Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Đọc văn bản sau: Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông, Chúa Xuân đâu hỡi có hay khô…

Đọc văn bản sau:
Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa Xuân đâu hỡi có hay khô…

Đọc văn bản sau:
Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa Xuân đâu hỡi có hay không?
Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng.
Bờ cõi xưa đà chia đất khác,
Nắng sương nay há đội trời chung.
Chừng nào Thánh để ân soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.
(Xúc cảnh Nguyễn Đình Chiểu)
Thực hiện các yêu cầu sau:
1. Cho biết văn bản trên được viết bằng thể thơ nào?
2. Chỉ ra từ nào/cụm từ nào thể hiện tâm trạng mong đợi, trông ngóng của nhà thơ trong 2 câu thơ sau:
“Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng. “
3. Nhà thơ đã nhắc đến ai trong 2 câu thơ cuối:
“Chừng nào Thánh để ân soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.”
4. Em hiểu như thế nào về 2 câu thơ:
“Bờ cõi xưa đà chia đất khác,
Nắng sương nay há đội trời chung.”
5. Các từ ngữ, hình ảnh: “trông tin nhạn”, “bặt tiếng hồng” thể hiện ý nghĩa gì trong bài thơ?
6. Nhận xét về tâm trạng của tác giả trong bài thơ?
Hỏi bởi: Lê Phước Hiệp
2 câu trả lời
▲ 9
Chào các em học sinh yêu quý của cô! Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích một bài thơ giàu cảm xúc của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Các em hãy cùng đọc kỹ bài thơ “Xúc cảnh” và chúng ta sẽ đi vào từng yêu cầu nhé.

1. Văn bản trên được viết bằng thể thơ nào?

Để xác định thể thơ, chúng ta cần quan sát số câu, số chữ trong mỗi câu và vần.
Bài thơ có 8 câu.
Mỗi câu thơ có 7 chữ.
Ta thấy các chữ cuối của các câu 2, 4, 6, 8 đều vần với nhau (không, hồng, chung, sông).
Đây là đặc điểm của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

2. Chỉ ra từ nào/cụm từ nào thể hiện tâm trạng mong đợi, trông ngóng của nhà thơ trong 2 câu thơ sau:
“Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng.”

Trong hai câu thơ này, các từ ngữ/cụm từ thể hiện rõ tâm trạng mong đợi, trông ngóng của nhà thơ là:
“trông tin nhạn”: Nhạn là chim én, thường bay theo mùa. “Trông tin nhạn” thể hiện sự chờ đợi tin tức từ phương xa, từ phương Bắc.
“bặt tiếng hồng”: Hồng là chim hồng hoàng, cũng là loài chim báo hiệu mùa. “Bặt tiếng hồng” cho thấy sự vắng lặng, sự không còn những dấu hiệu quen thuộc, làm tăng thêm nỗi khắc khoải, chờ mong.

3. Nhà thơ đã nhắc đến ai trong 2 câu thơ cuối:
“Chừng nào Thánh để ân soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.”

Trong hai câu thơ cuối, nhà thơ nhắc đến “Thánh”. Đây là cách gọi trang trọng, kính cẩn chỉ vị vua, người có quyền lực tối cao, người có thể ban hành “ân” (sự thương xót, sự giúp đỡ). Nhà thơ mong chờ “Thánh” sẽ nhìn thấy, thấu hiểu nỗi lòng và ban cho sự giúp đỡ để “rửa núi sông”.

4. Em hiểu như thế nào về 2 câu thơ:
“Bờ cõi xưa đà chia đất khác,
Nắng sương nay há đội trời chung.”

Hai câu thơ này diễn tả một thực trạng đau lòng về đất nước bị chia cắt và nỗi xót xa của tác giả khi không còn chung một bầu trời, một cảnh ngộ như xưa.
“Bờ cõi xưa đà chia đất khác”: Trước đây, bờ cõi nước ta là một thể thống nhất. Nay, đất nước đã bị chia cắt thành những vùng đất khác nhau, sự toàn vẹn lãnh thổ không còn.
“Nắng sương nay há đội trời chung”: “Nắng sương” là hình ảnh ẩn dụ chỉ những hoàn cảnh, những sự kiện khắc nghiệt, những nỗi khổ. Cụm từ “đội trời chung” mang hai nghĩa:
– Theo nghĩa đen: cùng chung một bầu trời.
– Theo nghĩa bóng: cùng chung một cảnh ngộ, cùng chung số phận.
Câu thơ đặt ra câu hỏi tu từ “há” để nhấn mạnh sự chua xót, bất lực khi hiện tại, dù vẫn cùng sống dưới một bầu trời, nhưng con người ở hai miền đất nước lại không còn chung một cảnh ngộ, một sự đoàn kết như xưa. Họ đang phải chịu những hoàn cảnh khác nhau dưới bầu trời chung.

5. Các từ ngữ, hình ảnh: “trông tin nhạn”, “bặt tiếng hồng” thể hiện ý nghĩa gì trong bài thơ?

Các từ ngữ, hình ảnh “trông tin nhạn” và “bặt tiếng hồng” không chỉ đơn thuần là miêu tả cảnh vật mà còn mang những ý nghĩa sâu sắc, thể hiện tâm trạng và khát vọng của tác giả:

“Trông tin nhạn”:
Nghĩa đen: Chim nhạn thường bay theo mùa, là dấu hiệu của sự thay đổi thời tiết, mang theo tin tức từ nơi xa. Việc “trông tin nhạn” thể hiện sự mong mỏi, chờ đợi một tín hiệu, một tin tức nào đó từ phương Bắc (nơi có thể có tin tức về triều đình, về tình hình đất nước).
Ý nghĩa biểu tượng: Biểu tượng cho sự xa cách, sự cô lập, sự bế tắc trong việc nắm bắt thông tin. Nỗi mong chờ này còn là mong chờ một sự thay đổi tích cực, một hy vọng được giải thoát khỏi cảnh ngộ hiện tại.

“Bặt tiếng hồng”:
Nghĩa đen: Chim hồng hoàng là loài chim đẹp, tiếng hót thanh tao, thường gắn liền với mùa xuân, với sự tươi vui. “Bặt tiếng hồng” có nghĩa là không còn nghe thấy tiếng chim hồng, tức là sự vắng lặng, thiếu vắng những âm thanh quen thuộc, báo hiệu một điều gì đó không còn tốt đẹp.
Ý nghĩa biểu tượng: Biểu tượng cho sự mất mát, sự suy tàn, sự thiếu vắng đi những điều tốt đẹp, những dấu hiệu của sự sống, của niềm vui. Sự vắng lặng này còn tô đậm thêm nỗi cô đơn, buồn tủi của tác giả trong hoàn cảnh đất nước chia cắt.

Kết hợp lại, hai hình ảnh này tạo nên một bức tranh u ám, vắng lặng, vừa thể hiện sự khắc khoải, mong chờ tin tức, vừa thể hiện nỗi xót xa trước sự mất mát, chia cắt của đất nước.

6. Nhận xét về tâm trạng của tác giả trong bài thơ?

Qua bài thơ “Xúc cảnh”, ta có thể nhận thấy tâm trạng chủ đạo của tác giả là sự xót xa, uất hận, đau đớn trước cảnh đất nước chia cắt, và nỗi mong mỏi, khát khao cháy bỏng về sự đoàn tụ, thống nhất, và một tương lai tươi sáng hơn.

Cụ thể, tâm trạng của tác giả được thể hiện qua:

Nỗi buồn man mác, sự băn khoăn, day dứt:
– “Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông, Chúa Xuân đâu hỡi có hay không?” thể hiện sự buồn bã, cảm thán trước cảnh vật tiêu điều, và sự băn khoăn, gọi hỏi đấng tạo hóa về tình hình đất nước.
Sự trông ngóng, mong mỏi và lo âu:
– “Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn, Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng” thể hiện rõ nỗi trông ngóng, chờ đợi tin tức từ phương xa, đồng thời cũng là sự lo âu khi mọi thứ trở nên vắng lặng, không có dấu hiệu tốt lành.
Nỗi đau đớn, xót xa trước thực tại:
– “Bờ cõi xưa đà chia đất khác, Nắng sương nay há đội trời chung” là sự thể hiện trực tiếp nỗi đau đớn, chua xót trước cảnh đất nước bị chia cắt, không còn là một thể thống nhất như xưa.
Niềm tin và khát vọng mãnh liệt:
– “Chừng nào Thánh để ân soi thấu, Một trận mưa nhuần rửa núi sông” lại bộc lộ niềm tin vào sự công bằng, mong muốn có một đấng bề trên thấu hiểu và ban cho sự giúp đỡ để hàn gắn, phục hồi đất nước. Đây là khát vọng thống nhất, thanh tẩy, làm cho đất nước tươi đẹp trở lại.

Tóm lại, tâm trạng của tác giả là một sự hòa quyện phức tạp giữa nỗi buồn, sự xót xa, nỗi lo âu trước hiện tại và niềm hy vọng, khát khao mãnh liệt về một tương lai tốt đẹp hơn cho non sông đất nước.

Các em thấy đó, chỉ với tám câu thơ thất ngôn bát cú Đường luật, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ nên một bức tranh tâm trạng đầy bi tráng và cảm động. Cô hy vọng qua bài học hôm nay, các em đã hiểu sâu hơn về bài thơ này. Hẹn gặp lại các em trong những tiết học tiếp theo!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 0

C1. Thể thơ thất ngôn bát cú

C2. trông tin, bặt tiếng

C3. Thánh đế

C4. Hiện thực đau đớn của đẩt nước khi đất nước bị chia cắt.

C5. Thể hiện ỗi niềm trông ngóng rất thực ở nhà thơ nhưng vẫn bặt vô âm tín.

C6. Tâm trạng đau buồn, luôn yêu nước thương dân.

Trả lời bởi: Trang Phạm

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo