Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Image 1

I. Đọc hiểu : Bài ca Côn Sơn Côn Sơn suối chảy rì rầm…

I. Đọc hiểu :
Bài ca Côn Sơn
Côn Sơn suối chảy rì rầm…

I. Đọc hiểu :
Bài ca Côn Sơn
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tại.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đã như ngồi chiếu êm.
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có rúc bóng râm,
Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
(Nguyễn Trãi)
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên?
Câu 2. Hãy liệt kê các hình ảnh, chi tiết miêu tả vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên ở Côn Sơn?
Câu 3. Xác định biện pháp tu từ và tác dụng của biện pháp tu từ đó trong câu thơ:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Câu 4. Văn bản trên đề cập đến nội dung gì?
Câu 5. Từ nội dung đoạn trích của phần Đọc hiểu, hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 150 chữ) trinh bày ý kiến của anh/chị về mối quan hệ giữa sự thay đổi và thành công của con người trong cuộc sống.
Hỏi bởi: Quỳnh Thi
2 câu trả lời

▲ 4
Chào các em, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau phân tích bài thơ “Bài ca Côn Sơn” của Nguyễn Trãi, một tác phẩm tuyệt vời thể hiện tâm hồn cao đẹp của người xưa giữa thiên nhiên thanh tịnh. Chúng ta sẽ đi lần lượt từng câu hỏi nhé.

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên?

Bước 1: Quan sát số tiếng trong mỗi câu thơ.
Ta đếm số tiếng trong từng câu thơ:
Câu 1: Côn Sơn suối chảy rì rầm (6 tiếng)
Câu 2: Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. (8 tiếng)
Câu 3: Côn Sơn có đá rêu phơi, (6 tiếng)
Câu 4: Ta ngồi trên đã như ngồi chiếu êm. (8 tiếng)
Câu 5: Trong ghềnh thông mọc như nêm, (7 tiếng)
Câu 6: Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. (8 tiếng)
Câu 7: Trong rừng có rúc bóng râm, (7 tiếng)
Câu 8: Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn. (8 tiếng)

Quan sát thấy số tiếng trong các câu thơ không đồng đều, có câu 6 tiếng, câu 7 tiếng, câu 8 tiếng.

Bước 2: Quan sát cách gieo vần.
Ta nhận thấy các tiếng cuối các câu thơ có sự tương ứng về vần:
“rì rầm” – “bên tai” (vần “am” – “ai” không cùng vần)
“rì rầm” – “chiếu êm” (vần “am” – “êm” có sự tương ứng về âm cuối)
“bên tai” – “nằm” (vần “ai” – “am” không cùng vần)
“chiếu êm” – “nêm” – “nhàn” (vần “êm” – “êm” – “àn” có sự tương ứng về âm cuối)
“nằm” – “râm” (vần “am” – “âm” có sự tương ứng về âm cuối)

Tuy nhiên, cách gieo vần ở đây không theo một quy tắc chặt chẽ như thơ Đường luật. Các tiếng “rì rầm”, “bên tai”, “chiếu êm”, “nêm”, “nằm”, “bóng râm”, “thơ nhàn” tạo nên những điểm nhấn nhịp điệu và liên kết ý nghĩa.

Bước 3: Dựa vào đặc điểm về số tiếng và cách gieo vần.
Với đặc điểm số tiếng không cố định và cách gieo vần thoáng, không gò bó, bài thơ thuộc thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật biến thể hoặc có thể xem là thể thơ lục bát biến thể hoặc thơ tự do mang âm hưởng dân gian. Tuy nhiên, với cấu trúc 8 câu, mỗi câu 6 hoặc 8 chữ, có vần chân xen kẽ và nhịp điệu tương đối đều đặn, ta có thể phân tích như sau:
– 2 câu đầu có 6 và 8 tiếng.
– 2 câu tiếp theo có 6 và 8 tiếng.
– 2 câu tiếp theo có 7 và 8 tiếng.
– 2 câu cuối có 7 và 8 tiếng.

Nhìn chung, bài thơ này không tuân thủ nghiêm ngặt thể thơ nào truyền thống mà mang tính phóng khoáng, tự do, thể hiện rõ nét cảm xúc của tác giả. Tuy nhiên, cách gieo vần và nhịp điệu cho thấy sự ảnh hưởng của thể thơ lục bát hoặc thất ngôn. Đối với chương trình lớp 11, ta có thể xác định đây là một bài thơ biến thể từ thể thơ lục bát hoặc thất ngôn, mang đậm tính dân gian, trữ tình. Một cách phân tích phổ biến và chính xác là nhận định đây là thể thơ lục bát biến thể hoặc thơ tự do có nhịp điệu.

Vì các câu 6, 7, 8 tiếng xuất hiện xen kẽ và có vần chân, ta có thể xem đây là một biến thể của lục bát hoặc thất ngôn tứ tuyệt, nhưng có sự phóng khoáng hơn. Tuy nhiên, với số câu là 8, ta có thể xem xét nó gần với thể thơ thất ngôn, nhưng số tiếng không cố định. Cách gieo vần “rì rầm” – “chiếu êm” – “nêm” – “râm” cho thấy sự liên kết vần “âm”.

Do vậy, đáp án chính xác nhất trong trường hợp này, xét theo cấu trúc và cách gieo vần, có thể coi là một dạng thơ tự do có nhịp điệu hoặc lục bát biến thể. Tuy nhiên, nếu phải chọn một thể thơ gần nhất trong các thể thơ truyền thống thì sự biến đổi này có thể mang âm hưởng của thất ngôn bát cú Đường luật nhưng đã được biến đổi rất nhiều về số chữ và luật bằng trắc.
Trong bối cảnh chương trình sách giáo khoa, ta có thể tạm xác định là thơ tự do có nhịp điệu mang âm hưởng dân gian.

Câu 2. Hãy liệt kê các hình ảnh, chi tiết miêu tả vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên ở Côn Sơn?

Bước 1: Đọc kỹ từng câu thơ và tìm các yếu tố miêu tả cảnh vật.
Ta lướt qua từng câu thơ và ghi lại những hình ảnh, chi tiết liên quan đến thiên nhiên:
– “Côn Sơn suối chảy rì rầm” => Hình ảnh: suối chảy, âm thanh: rì rầm.
– “Côn Sơn có đá rêu phơi” => Hình ảnh: đá, đặc điểm: có rêu phơi.
– “Trong ghềnh thông mọc như nêm” => Hình ảnh: ghềnh, cây thông, đặc điểm: mọc như nêm.
– “Trong rừng có rúc bóng râm” => Hình ảnh: rừng, ánh sáng: bóng râm.
– “Trong màu xanh mát” => Hình ảnh: màu xanh (của cây cối, thiên nhiên).

Bước 2: Tổng hợp các hình ảnh, chi tiết đã tìm được.
Các hình ảnh, chi tiết miêu tả vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên ở Côn Sơn bao gồm:
– Suối chảy rì rầm.
– Đá có rêu phơi.
– Cây thông mọc như nêm trong ghềnh.
– Bóng râm trong rừng.
– Màu xanh mát của thiên nhiên.

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ và tác dụng của biện pháp tu từ đó trong câu thơ:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.

Bước 1: Đọc kỹ hai câu thơ cần phân tích.
Hai câu thơ là:
“Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.”

Bước 2: Tìm các dấu hiệu nhận biết biện pháp tu từ.
Ta thấy có từ “như” nối giữa hai vế: “suối chảy rì rầm” và “tiếng đàn cầm bên tai”. Từ “như” thường là dấu hiệu của phép so sánh.

Bước 3: Xác định biện pháp tu từ.
Trong hai câu thơ này, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ So sánh.

Bước 4: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ.
– Tác giả so sánh âm thanh “rì rầm” của tiếng suối chảy với “tiếng đàn cầm”.
– Tiếng đàn cầm là âm thanh êm ái, du dương, trong trẻo, mang vẻ đẹp nghệ thuật tinh tế.
– Khi so sánh tiếng suối với tiếng đàn cầm, tác giả muốn nhấn mạnh:
– Âm thanh của suối ở Côn Sơn không phải là tiếng ồn ào, náo động mà rất êm dịu, trong trẻo, thánh thót.
– Vẻ đẹp trong lành, thanh tịnh, nên thơ của thiên nhiên Côn Sơn.
– Tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của con người khi hòa mình vào thiên nhiên, có khả năng cảm nhận vẻ đẹp một cách sâu sắc.
– Đồng thời, việc nghe tiếng suối như tiếng đàn cầm còn gợi lên sự thư thái, lòng yêu đời, lạc quan của tác giả khi ẩn mình nơi non nước.

Vậy, biện pháp tu từ là so sánh, có tác dụng làm nổi bật âm thanh êm dịu, trong trẻo, du dương của tiếng suối, đồng thời thể hiện tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và thái độ yêu mến thiên nhiên của tác giả.

Câu 4. Văn bản trên đề cập đến nội dung gì?

Bước 1: Đọc lại toàn bộ bài thơ.
Ta đọc lại cả bài thơ “Bài ca Côn Sơn”.

Bước 2: Tìm ý chính, chủ đề của bài thơ.
Bài thơ miêu tả cảnh vật thiên nhiên ở Côn Sơn và tâm trạng của nhân vật “ta” khi ở đó.
– Các câu thơ đầu miêu tả cảnh vật: suối chảy, đá rêu phong, cây thông, bóng râm, màu xanh.
– Các câu thơ tiếp theo diễn tả cảm xúc của nhân vật “ta” khi hòa mình vào cảnh vật đó: nghe tiếng suối như tiếng đàn cầm, ngồi trên đá êm ái, nằm nghỉ dưới bóng cây, ngâm thơ nhàn.

Bước 3: Rút ra nội dung chính.
Văn bản trên đề cập đến nội dung miêu tả vẻ đẹp thanh tịnh, trong lành của thiên nhiên Côn Sơn và tâm trạng ung dung, tự tại, yêu đời, hòa mình vào thiên nhiên của con người ẩn dật (nhân vật “ta”). Bài thơ thể hiện sự giao hòa giữa tâm hồn con người và cảnh vật thiên nhiên.

Câu 5. Từ nội dung đoạn trích của phần Đọc hiểu, hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày ý kiến của anh/chị về mối quan hệ giữa sự thay đổi và thành công của con người trong cuộc sống.

Bước 1: Liên hệ nội dung bài thơ với yêu cầu của đề bài.
Nội dung bài thơ miêu tả sự hài lòng, thanh thản của con người khi hòa mình vào thiên nhiên, tìm kiếm sự bình yên thay vì bon chen với đời. Tuy nhiên, yêu cầu của câu hỏi là về mối quan hệ giữa “sự thay đổi” và “thành công”. Bài thơ không trực tiếp nói về sự thay đổi để đạt thành công, mà thiên về việc tìm kiếm sự an lạc, tự tại trong một môi trường lý tưởng.
Để trả lời câu này, ta cần suy nghĩ xa hơn từ bối cảnh của bài thơ. Nguyễn Trãi đã chọn cách “thay đổi” lối sống, rút lui về Côn Sơn để tìm sự bình yên, đó cũng là một dạng “thành công” theo cách của ông. Hoặc, ta có thể hiểu rằng, để có được sự an lạc, thanh tịnh đó, con người cần có sự “thay đổi” trong nhận thức, buông bỏ những thứ không cần thiết.

Bước 2: Phác thảo ý chính cho đoạn văn.
– Mở đầu: Nêu nhận định chung về sự thay đổi và thành công.
– Thân bài: Phân tích mối quan hệ giữa hai yếu tố này, có thể liên hệ gián tiếp đến bài thơ (sự thay đổi để tìm kiếm sự bình yên cũng là một dạng thành công).
– Kết bài: Khẳng định lại quan điểm.

Bước 3: Viết đoạn văn nháp.
Cuộc sống luôn vận động, đòi hỏi con người phải linh hoạt thích ứng. Sự thay đổi, dù đôi khi mang lại thử thách, lại là yếu tố then chốt dẫn đến thành công. Khi đối mặt với những biến cố hay cơ hội mới, việc dám thay đổi cách nghĩ, cách làm, học hỏi những điều chưa biết sẽ mở ra những con đường mới. Giống như Nguyễn Trãi trong “Bài ca Côn Sơn” đã chọn thay đổi cuộc đời mình, rút về ẩn dật để tìm kiếm sự bình yên và tri thức, đó cũng là một cách thành công. Sự thay đổi không chỉ là sự thích nghi mà còn là sự bứt phá, vượt qua giới hạn bản thân, để tiến gần hơn đến những mục tiêu đã đề ra, đạt được những thành tựu ý nghĩa trong cuộc sống. Thiếu đi sự thay đổi, con người dễ rơi vào lối mòn, trì trệ và khó lòng đạt được những thành công vượt trội.

Bước 4: Chỉnh sửa và hoàn thiện đoạn văn (khoảng 150 chữ).

Đoạn văn tham khảo:
Trong dòng chảy không ngừng của cuộc sống, sự thay đổi và thành công của con người có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời. Để đạt được thành công, con người thường phải trải qua những biến đổi, cả về tư duy lẫn hành động. Bài ca Côn Sơn tuy không trực tiếp nói về sự thay đổi để đạt thành công rực rỡ, nhưng hình ảnh Nguyễn Trãi chọn lối sống ẩn dật, tìm về chốn thiên nhiên thanh tịnh đã thể hiện một sự thay đổi quan trọng trong cuộc đời ông, mang lại sự bình yên và tự tại – cũng là một dạng thành công theo quan niệm của bậc minh triết. Sự thay đổi giúp con người vượt qua giới hạn bản thân, thích ứng với hoàn cảnh, học hỏi kiến thức mới và khai phá tiềm năng. Khi dám đối diện và chấp nhận sự thay đổi, con người sẽ mở ra những cánh cửa mới, nắm bắt cơ hội để vươn tới thành công bền vững. Thiếu đi sự thay đổi, con người dễ rơi vào lối mòn, trì trệ và bỏ lỡ những cơ hội phát triển.

Chúc các em học tốt!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 0

1/ Thể thơ lục bát

2/ Các hình ảnh, chi tiết miêu tả vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên ở Côn Sơn: suối chảy rì rầm, đá rêu phơi, thông mọc như nêm, trúc bóng râm.

3/ Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.

Hai câu thơ sử dụng phép so sánh tiếng suối với tiếng đàn cầm, nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, tiếng suốt hay và đẹp như tiếng đàn cầm vậy.

4/ Bài thơ khắc họa khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Qua đó ca ngợi tình yêu thiên nhiên, lối sống hòa hợp với thiên nhiên của tác giả.

5/ Trong cuộc đời này, khi gặp những điều không thuận lợi thì đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh và những người xung quanh, hãy luôn ghi nhớ rằng những gì bạn đang phải đối mặt ngày hôm nay chính là kết quả của lối sống và hành động của chính bạn. Nếu bạn nhìn cuộc sống tích cực, gieo mầm những hạt giống tốt, ắt sau này bạn gặt dược hạnh phúc và thành công. Còn nếu chỉ suy nghĩ và hành động theo hướng tiêu cực, chắn hẳn bạn sẽ phải đối mặt với những rắc rối. Bởi vậy, hãy duy trì cho mình lối sống tích cực, chủ động, dám đương đầu với thử thác. Khi bạn vượt lên chính mình, bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Trả lời bởi: huyentranthi

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo