Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Đọc văn bản: “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom kho…

Đọc văn bản:
“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom kho…

Đọc văn bản:
“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta”
(Qua Đèo Ngang – Bà huyện Thanh Quan)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2: Tìm những hình ảnh miêu tả cảnh Đèo Ngang.
Câu 3: Anh/chị hiểu như thế nào về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai câu thơ:
​​”Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
​​Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”
Câu 4: Nhận xét về nghệ thuật đối trong bài thơ trên.
Hỏi bởi: Hằng Kim
3 câu trả lời
▲ 5
Xin chào các em, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau phân tích bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan, một tác phẩm vô cùng quen thuộc và giàu cảm xúc trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 của chúng ta. Cô trò mình sẽ lần lượt đi qua từng câu hỏi để hiểu sâu hơn về vẻ đẹp của bài thơ này nhé.

***

Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản trên.

Các em hãy quan sát kỹ vào cấu trúc của bài thơ:
– Số câu: Bài thơ có 8 câu.
– Số chữ trong mỗi câu: Mỗi câu có 7 chữ.
– Vần: Các câu thơ gieo vần ở các chữ cuối cùng của các câu 2, 4, 6, 8 (tà, hoa, nhà, ta).
– Nhịp: Nhịp điệu của bài thơ chủ yếu là 4/3 (bốn chữ, ba chữ) hoặc 2/2/3 (hai chữ, hai chữ, ba chữ), tạo nên sự uyển chuyển, khoan thai.

Dựa vào những đặc điểm này, chúng ta có thể xác định thể thơ của bài “Qua Đèo Ngang” là thất ngôn bát cú Đường luật.

***

Câu 2: Tìm những hình ảnh miêu tả cảnh Đèo Ngang.

Để tìm những hình ảnh miêu tả cảnh Đèo Ngang, chúng ta sẽ lần lượt đi qua từng câu thơ và xem nhà thơ đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên nơi đây như thế nào.

– “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà”: Hình ảnh đầu tiên hiện lên là bóng xế tà, báo hiệu thời gian chiều tà sắp tắt, không gian bắt đầu nhuốm màu hoàng hôn.
– “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”: Đây là những hình ảnh rất cụ thể về thiên nhiên nơi Đèo Ngang. Ta thấy sự chen chúc, quấn quýt của cỏ cây với đá, sự rực rỡ, tươi tắn của lá và hoa, tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa hoang sơ, vừa có sức sống mãnh liệt.
– “Lom khom dưới núi tiều vài chú”: Hình ảnh tiều phu (người đốn củi) hiện ra với dáng vẻ lom khom, nhỏ bé dưới chân núi rộng lớn. Điều này gợi lên sự nhỏ nhoi, đơn độc của con người giữa thiên nhiên hùng vĩ.
– “Lác đác bên sông chợ mấy nhà”: Hình ảnh chợ họp lác đác bên sông với vài ngôi nhà thưa thớt, xa nhau. Hình ảnh này cho thấy sự vắng vẻ, yên ắng của vùng đất này.
– “Dừng chân đứng lại trời non nước”: Câu thơ này không miêu tả trực tiếp cảnh vật mà gợi lên một không gian bao la, rộng lớn của trời, núi non và sông nước khi nhân vật trữ tình dừng chân ngắm nhìn.

Tóm lại, những hình ảnh miêu tả cảnh Đèo Ngang bao gồm: bóng xế tà, cỏ cây chen đá, lá chen hoa, dáng vẻ lom khom của tiều phu, những ngôi nhà lác đác bên sông, và không gian trời non nước bao la.

***

Câu 3: Anh/chị hiểu như thế nào về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai câu thơ: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”?

Hai câu thơ này là hai câu thơ “thực” trong bài, thể hiện rõ nét nhất tâm trạng của nhân vật trữ tình. Để hiểu được, chúng ta cần phân tích từng câu.

– “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”:
– “Nhớ nước”: Từ “nước” ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là nhớ quê hương, đất nước. Nghĩa thứ hai, trong bối cảnh lịch sử phong kiến, “nhớ nước” còn có thể hiểu là nhớ đến vận mệnh của đất nước, lo lắng cho sự suy vong của triều đại.
– “Đau lòng”: Từ ngữ này thể hiện một nỗi buồn sâu sắc, day dứt, không nguôi.
– “Con quốc quốc”: Đây là tiếng kêu của chim quốc (còn gọi là chim đa đa, chim cuốc). Tiếng kêu này nghe buồn thương, ai oán, gợi cho người nghe cảm giác xót xa. Nhà thơ mượn tiếng chim để nói lên nỗi lòng mình. Khi nghe tiếng kêu “quốc quốc” (vốn đọc trại giống “bổn quốc” – nước ta), nhà thơ càng thêm xót xa, đau đớn cho tình cảnh của đất nước.

– “Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”:
– “Thương nhà”: Tương tự như “nhớ nước”, “thương nhà” cũng có thể hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là thương gia đình, thân tộc. Nghĩa thứ hai, trong bối cảnh của xã hội phong kiến, “nhà” còn có thể hiểu là nhà nước, triều đại.
– “Mỏi miệng”: Từ ngữ này diễn tả sự mệt mỏi, kiệt sức vì nói nhiều, khuyên can nhiều mà không được.
– “Cái gia gia”: Đây là tiếng kêu của chim đa đa, một loài chim hay kêu vào đêm. Tiếng kêu này cũng nghe buồn, não nề. Nhà thơ tiếp tục mượn tiếng chim để diễn tả sự mệt mỏi, bất lực của mình. Có lẽ nhà thơ đã từng cố gắng góp ý, khuyên can điều gì đó liên quan đến việc nước, việc nhà nhưng không được lắng nghe, nên cảm thấy mỏi mệt, chán nản.

Như vậy, qua hai câu thơ này, chúng ta thấy tâm trạng của nhân vật trữ tình là một nỗi buồn đau, xót xa, day dứt về vận mệnh của đất nước và gia đình. Nỗi buồn ấy không chỉ là nỗi buồn cá nhân mà còn là nỗi buồn của người có tấm lòng ưu ái, lo lắng cho thời thế. Tiếng chim quốc quốc và gia gia như đồng vọng, khơi gợi nỗi lòng khắc khoải, băn khoăn của nhà thơ khi đứng trước cảnh quan thiên nhiên và suy ngẫm về thời cuộc.

***

Câu 4: Nhận xét về nghệ thuật đối trong bài thơ trên.

Nghệ thuật đối là một trong những đặc sắc của thơ Đường luật và Bà huyện Thanh Quan đã vận dụng rất tinh tế, tài hoa trong bài thơ “Qua Đèo Ngang”. Chúng ta hãy cùng xem xét.

Trong bài thơ này, nghệ thuật đối được thể hiện rõ nhất ở hai câu thực:
– Câu 3: “Lom khom dưới núi tiều vài chú”
– Câu 4: “Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Chúng ta hãy phân tích sự đối nhau giữa hai câu này:
– Đối về thành phần ngữ pháp: “Lom khom” (tính từ/phó từ chỉ dáng vẻ) đối với “Lác đác” (tính từ/phó từ chỉ sự phân bố). “Dưới núi” (cụm giới từ chỉ vị trí) đối với “Bên sông” (cụm giới từ chỉ vị trí). “Tiều vài chú” (danh từ + số từ + danh từ chỉ người) đối với “Chợ mấy nhà” (danh từ + số từ + danh từ chỉ sự vật).
– Đối về ý nghĩa, hình ảnh:
– “Lom khom dưới núi” gợi lên sự nhỏ bé, đơn độc, khuất phục trước thiên nhiên hùng vĩ của con người.
– “Lác đác bên sông” gợi lên sự thưa thớt, vắng vẻ, yên tĩnh của cảnh vật.
– “Tiều vài chú” là hình ảnh con người.
– “Chợ mấy nhà” là hình ảnh cảnh vật, sự sống dân cư.
– Sự đối lập giữa “tiều” (người lao động vất vả) và “chợ” (nơi giao thương) cũng tạo nên một nét chấm phá cho bức tranh.

Ngoài ra, còn có sự đối nhau ở hai câu thơ tiếp theo, mặc dù không chặt chẽ bằng:
– Câu 5: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”
– Câu 6: “Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

Phân tích sự đối nhau:
– “Nhớ nước” đối với “Thương nhà”.
– “Đau lòng” đối với “Mỏi miệng”.
– “Con quốc quốc” đối với “Cái gia gia” (cùng là tiếng chim, cùng là âm thanh gợi buồn).

Ý nghĩa của nghệ thuật đối trong bài thơ:
Tăng tính chặt chẽ, cân đối cho cấu trúc bài thơ: Nghệ thuật đối giúp bài thơ có một hệ thống hình ảnh, ý tứ được sắp xếp hài hòa, nhịp nhàng.
Làm nổi bật ý nghĩa, khắc họa hình ảnh rõ nét hơn: Khi đặt các hình ảnh, ý tứ đối lập cạnh nhau, chúng ta càng cảm nhận rõ hơn về sự cô đơn, vắng vẻ của cảnh Đèo Ngang, cũng như nỗi niềm sâu kín của nhân vật trữ tình.
Thể hiện tài năng, sự tinh tế của tác giả: Việc vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo nghệ thuật đối đã khẳng định tài năng làm thơ bậc thầy của Bà huyện Thanh Quan.

Nghệ thuật đối trong “Qua Đèo Ngang” không chỉ là một kỹ thuật tu từ mà còn là phương tiện đắc lực để thể hiện chiều sâu tư tưởng và cảm xúc của tác phẩm.

***

Các em thân mến, chúng ta vừa cùng nhau phân tích xong bài thơ “Qua Đèo Ngang”. Cô hy vọng qua buổi học hôm nay, các em không chỉ nắm vững kiến thức mà còn cảm nhận được vẻ đẹp lay động lòng người của thi phẩm này. Cô khuyến khích các em đọc lại bài thơ, tự mình cảm nhận và suy ngẫm nhé.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 3

Câu 1:  Thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2.

  Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

  Lom khom dưới núi tiều vài chú

  Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Câu 3.

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái da da

Điệp âm “con cuốc cuốc” và “cái da da” đã tạo nên âm hưởng dìu dặt, du dương nhưng vô cùng não nề thấm đến tâm can. Người lữ khách đường xa nghe vẳng vẳng tiếng cuốc và da da kêu mà lòng quạnh hiu, buồn tái tê. Thủ pháp lấy động tả tĩnh của tác giả thật đắc điệu, trên cái nền tĩnh lặng, quanh quẽ bồng nhiên có tiếng chim kêu thực sự càng thêm não nề và thê lương. Nghe tiếng cuốc, tiếng da da mà tác giả “nhớ nước” và “thương nhà”. Thương cảnh nước nhà đang chìm trong cảnh loạn lạc, gia đình li tan; thương cho thân gái phải xa nhà quạnh hiu, đơn độc. Nỗi lòng của bà huyện thanh quan như sâu thẳm tầng mây, trùng trùng điệp điệp không dứt.

Câu 4.

Bài thơ Qua đèo Ngang còn sử dụng nghệ thuật đối như: nhớ với thương; nước với nhà hay đau lòng với mỏi miệng. Việc đối ý thể hiện qua tâm trạng của chính nhà thơ. Đối thanh, lối chơi chữ đồng âm khác nghĩa cũng được bà huyện Thanh Quan sử dụng. Đó là cuốc cuốc với quốc, đất nước với gia gia với nước nhà.

 

Trả lời bởi:
▲ 0

Câu 1:

“Qua đèo ngang” là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật (gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ).

Câu 2:

  • Hai câu đề: Cảnh vật thiên nhiên nơi Đèo Ngang.
  • Hai câu thực: Cuộc sống con người nơi Đèo Ngang.
  • Hai câu luận: Tâm trạng nhớ nhà của nhà thơ khi đứng trước Đèo Ngang.
  • Hai câu kết: Nỗi cô đơn tột cùng của nhà thơ.

Câu 3:

Bài thơ đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước thương nhà.

Câu 4:

Vận dụng thể thơ thất ngôn bát cú, biện pháp tu từ đảo ngữ, hình ảnh tượng trưng ước lệ…
                                           MONG ĐC HAY NHẤT ẠK

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo