Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Khi khắc họa chân dung của Thúy Kiều, Nguyễn Du viết: “Làn thu thủy nét xuân sơ…

Khi khắc họa chân dung của Thúy Kiều, Nguyễn Du viết:
“Làn thu thủy nét xuân sơ…

Khi khắc họa chân dung của Thúy Kiều, Nguyễn Du viết:
“Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”
(“Truyện Kiều”)
Xác định thành ngữ có trong đoạn thơ trên. Em hiểu thành ngữ đó như thế nào?
Một bạn chép nhầm từ “hờn” thành từ “buồn”. Việc chép nhầm như thế có ảnh hưởng đến nội dung của đoạn thơ không? Vì sao?
Qua đoạn thơ trên kết hợp với hiểu biết về đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”, em hãy viết một đoạn văn theo phép lập luận tổng- phân- hợp khoảng 15 câu nêu cảm nhận của em về nhân vật Thúy Kiều, trong đó có sử dụng ít nhất 1 câu cảm thán và một quan hệ từ.
MK CẦN GẤP
Hỏi bởi:
3 câu trả lời
▲ 6
Chào các em học sinh yêu quý!

Cô rất vui được đồng hành cùng các em trong việc khám phá vẻ đẹp ngôn từ và ý nghĩa sâu sắc trong tác phẩm “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du. Bài tập hôm nay thật thú vị, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích một đoạn thơ kinh điển để hiểu rõ hơn về nhân vật Thúy Kiều nhé.

Chúng ta sẽ lần lượt giải quyết từng yêu cầu một cách cặn kẽ nhất.

A. XÁC ĐỊNH VÀ GIẢI THÍCH THÀNH NGỮ

Đoạn thơ:
“Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”

1. Thành ngữ có trong đoạn thơ:
Trong đoạn thơ trên, thành ngữ mà chúng ta cần xác định chính là: “nghiêng nước nghiêng thành”.

2. Giải thích ý nghĩa của thành ngữ:

Thành ngữ “nghiêng nước nghiêng thành” dùng để miêu tả một người phụ nữ có sắc đẹp vô cùng lộng lẫy, kiều diễm, đến mức có thể khiến người ta say mê, say đắm mà quên cả việc nước, việc nhà, thậm chí làm cho đất nước suy vong, thành trì bị đổ nát.

Đây là một thành ngữ cổ có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc, thường dùng để ám chỉ vẻ đẹp “nguy hiểm” của những mỹ nhân có khả năng khuynh đảo cả giang sơn. Khi Nguyễn Du dùng thành ngữ này để miêu tả Thúy Kiều, ông đã muốn nhấn mạnh vẻ đẹp vượt trội, có sức mạnh lay động, quyến rũ đến mức phi thường của nàng, một vẻ đẹp không chỉ làm say lòng người mà còn ngầm báo hiệu những biến động lớn trong cuộc đời nàng sau này. Nó không chỉ là vẻ đẹp bề ngoài mà còn ẩn chứa một sức hút ghê gớm.

B. PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHÉP NHẦM TỪ “HỜN” THÀNH “BUỒN”

Đoạn thơ gốc: “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Chép nhầm: “Hoa ghen thua thắm, liễu buồn kém xanh”

1. Việc chép nhầm có ảnh hưởng đến nội dung của đoạn thơ không?

Có, việc chép nhầm từ “hờn” thành từ “buồn” có ảnh hưởng đáng kể đến nội dung và ý nghĩa nghệ thuật của đoạn thơ.

2. Vì sao?

Để hiểu rõ điều này, chúng ta cần phân tích nghĩa của hai từ:

  • Từ “hờn”: Mang ý nghĩa là ganh tị, bực tức, tủi thân vì cảm thấy mình không bằng người khác. Đó là một thái độ chủ động, có tính chất đối kháng, cạnh tranh. Trong ngữ cảnh này, “liễu hờn kém xanh” nghĩa là cây liễu cảm thấy tủi thân, ganh tị vì màu xanh của mình không tươi bằng nét lông mày của Thúy Kiều.
  • Từ “buồn”: Mang ý nghĩa là buồn bã, đau khổ, không vui. Đây là một trạng thái cảm xúc thụ động, không có tính chất đối kháng hay ganh đua. “Liễu buồn kém xanh” có thể hiểu là cây liễu buồn bã vì màu xanh của mình kém tươi.

Ảnh hưởng cụ thể:

  • Làm mất đi tính cân đối và sức mạnh biểu cảm: Ở câu trên, Nguyễn Du dùng “Hoa ghen thua thắm”, từ “ghen” (ganh ghét, đố kị) rất mạnh mẽ, chủ động. Nếu dùng “liễu buồn kém xanh”, từ “buồn” sẽ yếu hơn nhiều, làm mất đi sự đối xứng, hài hòa và sức biểu cảm mạnh mẽ giữa hai vế “hoa ghen” và “liễu hờn”. Nguyên tác cho thấy vẻ đẹp của Kiều đã đạt đến đỉnh cao, khiến cả thiên nhiên cũng phải chủ động “ghen”, “hờn” vì thua kém, thể hiện sự tị hiềm, đố kị.
  • Thay đổi sắc thái vẻ đẹp của Kiều: “Hờn” nhấn mạnh vẻ đẹp của Kiều đến mức áp đảo, thách thức, và gần như “nguy hiểm”, khiến mọi thứ khác phải e dè, ganh tị. Vẻ đẹp của Kiều không chỉ là sự hài hòa mà còn là sự vượt trội, có sức mạnh ghê gớm. Nếu dùng “buồn”, vẻ đẹp của Kiều trở nên ít sức mạnh hơn, chỉ đơn thuần là khiến liễu “buồn” chứ không phải là sự đố kị, ghen ghét mang tính chất cạnh tranh. Nó làm giảm đi sự mãnh liệt, quyết liệt trong cách Nguyễn Du ngợi ca vẻ đẹp của Kiều.
  • Làm giảm tầng nghĩa của dự báo số phận: Cặp từ “ghen – hờn” không chỉ ca ngợi sắc đẹp mà còn là một dự báo về số phận của Kiều. Một vẻ đẹp đến mức khiến trời đất, cỏ cây cũng phải “ghen”, “hờn” thường gắn liền với quan niệm “tài mệnh tương đố” (tài và mệnh ghen ghét nhau), báo hiệu một cuộc đời nhiều tai ương, sóng gió. Từ “buồn” không truyền tải được hàm ý sâu xa này.

Vì vậy, việc chép nhầm từ “hờn” thành “buồn” đã làm mất đi ý nghĩa sâu sắc, sức mạnh biểu cảm và cả dự báo số phận mà Nguyễn Du muốn gửi gắm, làm giảm giá trị nghệ thuật của câu thơ.

C. ĐOẠN VĂN CẢM NHẬN VỀ NHÂN VẬT THÚY KIỀU

Nguyễn Du đã dùng những lời lẽ tinh tế và độc đáo nhất để khắc họa chân dung Thúy Kiều, một nhân vật trung tâm với vẻ đẹp “sắc sảo mặn mà” cùng tài năng hiếm có, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Nàng sở hữu một vẻ đẹp không chỉ ở đôi mắt “làn thu thủy” trong veo, sâu thẳm như nước hồ thu, hay cặp mày “nét xuân sơn” thanh tú, mà còn ở thần thái “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” – một vẻ đẹp khiến cả thiên nhiên cũng phải nhún nhường, đố kị. Chẳng thế mà nàng được miêu tả là “một hai nghiêng nước nghiêng thành”, biểu trưng cho nhan sắc có thể làm khuynh đảo cả giang sơn. Thật là một vẻ đẹp tuyệt trần và đầy sức cuốn hút! Không chỉ có thế, Kiều còn được trời phú cho tài năng vượt trội, như câu “tài đành họa hai” đã khẳng định. Nàng có thể đàn hát, ngâm thơ, vẽ tranh, chơi cờ – những phẩm chất “cầm kì thi họa” đã làm nên một Kiều đa tài đến mức hiếm có, đặc biệt là tài chơi đàn “ngón nghề một vẻ”. Tiếng đàn của nàng không chỉ hay mà còn chất chứa bao nỗi niềm sâu kín, có thể làm lay động lòng người. Sự hội tụ tuyệt đỉnh của cả sắc và tài nơi Thúy Kiều khiến nàng trở thành một nhân vật đặc biệt, vượt lên trên mọi chuẩn mực thông thường, là người con gái “thông minh vốn sẵn tính trời”. Tuy nhiên, chính “cái tài cái mệnh khéo là ghét nhau” đã báo trước một cuộc đời đầy truân chuyên, sóng gió mà nàng phải gánh chịu, khiến người đọc không khỏi xót xa cho một số phận bạc mệnh. Dù vậy, Thúy Kiều vẫn mãi là biểu tượng cho người phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng bạc mệnh trong văn học Việt Nam, gợi bao niềm suy ngẫm cho người đọc về số phận con người.


Cô hy vọng phần giải đáp chi tiết này sẽ giúp các em hiểu bài thật tốt và thêm yêu tác phẩm “Truyện Kiều” nhé! Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác, đừng ngần ngại hỏi cô. Chúc các em học tập hiệu quả!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 5

Thành ngữ “nghiêng nước nghiêng thành”

Thành ngữ: sắc đẹp tuyệt vời của ngườ phụ nữ có thể khiến cho người ta say đắm đến nỗi mất thành mất nước

Việc chép nhầm như vậy có ảnh hưởng đến nội dung của bài thơ. Vì từ “buồn” không truyền tải sắc thái tức giận, hờn ghen của thiên nhiên của thiên nhiên trước sắc đẹp của Thúy Kiều như từ “hờn”. Vì thế, không thể nào mà diễn tả được sắc thái trang trọng và vẻ đẹp tuyệt sắc của Thúy Kiều khiến cho thiên nhiên cũng phải hờn ghen, tức giận.

—–

Trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều, Thúy Kiều là người con gái mang vẻ đẹp của cả tài, tình lần sắc. Thật vậy, khi tả đến Thúy Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật đòn bẩy và nhiều câu thơ hơn để diễn tả vẻ đẹp tài sắc vẹn toàn của Thúy Kiều. Khi tả Kiều, Nguyễn Du đã tả cả sắc và tài của nhân vật này “So bề tài sắc lại là phần hơn”. Những câu thơ như “Làn thu thủy nét xuân sơn/Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh/ Một hai nghiêng nước, nghiêng thành/ Sắc đành họa một, tài đành họa hai”. Ôi, Thúy Kiều là cô gái đẹp và Kiều có đôi mắt đẹp như làn nước hồ mùa thu, lông mày đẹp như dáng núi mùa xuân! Vẻ đẹp của Kiều đến hoa và liễu còn phải “ghen”, phải “hờn”. Nếu như miêu tả Thúy Vân, tác giả sử dụng những từ “thua, nhường” thì những từ “ghen, hờn” khi miêu tả Kiều gợi ra một sự bấp bênh, sóng gió, hồng nhan bạc mệnh của Thúy Kiều. Vẻ đẹp của cô khiến cho thiên nhiên còn phải hờn ghen, giận dữ, đó là vẻ đẹp “nghiêng nước, nghiêng thành”. Hơn nữa, khi tả Kiều, tác giả chỉ tập trung miêu tả đôi mắt của Kiều, đây chính là nghệ thuật điểm nhãn, đặc tả đặc sắc của Nguyễn Du. Sau đó, khi tập trung tả về tài năng của Kiều, bạn đọc có thể cảm nhận được sự tài hoa của Kiều, bút pháp lý tưởng hóa nhân vật của Nguyễn Du. Theo quan niệm phong kiến xưa, người phụ nữ không được thành thạo “cầm, kỳ, thi, họa” như nam nhi. Thế nhưng, Kiều lại là người như vậy và cô còn là cô gái có trí tuệ thông minh tuyệt đối, thuộc làu cung thương, ngũ âm. Đặc biệt nhất, có lẽ là tiếng đàn của Kiều đã tạo nên được khúc bạc mệnh vô cũng não nề, khiến cho ai nghe cũng vô cùng đa sầu đa cảm. Tất cả những vẻ đẹp của Kiều đều là dự báo cho số phận ba chìm bảy nổi của nhân vật sau này. Tóm lại, Thúy Kiều đã được tác giả Nguyễn Du khắc họa bằng bút pháp lý tưởng hóa, nổi bật với vẻ đẹp toàn diện cả sắc và tài và dự cảm cho một số phận bấp bênh, lưu lạc sau này của nhân vật.

** quan hệ từ được gạch chân

**** câu cảm thán được in đậm

Trả lời bởi: Thanh Xuân
▲ 5

Câu 1: Xác định thành ngữ, giải nghĩa thành ngữ đó:

– Thành ngữ: Nghiêng nước nghiêng thành

– Ý nghĩa: Ý chỉ người con gái đẹp tuyệt vời có thể làm người ta say mê đến nỗi mất nước, mất thành.

Câu 2: Phân biệt từ “buồn” với từ “hờn”:

– Từ “hờn” nói lên sự đố kị, ghen ghét của tạo hóa (thiên nhiên) đối với sắc đẹp của Kiều  ngầm thông báo số phận Kiều: trắc trở, éo le, đau khổ.

– Việc chép nhầm: Rất ảnh hưởng đến nội dung của câu thơ vì sẽ không dự báo được số phận nhân vật.

Câu 3: Viết đoạn văn nêu cảm nhận về nhân vật Thúy Kiều:

Tối thiểu cần làm rõ cảm nhận về Sắc – Tài – Tình của nhân vật:

– Gợi tả vẻ đẹp của Kiều, tác giả vẫn dùng bút pháp nghệ thuật ước lệ “thu thuỷ” (nước mùa thu), “xuân sơn” (núi mùa xuân), hoa, liễu. Nét vẽ thiên gợi, tạo ấn tượng chung về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế.

– Vẻ đẹp ấy được gợi tả qua đôi mắt Kiều, bởi đôi mắt là sự thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ. Đó là một đôi mắt biết nói và có sức rung cảm lòng người.

– Hình ảnh ước lệ “làn thu thuỷ”: Làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt. Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi lông mày thanh tú trên gương mặt trẻ trung.

– “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”: vẻ đẹp quá hoàn mĩ và sắc sảo của Kiều có sức quyến rũ lạ lùng khiến thiên nhiên không thể dễ dàng chịu thua, chịu nhường mà phải nảy sinh lòng đố kỵ, ghen ghét => Báo hiệu lành ít, dữ nhiều.

Chúc bạn HT nha~~~~~~!!!!!!!!!!!!!!!!

Trả lời bởi: Ngô Thị Thanh Huế

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo