ, mỗi em có thể có những cảm nhận và bài học riêng. Cô sẽ gợi ý một số ý để các em tham khảo và phát triển thêm.

Trả lời (gợi ý):

Sau khi đọc hiểu bài thơ “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi, em rút ra bài học sâu sắc nhất cho bản thân là phải luôn ý thức được tầm quan trọng của việc lựa chọn môi trường sống và những người mình tiếp xúc. “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” không chỉ là câu nói cửa miệng mà là một quy luật tất yếu. Em cần chủ động tìm kiếm những mối quan hệ lành mạnh, những người bạn có tri thức, có đạo đức tốt để học hỏi, noi gương. Đồng thời, em cũng phải biết giữ vững lập trường, không để những thói hư tật xấu hay những cám dỗ bên ngoài làm ảnh hưởng đến nhân cách của mình. Bài học này giúp em cẩn trọng hơn trong các mối quan hệ và luôn nỗ lực để trở thành một người tốt hơn.

Vậy là chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu và giải đáp tất cả các câu hỏi của đề bài này. Cô hy vọng các em đã nắm vững kiến thức và có thêm những bài học ý nghĩa từ bài thơ của Nguyễn Trãi. Chúc các em học tốt!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 2

C1.  D. Song thất lục bát

C2. A. Triết lí nhân sinh

C3. D. 1 2, 7 8.

C4. C. Dại khôn, đen đỏ, mực – son

C5. D. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

C6. B. Môi trường sống có ảnh hưởng lớn đến nhân cách.

C7.  C. Kết bạn với kẻ xấu dễ dàng lây nhiễm thói hư tật xấu, kết bạn với người khôn là người thông minh, có đạo đức tốt thì ta sẽ học được “nết khôn” để làm người

C8. 

Ở bầu thì dáng ắt nên tròn

– Đen gần mực, đỏ gần son.

– Chơi cùng đứa dại nên bầy dại,

Kết mấy người khôn học nết khôn

C9. Chúng ta nên thích nghi linh hoạt với hoàn cảnh sống, cần lựa chọn môi trường, hoàn cảnh sống phù hợp với bản thân mình và lựa chọn tiếp xúc những gì thực sự tốt cho mình. 

C10. 

– Cần lựa chọn môi trường, hoàn cảnh sống sao cho thực sự tốt với mình

– Luôn cố gắng thích ứng với hoàn cảnh linh hoạt để phát triển tốt nhất.

Trả lời bởi: Trang Phạm
▲ 1

Câu 1: C. Thất ngôn xen lục ngôn

Câu 2: A. Triết lí nhân sinh

Câu 3: B. 3-4, 5-6

Câu 4: A. Xấu-tốt, dại-khôn, đen-đỏ

Câu 5: D. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

Câu 6: B. Môi trường sống có ảnh hưởng lớn đến nhân cách

Câu 7: C. Kết bạn với kẻ xấu dễ dàng lây nhiễm thói hư tật xấu, kết bạn với người khôn là người thông mình, có đạo đức tốt thì ta sẽ học được “nết khôn” để làm người

Câu 8: 

– 3 câu tục ngữ:

+ Đen gần mực, đỏ gần son

+ Lân cận nhà giàu no bữa cám/ Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn

+ Chơi cùng đứa dại nên bầy dại,/ Kết mấy người khôn học nết khôn 

– Tác dụng: Việc vận dụng tục ngữ khiến lời thơ thêm sâu sắc hàm súc tự nhiên. Bài học đưa ra gần gũi dễ hiểu với mọi người. Các câu thành ngữ giúp bài thơ mang sắc thái dân gian độc đáo

Trả lời bởi: ngale213

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo