Làm người có dại mới nên khôn,
Chớ dại ngây chi, chớ quá khôn.
Khôn được ích mìn…
Chớ dại ngây chi, chớ quá khôn.
Khôn được ích mình, đừng để dại,
Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn.
Khôn mà hiểm độc là khôn dại,
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.
Chớ lấy rằng khôn khinh kẻ dại,
Gặp thời, dại cũng hoá nên khôn.
(Bạch Vân quốc ngữ thi – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính của bài thơ.
Câu 2. Văn bản trên đang bàn về vấn đề gì?
Câu 3. Chỉ ra những biểu hiện của khôn và dại trong bài thơ?
Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đối lập trong bài thơ.
Câu 5. Hai câu thơ cuối gợi cho anh chị suy nghĩ gì?
Câu 6. Cảm nhận về bài học triết lý được rút ra qua bài thơ trên.
Các em hãy đọc kỹ lại bài thơ và chúng ta sẽ cùng nhau đi vào từng câu hỏi nhé.
***
BÀI GIẢI CHI TIẾT
Câu 1. Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính của bài thơ.
Chào các em, đây là một câu hỏi cơ bản để nhận diện hình thức của tác phẩm. Chúng ta sẽ phân tích từng yếu tố một.
* Về thể thơ:
* Các em hãy đếm số câu và số chữ trong mỗi câu. Bài thơ có tất cả 8 câu, mỗi câu có 7 chữ.
* Cấu trúc này rất quen thuộc với chúng ta, đó chính là thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật (tức là thơ tám câu, mỗi câu bảy chữ theo luật thơ Đường).
* Bài thơ này được viết bằng chữ Nôm, thể hiện tinh thần dân tộc của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ nước nhà để sáng tác văn học bác học.
* Về phương thức biểu đạt chính:
* Các em đọc toàn bài thơ và tự hỏi: Tác giả đang kể chuyện, miêu tả cảnh vật, bộc lộ cảm xúc hay đang bàn luận về một vấn đề?
* Rõ ràng, xuyên suốt bài thơ, tác giả không kể một câu chuyện cụ thể nào, cũng không tả một phong cảnh nào. Thay vào đó, tác giả liên tục đưa ra những lập luận, quan điểm, phân tích về hai khái niệm “khôn” và “dại”.
* Vì vậy, phương thức biểu đạt chính của bài thơ là nghị luận. Tác giả dùng thơ ca làm phương tiện để bàn luận về một triết lí nhân sinh sâu sắc.
Câu 2. Văn bản trên đang bàn về vấn đề gì?
Đây là câu hỏi tìm ra chủ đề, nội dung cốt lõi của bài thơ. Các em có thể thấy hai từ “khôn” và “dại” được lặp đi lặp lại rất nhiều lần.
Văn bản trên đang bàn về một vấn đề triết lí sống ở đời: mối quan hệ biện chứng, phức tạp giữa khôn và dại. Tác giả không định nghĩa khôn và dại một cách đơn giản, mà chỉ ra sự tương đối, sự chuyển hóa giữa chúng và đưa ra lời khuyên về cách ứng xử sao cho thực sự là người “khôn” theo nghĩa trọn vẹn nhất.
Câu 3. Chỉ ra những biểu hiện của khôn và dại trong bài thơ?
Để trả lời câu này, chúng ta cần đọc kỹ từng câu thơ và gạch chân dưới những biểu hiện mà tác giả đã nêu ra. Cô sẽ hệ thống lại cho các em dễ theo dõi nhé:
* Biểu hiện của DẠI:
* Là bước khởi đầu để trở nên khôn ngoan: “Làm người có dại mới nên khôn”.
* Là sự ngây thơ, khờ khạo cần tránh: “chớ dại ngây chi”.
* Là biết an phận, không tranh giành hơn thua: “Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn”.
* Là sự hiền lành, không làm hại ai (đây là một dạng “dại” mà tác giả coi là “khôn”): “Dại vốn hiền lành ấy dại khôn”.
* Biểu hiện của KHÔN:
* Là sự khôn ngoan thái quá, cần tránh: “chớ quá khôn”.
* Là sự khôn ngoan đem lại lợi ích cho bản thân (nhưng cần có chừng mực): “Khôn được ích mình, đừng để dại”.
* Là sự khôn ngoan nhưng hiểm độc, mưu mô (đây là một dạng “khôn” mà tác giả coi là “dại”): “Khôn mà hiểm độc là khôn dại”.
* Là sự kiêu ngạo, khinh thường người khác (điều này cần phải tránh): “Chớ lấy rằng khôn khinh kẻ dại”.
Qua đây, ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm có cái nhìn rất đa chiều. “Khôn” chưa chắc đã tốt và “dại” chưa chắc đã xấu.
Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đối lập trong bài thơ.
Biện pháp tu từ đối lập (hay còn gọi là tương phản) là một đặc sắc nghệ thuật của bài thơ này. Các em hãy nhìn xem, sự đối lập xuất hiện dày đặc:
* Khôn >< Dại
* ích mình >< giữ phận
* hiểm độc >< hiền lành
Tác dụng của biện pháp này là:
1. Làm nổi bật chủ đề triết lí: Việc đặt hai khái niệm “khôn” và “dại” cạnh nhau, soi chiếu vào nhau trong nhiều tình huống khác nhau giúp làm sáng tỏ và nhấn mạnh nội dung cốt lõi mà tác giả muốn bàn luận.
2. Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng cho lời thơ: Phép đối lập tạo ra những cặp câu, vế câu sóng đôi, cân đối, khiến cho bài thơ có cấu trúc chặt chẽ, âm điệu hài hòa, dễ đọc, dễ nhớ.
3. Thể hiện cái nhìn biện chứng và sâu sắc của tác giả: Sự đối lập không chỉ là trắng và đen, mà còn cho thấy sự chuyển hóa, sự tồn tại trong nhau giữa hai mặt đối lập (khôn trong dại, dại trong khôn). Điều này thể hiện một tầm nhìn triết học vượt trội, cho thấy sự phức tạp của cuộc sống và con người.
Câu 5. Hai câu thơ cuối gợi cho anh chị suy nghĩ gì?
Chớ lấy rằng khôn khinh kẻ dại,
Gặp thời, dại cũng hoá nên khôn.
Hai câu thơ cuối là lời tổng kết và cũng là lời khuyên thấm thía của tác giả. Nó gợi cho chúng ta những suy nghĩ sâu sắc:
* Bài học về sự khiêm tốn và tôn trọng: Câu thơ khuyên răn con người không nên tự mãn, kiêu ngạo vì cho rằng mình khôn ngoan hơn người. Không được lấy cái khôn của mình để coi thường, miệt thị những người bị cho là “dại”. Đây là một bài học đạo đức vô cùng quan trọng trong đối nhân xử thế.
* Bài học về cái nhìn vận động, không ngừng biến đổi của cuộc sống: Cụm từ “gặp thời” cho thấy vai trò của hoàn cảnh, thời cơ. Ranh giới giữa khôn và dại rất mong manh và có thể thay đổi. Một người hôm nay có thể bị coi là dại, nhưng nếu gặp đúng thời cơ, đúng môi trường, họ hoàn toàn có thể bộc lộ tài năng và trở nên khôn ngoan, thành công. Ngược lại, người tự cho mình là khôn có thể thất bại vì chủ quan.
* Niềm tin vào tiềm năng của con người: Câu thơ thể hiện một cái nhìn nhân văn, tin tưởng vào khả năng vươn lên của mỗi người. Đừng vội đánh giá ai đó qua vẻ bề ngoài hay qua một thời điểm nhất định.
Câu 6. Cảm nhận về bài học triết lý được rút ra qua bài thơ trên.
Qua bài thơ ngắn gọn này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi gắm một bài học triết lí nhân sinh vô cùng sâu sắc và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.
Trước hết, đó là bài học về sự tương đối của “khôn” và “dại”. Tác giả đã phá vỡ định kiến thông thường rằng khôn là tốt, dại là xấu. Theo ông, “khôn mà hiểm độc” thì chính là “khôn dại”, còn “dại vốn hiền lành” lại là một kiểu “dại khôn”. Cái khôn thực sự phải gắn liền với cái tâm trong sáng, với đạo đức, với sự hiền lành, chứ không phải là sự khôn lỏi, mưu mô, chỉ biết thu lợi cho mình.
Thứ hai, đó là bài học về sự khiêm tốn và thái độ an nhiên, tự tại. Lời khuyên “chớ quá khôn”, “dại thì giữ phận, chớ tranh khôn” thể hiện triết lí sống của một bậc trí giả đã trải qua nhiều thăng trầm của thời cuộc. Đó là lối sống biết mình, biết người, không bon chen, không tranh giành hư danh, giữ cho tâm hồn được thanh thản. Đây cũng chính là vẻ đẹp trong nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Cuối cùng, bài thơ là một lời nhắc nhở chúng ta về cách nhìn nhận và đánh giá con người. Phải có cái nhìn bao dung, độ lượng, không định kiến, bởi cuộc đời luôn vận động và ai cũng có tiềm năng để thay đổi.
Tóm lại, bài thơ “Khôn và Dại” không chỉ là một tác phẩm văn chương mà còn là một cuốn cẩm nang về cách sống, dạy chúng ta cách để trở thành một người vừa khôn ngoan trong trí tuệ, vừa tốt đẹp trong nhân cách. Đây là bài học quý báu cho các em khi bước vào đời.
***
Cô hy vọng phần giải bài tập chi tiết này sẽ giúp các em hiểu sâu hơn về tác phẩm. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, đừng ngần ngại hỏi cô nhé! Chúc các em học tốt
C1.
– Thể thơ thất ngôn bát cú
– PTBĐ biểu cảm
C2. Văn bản về vấn đề khôn và dại của con người.
C3.
– Khôn: chớ quá khôn, Khôn được ích mình, Khôn mà hiểm độc là khôn dại
– Dại: dại ngây chi, Dại thì giữ phận, Dại vốn hiền lành ấy dại khôn
C4.
– Tác dụng tạo sự hài hòa cho đoạn thơ
– Nhấn mạnh sự liên kết giữa dại và khôn.
C5.
– Gợi cho chúng ta suy nghĩ về việc không nên tự phụ, nếu đã khôn thì không nên ỷ y và người dại khi trong hoàn cảnh, gặp thời thì sẽ thành người khôn.
C6.
– Cái khôn của con người là nhìn vào chiều sâu cảm nhận của mỗi người, cách nhìn sự việc và xử sự nơi cuộc sống.
1/
– Thể thơ thất ngôn bát cú
– PTBĐ: biểu cảm
2/
Văn bản bàn về vấn đề tính cách của con người, ở đây là ” dại và khôn”
3/
– Khôn: khôn được ích mình, khôn mà hiểm độc là khôn dại,chớ quá khôn.
– Dại: dại thì giữ phận, dại ngây chi, dại vốn hiền lành ấy dại khôn.
4/
– Tác dụng: Tạo sự hấp dẫn, hài hòa
– Nhấn mạnh sự gắn bó của ” dại và khôn”
5/ .
Cho ta biết là nếu đã khôn thì không nên ỷ lại ,người dại khi trong hoàn cảnh, gặp đúng hoàn cảnh thì sẽ trở thành người khôn ngoan
6/
Cái khôn của con người là nhìn được mọi việc theo nhiều hướng và sâu sắc.