Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Image 1

hãy làm một bài văn dài ”phân tích 4 câu đầu bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm…

hãy làm một bài văn dài ”phân tích 4 câu đầu bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm…

hãy làm một bài văn dài ”phân tích 4 câu đầu bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm .ko spam ,sao chép , ,”tự làm ”
chụp hay ghi trực tiếp cx được
hoàn thành đúng được 50 đ và 5 sao ,1 trả lời hay nhất ,1 lời cảm ơn nhé cảm ơn rất nhiều mk đang cần gấp để thi
Hỏi bởi:
2 câu trả lời

▲ 3

Chào em học sinh thân mến!

Thầy/Cô rất vui khi nhận được yêu cầu phân tích một trong những tác phẩm kinh điển của văn học trung đại Việt Nam, bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đây là một bài thơ không chỉ giàu giá trị nghệ thuật mà còn ẩn chứa những triết lí sống sâu sắc, rất phù hợp để chúng ta khám phá và học hỏi. Để đạt được kết quả tốt nhất trong bài kiểm tra, chúng ta sẽ đi theo các bước cụ thể và có hệ thống nhé.

Trước hết, chúng ta cần nắm vững dàn ý chung cho một bài văn phân tích thơ. Sau đó, chúng ta sẽ lần lượt triển khai từng phần một cách chi tiết.

DÀN Ý CHI TIẾT PHÂN TÍCH 4 CÂU THƠ ĐẦU BÀI “NHÀN” CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

I. Mở bài:

  1. Giới thiệu tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình): Một danh nhân văn hóa, nhà thơ lớn của thế kỉ XVI, sống trong thời kì xã hội loạn lạc, mang trong mình tư tưởng triết lí và bản lĩnh kiên cường.
  2. Giới thiệu tác phẩm “Nhàn”: Bài thơ Nôm tiêu biểu, thể hiện rõ nhất triết lí sống “nhàn” độc đáo của nhà thơ.
  3. Nêu vấn đề cần phân tích: Bốn câu thơ đầu đã mở ra bức tranh cuộc sống ung dung, tự tại và đồng thời bộc lộ triết lí “dại – khôn” sâu sắc, mang đậm dấu ấn cá nhân của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

II. Thân bài:

  1. Luận điểm 1: Bức tranh cuộc sống đời thường, giản dị, tự tại của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Câu 1-2).
    • Câu 1: “Một mai, một cuốc, một cần câu,”
      • Nghệ thuật:
        • Điệp ngữ “một” được lặp đi lặp lại ba lần.
        • Phép liệt kê ba vật dụng quen thuộc của người nông dân.
      • Phân tích:
        • Điệp ngữ “một” không chỉ nhấn mạnh sự đơn sơ, tối thiểu mà còn gợi lên sự đủ đầy, tự túc, không cần bon chen, không cần dựa dẫm. Nó như lời khẳng định về một cuộc sống chủ động, tự làm chủ.
        • Các hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” là những công cụ lao động quen thuộc của nhà nông, gợi lên cuộc sống gắn liền với ruộng vườn, sông nước, hòa mình vào thiên nhiên. Đây không phải là cuộc sống nhàn rỗi, hưởng thụ, mà là cuộc sống lao động chân tay, tự cung tự cấp, thoát ly hoàn toàn khỏi vòng danh lợi.
        • → Câu thơ mở ra một không gian sống yên bình, giản dị, không chút vướng bận thị phi, đúng như tên gọi của bài thơ.
    • Câu 2: “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.”
      • Nghệ thuật:
        • Từ láy “thơ thẩn”.
        • Cụm từ biểu cảm “dầu ai vui thú nào”.
      • Phân tích:
        • Từ láy “thơ thẩn” gợi tả dáng vẻ khoan thai, ung dung, tự tại, không vội vã, không lo toan. Đó là trạng thái của một tâm hồn hoàn toàn thư thái, nhẹ nhõm, không bị ràng buộc bởi công việc hay áp lực cuộc sống.
        • Cụm từ “dầu ai vui thú nào” thể hiện thái độ khoáng đạt, tự do, phớt lờ mọi sự bon chen, tranh giành của thế gian. Nhà thơ mặc kệ những người khác đang chạy theo danh lợi, quyền uy; ông tìm thấy niềm vui riêng trong cuộc sống giản dị của mình. Đây là một thái độ dứt khoát, dứt bỏ hoàn toàn với thế tục.
        • → Hai câu thơ đầu là lời giới thiệu đầy tự tin về một lối sống mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chủ động lựa chọn, một cuộc sống tuy đơn sơ về vật chất nhưng lại vô cùng giàu có về tinh thần.
  2. Luận điểm 2: Triết lí “dại – khôn” sâu sắc, thể hiện bản lĩnh và thái độ sống của nhà thơ (Câu 3-4).
    • Cặp câu 3-4: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
      Người khôn, người đến chốn lao xao.”
      • Nghệ thuật:
        • Phép đối lập chặt chẽ, đăng đối từng vế: “Ta dại” đối với “Người khôn”, “nơi vắng vẻ” đối với “chốn lao xao”, và cả hành động “tìm” đối với “đến”.
        • Điệp ngữ “ta”, “người”.
      • Phân tích:
        • “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”:
          • Cách xưng hô “ta” đầy bản lĩnh, khẳng định cá tính và lập trường riêng.
          • Việc tự nhận mình là “dại” của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là sự tự ti mà là một cách nói khiêm tốn đầy thâm thúy. Cái “dại” của ông thực chất là cái khôn của bậc đại trí. Ông “dại” vì không ham danh lợi, không bám víu quyền thế, mà lại chọn “nơi vắng vẻ” – chốn quê nhà bình yên, thoát khỏi vòng xoáy thị phi. Đây là sự lựa chọn sáng suốt để bảo toàn khí tiết, phẩm giá của một nhà Nho chân chính giữa thời loạn.
        • “Người khôn, người đến chốn lao xao”:
          • “Người khôn” ở đây là chỉ những kẻ bon chen, tranh giành, mưu cầu danh lợi, quyền thế trong chốn quan trường.
          • “Chốn lao xao” là hình ảnh ẩn dụ cho chốn triều đình, những nơi đầy rẫy thị phi, cạm bẫy, đấu đá, tranh giành quyền lực.
          • Bằng phép đối lập sắc sảo, nhà thơ đã lật ngược quan niệm “khôn – dại” thông thường. Những người tưởng là “khôn” khi lao vào chốn danh lợi thực chất lại là những người dại dột, đánh đổi sự thanh thản, an yên để nhận lấy hiểm nguy, phiền muộn. Ngược lại, cái “dại” của Nguyễn Bỉnh Khiêm lại là sự lựa chọn trí tuệ, tỉnh táo.
        • → Hai câu thơ này không chỉ thể hiện triết lí sống của riêng Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn là một lời bình luận sâu cay về thời cuộc, về bản chất của danh lợi và quyền lực, đồng thời là lời răn dạy cho những ai còn đang bị mê hoặc bởi những giá trị phù phiếm.
    • Khái quát nghệ thuật và nội dung của 4 câu thơ đầu:
      • Nghệ thuật: Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị nhưng hàm súc; hình ảnh gần gũi, đời thường; nghệ thuật đối lập, điệp ngữ được sử dụng tài tình, tạo nên sắc thái triết lí sâu sắc.
      • Nội dung: 4 câu thơ không chỉ phác họa cuộc sống ẩn dật, thanh bạch mà còn là lời tuyên ngôn cho triết lí “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và cái nhìn sắc sảo của ông về cuộc đời.

III. Kết bài:

  1. Khẳng định lại giá trị của 4 câu thơ đầu: Là những câu thơ mở đầu ấn tượng, gói trọn tinh thần chủ đạo của bài thơ “Nhàn”, đồng thời bộc lộ tài năng và khí phách của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
  2. Tổng kết ý nghĩa của triết lí “nhàn”: Không chỉ là một lối sống mà còn là một tư tưởng cao đẹp, vượt lên trên những toan tính đời thường, có giá trị nhân văn sâu sắc.
  3. Liên hệ mở rộng (nếu có thể): Triết lí sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn nguyên giá trị trong xã hội hiện đại, nhắc nhở chúng ta về sự cân bằng giữa vật chất và tinh thần, giữa danh lợi và an yên.

BÀI VĂN PHÂN TÍCH HOÀN CHỈNH

Chào em học sinh thân mến!

Trong kho tàng văn học dân tộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỉ XVI) nổi lên như một ngọn hải đăng trí tuệ và nhân cách. Giữa buổi loạn lạc của lịch sử, khi triều đình nhà Lê suy yếu, chúa Mạc tiếm quyền, ông đã chọn con đường ẩn dật, về quê dạy học, bốc thuốc, sống một cuộc đời thanh bạch, ung dung. Triết lí sống ấy được ông gửi gắm một cách tài tình và sâu sắc trong bài thơ Nôm nổi tiếng mang tựa đề “Nhàn”. Bốn câu thơ đầu của bài thơ không chỉ là lời giới thiệu về cuộc sống mà ông đã lựa chọn mà còn là sự thể hiện triết lí “dại – khôn” độc đáo, mang đậm bản lĩnh của một nhà Nho chân chính, một bậc đại trí. Chúng ta hãy cùng nhau khám phá từng lớp ý nghĩa của đoạn thơ này nhé.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phác họa một bức tranh cuộc sống giản dị, chân thực đến ngỡ ngàng, gói gọn trong hai câu:

“Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.”

Chỉ với một câu thơ ngắn gọn, nhà thơ đã liệt kê ba vật dụng hết sức quen thuộc của người dân quê: “mai”, “cuốc”, “cần câu”. Đặc biệt, điệp ngữ “một” được lặp đi lặp lại ba lần như một điểm nhấn đầy dụng ý nghệ thuật. Nó không chỉ đơn thuần là số từ chỉ sự ít ỏi, đơn sơ, mà còn nhấn mạnh một cuộc sống tự túc, đủ đầy, không cần bon chen, không cần dựa dẫm vào ai. Các hình ảnh này không chỉ gợi ra những công việc lao động chân tay giản dị như làm vườn, đánh cá mà còn mở ra một không gian sống hoàn toàn hòa mình vào thiên nhiên: ruộng vườn, ao cá, bầu trời bao la. Đó là một cuộc sống tự chủ, tự cung tự cấp, một cuộc sống đúng nghĩa của người dân chốn quê. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã giã từ chốn quan trường đầy cạm bẫy để trở về với những giá trị nguyên sơ, chân thật nhất của đời sống, khẳng định sự lựa chọn “nhàn” của mình không phải là nhàn rỗi mà là nhàn trong tâm hồn, an nhiên trong lao động.

Tiếp nối mạch thơ, câu thứ hai đã bộc lộ rõ hơn tâm thái của chủ thể trữ tình: “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.” Từ láy “thơ thẩn” gợi lên dáng vẻ ung dung, tự tại, nhẹ nhàng, khoan thai, không một chút vướng bận lo toan. Đó là một trạng thái tâm hồn hoàn toàn thư thái, không bị trói buộc bởi công danh, phú quý. Đi kèm với nó là cụm từ “dầu ai vui thú nào” như một lời tuyên ngôn khoáng đạt, phớt lờ mọi bon chen, tranh giành của thế sự. Nhà thơ không quan tâm đến những vinh hoa phú quý mà người đời đang chạy theo; ông tự tìm thấy niềm vui và sự an lạc trong cuộc sống giản dị của riêng mình. Có thể thấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hoàn toàn dứt bỏ khỏi vòng danh lợi, dứt bỏ mọi hệ lụy của chốn quan trường để sống một cuộc đời thảnh thơi, tự do tự tại. Hai câu thơ đầu tiên đã là lời giới thiệu đầy tự tin về một lối sống mà ông đã chủ động lựa chọn, một cuộc sống tuy đơn sơ về vật chất nhưng lại vô cùng giàu có về tinh thần.

Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cuộc sống, bốn câu thơ đầu còn là nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi gắm triết lí sống sâu sắc của mình, đặc biệt được thể hiện rõ nét qua hai câu cuối:

“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.”

Cặp câu thơ này sử dụng nghệ thuật đối lập vô cùng sắc bén và chặt chẽ, tạo nên sự đăng đối ở từng vế: “Ta dại” đối với “Người khôn”, “nơi vắng vẻ” đối với “chốn lao xao”. Cách xưng hô “ta” đầy bản lĩnh không chỉ khẳng định cá tính mà còn thể hiện một lập trường kiên định của nhà thơ. Việc tự nhận mình là “dại” của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là sự tự ti hay yếu đuối, mà thực chất là một cách nói khiêm tốn nhưng chứa đựng sự khôn ngoan sâu sắc của bậc đại trí (đại trí nhược ngu). Ông “dại” vì không ham hố danh vọng, quyền chức, mà chọn “nơi vắng vẻ” – tức là chốn quê nhà bình yên, thoát khỏi những sóng gió của chốn quan trường. Đây là một sự lựa chọn sáng suốt, tỉnh táo để bảo toàn phẩm giá, khí tiết của một nhà Nho chân chính giữa thời cuộc nhiễu nhương.

Đối lập với “ta dại” là “người khôn” – những kẻ ham danh, ham lợi, dấn thân vào chốn triều đình. Và cái giá phải trả cho cái “khôn” ấy là phải tìm đến “chốn lao xao”, một hình ảnh ẩn dụ đầy sức gợi về nơi ồn ào, xô bồ, đầy thị phi, cạm bẫy, nơi con người phải đấu đá, tranh giành quyền lực, lợi lộc. Bằng phép đối lập tài tình này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lật ngược quan niệm “khôn – dại” thông thường của xã hội. Những người tưởng là “khôn” khi lao vào vòng xoáy danh lợi thực chất lại là những người dại dột, bởi họ phải đánh đổi sự thanh thản, an yên của bản thân để nhận lấy hiểm nguy và phiền muộn. Ngược lại, cái “dại” của Nguyễn Bỉnh Khiêm lại là sự lựa chọn trí tuệ, một cách sống cao thượng, bảo toàn được nhân cách và sự bình an trong tâm hồn.

Tóm lại, bốn câu thơ đầu của bài “Nhàn” là một bức tranh sống động về cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đồng thời là lời tuyên ngôn cho triết lí sống “nhàn” đầy bản lĩnh. Với ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị nhưng hàm súc, cùng nghệ thuật đối lập sắc sảo, nhà thơ đã thể hiện một cách sâu sắc cái nhìn của mình về cuộc đời, về danh lợi và về giá trị của sự an nhiên tự tại. Triết lí “dại – khôn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ mang ý nghĩa thời đại sâu sắc mà còn là bài học vượt thời gian, nhắc nhở chúng ta về việc tìm kiếm những giá trị đích thực của cuộc sống, giữa bộn bề lo toan của thế giới hiện đại.

Thầy/Cô tin rằng với cách phân tích từng bước này, em sẽ nắm vững được kiến thức và tự tin làm tốt bài thi của mình. Cố gắng lên em nhé!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 1

Nguyễn Bỉnh Khiêm hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Ông đỗ Trạng nguyên, làm quan rồi xin cáo quan về ở ẩn, dựng am Bạch Vân. Ông cũng là nhà thơ lớn của dân tộc với tập thơ chữ Hán “Bạch Vân thi tập” với khoảng 700 bài và tập thơ chữ Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” với khoảng trên 170 bài. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lý, giáo huấn, ngợi ca ý chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời phê phán những điều xấu  trong xã hội. “Nhàn” là bài thơ độc đáo của Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong đó, bốn câu đầu của bài để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc. 

    “Nhàn” là bài thơ Nôm số 73 trong “Bạch Vân quốc ngữ thi tập”. Bài thơ làm theo thể thơ thất ngôn bát cú. Những câu thơ là lời ca ngợi cuộc sống thanh nhàn với muôn ngàn vui thú. Qua đó toát lên vẻ đẹp nhân cách và trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong bài, hai câu đề và hai câu luận, bốn câu thơ đã tái hiện bức tranh cuộc sống thuần hậu, hòa hợp với thiên nhiên ở am Bạch Vân của thi nhân. Còn hai câu luận và hai câu kết giúp ta hiểu hơn về vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ.

Cuộc sống thuần hậu nơi thôn dã được khắc họa ngay trong hai câu thơ đề của bài:

Một mai, một quốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

        Hiện ngay trước mắt người đọc là Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn như một lão nông thực thụ.  Thi nhân nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối của cuộc sống đậm chất dân quê. . Số từ “một” xuất hiện trong câu thơ gợi cái ít ỏi. Cùng với đó là liệt kê: mai, cuốc, cần câu, nhịp thơ 2/2/3 đã tô đậm sự lựa chọn, tìm về với lối sống bình dị, thuần hậu, vui với thú điền viên nơi thôn dã của thi nhân. Dáng vẻ “thơ thẩn” được phát họa trong câu thơ thứ hai “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”. Từ láy “Thơ thẩn” giúp ta hình dung vẻ ung dung, bình thản của nhà thơ. Thực ra, sự hiện diện của “mai, quốc, cần câu” chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Đằng sau nghệ thuật liệt kê, ta nhận thấy những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả với những điều bình dị, mộc mạc. Thực tế, nhà thơ đã sẵn sàng, đã vui vì thấy đủ. Chữ “ai” vốn đề nói về người, còn ở đây nhà thơ dùng để nói chính mình.

Vẻ đẹp nhân cách nhà thơ hiện lên trongcâu thơ thực với thái độ sống khác người đầy bản lĩnh:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn người đến chốn lao xao

         Hai câu thực phân biệt rõ nhà thơ với những “ai”, với những “vui thú nào”. Điệp từ “ta”,“người” cùng phép đối trong hai câu thơ tạo thành hai đối cực: một bên là nhà thơ  xưng “Ta” ngạo nghễ, một bên là “người”, một bên là dại của “ta”, một bên là khôn của “người”, một “nơi vắng vẻ” với một “chốn lao xao”. Đằng sau những đối lập ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định thái độ sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hình ảnh “Nơi vắng vẻ” được hiểu là nơi không có hoặc có ít người qua lại. Còn trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nơi đây được hiểu là thiên nhiên yên tĩnh mang lại cho thi nhân sự thảnh thơi, thoải mái trong tâm hồn. “Chốn lao xao” chính là chốn xô bồ, ồn ào, đông đúc, đủ mọi hạng người. Đó là nơi quan trường danh lợi, bon chen, luồn cúi, hiểm độc. Ẩn dụ “nơi vắng vẻ, chốn lao xao” kết hợp với cách nói ngược “ta dại – người khôn” giúp ta hình dung về thái độ mỉa mai của nhà thơ với cách sống tham lam danh vọng quyền quý. Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ động trong việc tìm “nơi vắng vẻ” – không vướng bụi trần. Trạng Trình cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay nhằm phê phán xã hội chạy theo danh lợi. Quan niệm sống: Lánh đục về trong để di dưỡng cho tâm hồn được an nhiên, khoáng đạt của Nguyễn Bỉnh Khiêm thật đáng trân.

Bốn câu thơ nói riêng, bài thơ nói chung là thành công của tác giả khi sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú. Việc kết hợp hài hòa hình ảnh liệt kê, điệp ngữ cùng điển tích, điển cố giúp  ta có cái nhìn sinh động hơn về cuộc sống, về trí tuệ của thi nhân. Giọng điệu cảm xúc của tác giả cũng góp phần làm sáng lên bức tranh cuộc sống và thể hiện sâu sắc tâm hồn trí tuệ của tác giả. Từ đó mà bạn đọc hiểu hơn về cách sống, cách nghĩ, quan niệm nhàn của thi nhân.

Bài thơ như lời tâm sự thâm trầm sâu sắc, khẳng định quan điểm sống nhàn là hòa hợp với tự nhiên nhằm giữ cốt cách thanh cao vượt lên trên danh lợi. Bài thơ bao quát toàn bộ triết lý, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn nhân cách của bậc đại ẩn là tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập triệt để với xã hội phong kiến trên con đường thối nát. Vẻ đẹp cuộc sống và vẻ đẹp nhân cách sáng lòa trong những câu thơ. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhàn thân mà không nhàn tâm.

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo