Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông…
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
(1đ) Đoạn thơ trên trích trong bài thơ nào? Tác giả là ai? Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ
(1đ) Chỉ ra ít nhất 2 biện pháp tu từ trong đoạn thơ trên? Nêu tác dụng?
Câu 2 (1.0 điểm). Tìm thành phần tình thái trong câu thơ sau và cho biết tác dụng của nó?
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Phần 1: Tìm hiểu về đoạn thơ
Câu 1: (1 điểm) Đoạn thơ trên trích trong bài thơ nào? Tác giả là ai? Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ.
* Bước 1: Xác định tên bài thơ và tác giả.
Để xác định tên bài thơ và tác giả, chúng ta cần dựa vào kiến thức về các tác phẩm thơ đã học trong chương trình Ngữ Văn lớp 10. Đoạn thơ “Mọc giữa dòng sông xanh / Một bông hoa tím biếc…” rất quen thuộc và thuộc về một bài thơ nổi tiếng về tình yêu quê hương, đất nước.
Lời giải: Đoạn thơ trên trích trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”.
Tác giả là: Thanh Hải.
* Bước 2: Nêu hoàn cảnh sáng tác.
Hoàn cảnh sáng tác của một tác phẩm thường gắn liền với cuộc đời, tâm tư của tác giả tại thời điểm đó. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác trong một giai đoạn đặc biệt của đất nước và của chính nhà thơ.
Lời giải: Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được nhà thơ Thanh Hải viết vào cuối năm 1970, lúc ông đang nằm trên giường bệnh, bệnh tình ngày một nặng. Dù vậy, ông vẫn luôn hướng về cách mạng, về tương lai của đất nước.
Câu 2: (1 điểm) Chỉ ra ít nhất 2 biện pháp tu từ trong đoạn thơ trên? Nêu tác dụng?
* Bước 1: Đọc kỹ từng câu thơ và tìm kiếm các dấu hiệu của biện pháp tu từ.
Chúng ta sẽ đi qua từng câu, từng hình ảnh để nhận diện.
* “Mọc giữa dòng sông xanh / Một bông hoa tím biếc” – Ở đây có sự kết hợp màu sắc (xanh, tím biếc) và hình ảnh sinh động của bông hoa.
* “Ơi con chim chiền chiện / Hót chi mà vang trời” – Cách gọi và câu hỏi tu từ thể hiện cảm xúc.
* “Từng giọt long lanh rơi / Tôi đưa tay tôi hứng.” – Hình ảnh âm thanh được “nhìn thấy” và hành động trực tiếp của nhân vật trữ tình.
* Bước 2: Nhận diện và gọi tên các biện pháp tu từ.
* Trong câu “Ơi con chim chiền chiện / Hót chi mà vang trời”, cách gọi “Ơi con chim chiền chiện” là một dấu hiệu rõ ràng. Câu hỏi tu từ “Hót chi mà vang trời” cũng là một biện pháp.
* Hình ảnh “Từng giọt long lanh rơi” miêu tả tiếng chim. Tiếng chim là âm thanh, nhưng lại được miêu tả bằng thị giác “long lanh”. Đây là sự chuyển đổi cảm giác.
Lời giải:
* Biện pháp tu từ 1: Điệp ngữ (cách gọi “Ơi” lặp lại hoặc cách diễn đạt cảm xúc qua câu hỏi tu từ).
Phân tích và nêu tác dụng: Trong câu thơ “Ơi con chim chiền chiện / Hót chi mà vang trời”, có thể xem cách gọi “Ơi” là một cách thể hiện tình cảm, sự giao cảm với thiên nhiên. Hoặc xét rộng hơn, câu hỏi tu từ “Hót chi mà vang trời” cũng là một hình thức thể hiện cảm xúc, sự ngỡ ngàng, say mê trước tiếng chim.
Tác dụng: Tạo nhịp điệu cho câu thơ, thể hiện sự gắn bó, yêu mến, ngỡ ngàng của nhà thơ trước vẻ đẹp và âm thanh của thiên nhiên mùa xuân. Nó làm cho lời thơ trở nên sống động, giàu cảm xúc và thể hiện sự giao hòa giữa con người với thiên nhiên.
* Biện pháp tu từ 2: Nhân hóa (gán cho sự vật, con vật những từ ngữ chỉ hoạt động, tính chất của con người) hoặc Ẩn dụ (gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng). Ở đây, chúng ta có thể phân tích hình ảnh “giọt long lanh”.
Phân tích và nêu tác dụng: Câu thơ “Từng giọt long lanh rơi” dùng từ “long lanh” để miêu tả tiếng chim. “Long lanh” vốn là từ dùng để chỉ những gì lấp lánh, trong trẻo, đẹp đẽ về mặt thị giác. Việc dùng từ này để miêu tả tiếng chim – một đối tượng thuộc thính giác – cho thấy nhà thơ đã cảm nhận tiếng chim không chỉ bằng tai mà còn bằng cả tâm hồn, bằng sự rung động tinh tế của thị giác.
Tác dụng: Biện pháp này (có thể gọi là hoán dụ hoặc ẩn dụ chuyển đổi cảm giác) giúp nhà thơ thể hiện một cách độc đáo và sinh động âm thanh trong trẻo, thánh thót, đẹp đẽ như những giọt sương mai, giọt ngọc của tiếng chim. Nó làm cho hình ảnh âm thanh trở nên cụ thể, gợi hình, gợi cảm, mang đến cho người đọc những ấn tượng thẩm mỹ sâu sắc.
* Biện pháp tu từ 3 (Có thể thêm nếu cần): Câu hỏi tu từ.
Phân tích và nêu tác dụng: Câu “Hót chi mà vang trời” là một câu hỏi tu từ. Nhà thơ không thực sự mong đợi câu trả lời từ con chim.
Tác dụng: Câu hỏi tu từ thể hiện sự ngạc nhiên, xen lẫn niềm vui sướng, say mê của nhân vật trữ tình trước âm thanh trong trẻo, vang vọng của tiếng chim, góp phần tô đậm không khí rộn ràng, tươi vui của mùa xuân.
Phần 2: Phân tích thành phần tình thái
Câu 2: (1.0 điểm) Tìm thành phần tình thái trong câu thơ sau và cho biết tác dụng của nó?
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
* Bước 1: Đọc kỹ câu thơ và xác định từ ngữ có vai trò thể hiện thái độ, ý nghĩa, cảm xúc của người nói/người viết.
Chúng ta cần tìm những từ ngữ làm rõ mức độ chắc chắn, sự phán đoán, hoặc cảm xúc của người đưa ra lời nhận định. Trong câu thơ “Sương chùng chình qua ngõ / Hình như thu đã về”, có một từ ngữ nổi bật lên.
* Bước 2: Gọi tên và phân tích chức năng của từ ngữ đó.
Lời giải:
* Thành phần tình thái được tìm thấy: “Hình như”.
* Tác dụng: “Hình như” là một từ chỉ mức độ phán đoán, suy đoán không chắc chắn. Nó thể hiện sự cảm nhận tinh tế của nhân vật trữ tình về sự thay đổi của cảnh vật, báo hiệu mùa thu đang đến. Từ này cho thấy tác giả đang quan sát, cảm nhận và đưa ra một nhận định mang tính dự cảm, chưa khẳng định tuyệt đối. Nó mang lại sắc thái nghi hoặc nhẹ nhàng, một sự gợi mở, mời gọi người đọc cùng suy tưởng và cảm nhận vẻ đẹp mong manh, tinh tế của sự chuyển mùa.
Như vậy, chúng ta đã cùng nhau đi qua tất cả các yêu cầu của bài tập. Cô hy vọng các em đã hiểu rõ từng bước làm và nắm vững kiến thức về các biện pháp tu từ cũng như thành phần tình thái. Hãy luôn yêu quý và khám phá vẻ đẹp của thơ ca dân tộc các em nhé!
Câu \(1.\)
\(a)\)
\(-\) Đoạn thơ trên trích trong bài thơ: “Mùa xuân nho nhỏ”
\(-\) Tác giả: Thanh Hải
\(-\) Hoàn cảnh sáng tác:
\(+\) Viết vào tháng 11/1980
\(+\) Trong hoàn cảnh đất nước đã thống nhất, đang xây dựng cuộc sống mới nhưng còn vô vàn khó khăn gian khổ, thử thách
\(+\) Bài thơ được sáng tác không đầy một tháng trước khi nhà thơ qua đời.
\(b)\)
\(-\) Biện pháp tu từ:
\(+\) Đảo ngữ “mọc”
\(=>\) Tác dụng:
\(+\) Đem lại cảm giác linh hoạt trong câu thơ đã đem lại sự thú vị cho câu thơ.
\(+\) Động từ “mọc” được đảo lên đầu câu thơ để tô đậm, gợi ra sức sống mạnh mẽ đến bất ngờ, mãnh liệt của một bông hoa tím giữa dòng sông xanh. Qua đó nhằm nhấn mạnh sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên, đất trời.
\(-\) Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”
\(->\) Tác giả tưởng tượng như những tiếng hót vang trời của loài chim chiền chiện hóa thành những giọt nước trong xanh mà ta có thể hứng được.
\(=>\) Tác dụng:
\(+\) Với bút pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác từ thính giác đến thị giác và xúc giác “hứng” đó là sự trân trọng vẻ đẹp của thi nhân đối với vẻ đẹp của sự sống, của đất trời, của chim, đó cũng là sự đồng cảm của nhà thơ trước thiên nhiên, cuộc đời.
\(+\) Gợi ra vẻ đẹp đầy sức sống của đất trời khi vào xuân. Tác giả cũng như muốn hòa mình vào cái không gian trong xanh tràn đầy màu sắc và âm thanh ấy.
Câu \(2.\)
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
\(-\) Thành phần tình thái: Hình như
\(->\) Tác dụng:
\(-\) Gợi cảm giác mơ hồ, mong manh, chưa thật rõ nét.
\(-\) Gợi cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến của nhà thơ Hữu Thỉnh trước mùa thu sang còn có phần chầm chậm tiếc nuối.
*) Đoạn thơ trên trích trong bài thơ:Mùa xuân nho nhỏ.
-Tác giả: Thanh Hải.
-Hoàn cảnh sáng tác bài thơ:Mùa xuân nho nhỏlà tác phẩm cuối cùng của nhà thơ Thanh Hải, được viết vào tháng 11 năm 1980 khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh,chỉ ít ngày nữa là vĩnh viễn ra đi vào cõi vĩnh hằng.
*Biện pháp tu từ thứ nhất: Phép đảo ngữ từ “mọc” lên đầu câu.
-Tác dụng:
+Làm cho câu thơ sinh động,hấp dẫn.
+Nhấn mạnh trạng thái tồn tại của sự vật. Đó là sắc hoa tím biếc nổi bật lên giữa dòng sông mùa xuân.
+Thể hiện sự cảm nhận tinh tế của tác giả trước vẻ đẹp đầy sức sống của mùa xuân…
*Biện pháp tu từ thứ hai: ẩn dụ chuyển đổi cảm giác :“Từng giọt long lanh rơi / Tôi đưa tay tôi hứng”
-Tác dụng:
+Làm cho câu thơ thêm sinh động,hấp dẫn.
+Cho thấy tác giả cảm nhận rất tinh tế âm thanh tiếng chim. Tiếng chim hót vốn được cảm nhận bằng thính giác nhưng Thanh Hải cảm tưởng như tiếng chim kết đọng lại thành từng giọt, có thể hứng được bằng tay.
+Phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác đã chứng tỏ rằng tác giả đang mở rộng tâm hồn mình để cảm nhận bức tranh thiên nhiên bằng nhiều giác quan khác nhau. Cũng theo đó mà bức tranh thiên nhiên mùa xuân hiện lên đầy ấn tượng, có cả hình ảnh, màu sắc và âm thanh, không gian bức tranh mùa xuân cũng được mở rộng, hết sức khoáng đạt gồm cả không gian tầng thấp và tầng cao, gồm cả dòng sông và bầu trời.
Câu 2:
”Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về”
=>”Hình như” là thành phần biệt lập tình thái.
-Tác dụng:
+Gợi cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến đến lạ của tác giả trước bước chuyển mùa còn có phần chầm chậm tiếc nuối.
+Gợi cảm giác mơ hồ mong manh, chưa thật rõ nét.
+Thể hiện cảm giác mơ hồ của tác giả khi thiên nhiên chuyển mình.