lấy ví dụ về 5 câu có sử dụng chơi chữ và nêu rõ lối chơi chữ trong các câu đó
Chúng ta sẽ cùng nhau đi qua 5 ví dụ về câu có sử dụng chơi chữ, và cô sẽ phân tích rõ lối chơi chữ trong từng câu nhé. Các em hãy chú ý lắng nghe và ghi chép lại những điểm quan trọng.
Bây giờ, chúng ta bắt đầu nào!
Ví dụ 1:
“Cá không ăn muối, cá ươn.
Con không nghe lời, con dở.”
Phân tích:
Trong câu này, lối chơi chữ được sử dụng là chơi chữ đồng âm hoặc gần âm.
– Từ “cá” trong vế đầu có nghĩa là loài sinh vật sống dưới nước.
– Từ “cá” trong vế sau (con không nghe lời, con cá…) ở đây không phải là từ đồng âm hoàn toàn với “cá” đầu tiên mà là cách nói lái, lái từ “cá” thành “chả” hoặc “dở” tùy theo cách hiểu và ngữ cảnh. Tuy nhiên, trong cách diễn đạt thông thường, người ta hay hiểu là cách nói “cá” – “con cái”, ý chỉ người con.
Lối chơi chữ ở đây dựa vào sự gần âm giữa các từ hoặc các cách phát âm mang tính địa phương, khẩu ngữ để tạo ra sự liên tưởng. Về bản chất, nó tạo ra một sự đối xứng về âm thanh nhưng khác biệt về nghĩa, tạo nên sự bất ngờ và sâu sắc cho lời khuyên. Câu này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự vâng lời, giống như việc bảo quản thực phẩm (muối để cá không ươn).
Ví dụ 2:
“Bà con đi đâu đó?
Đi đâu mà bàn chân cứ đập vào nhau hoài vậy?”
Phân tích:
Lối chơi chữ trong câu này là chơi chữ đa nghĩa hoặc đồng âm theo nghĩa bóng.
– Cụm từ “bàn chân” ở đây được hiểu theo hai nghĩa:
+ Nghĩa đen: bộ phận của cơ thể dùng để đi lại.
+ Nghĩa bóng: trong ngữ cảnh này, nó ám chỉ việc đi bộ nhiều, di chuyển liên tục khiến hai chân va vào nhau.
Người nói cố tình dùng từ “bàn chân” để tạo ra một hình ảnh dí dỏm, hài hước, đồng thời muốn hỏi lý do tại sao người được hỏi lại phải đi lại nhiều đến vậy. Câu hỏi mang tính chất trêu ghẹo, gợi sự tò mò.
Ví dụ 3:
“Thương nhau mấy núi cũng trèo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.”
Phân tích:
Trong câu tục ngữ này, lối chơi chữ là chơi chữ đồng âm hoặc gần âm.
– Từ “mấy” ở đây được lặp lại nhiều lần với mục đích nhấn mạnh số lượng lớn, sự gian nan, thử thách. Tuy nhiên, cách lặp lại này tạo ra một hiệu ứng âm thanh quen thuộc, gần gũi, dễ đi vào lòng người.
– Các từ “núi”, “sông”, “đèo” là những hình ảnh quen thuộc trong văn hóa Việt Nam, tượng trưng cho những khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
Lối chơi chữ ở đây không phải là dùng từ đồng âm khác nghĩa theo cách thông thường, mà là cách lặp lại từ có âm thanh quen thuộc, kết hợp với hình ảnh gợi cảm để tạo nên một bài học sâu sắc về tình yêu thương và sự kiên trì vượt qua mọi khó khăn.
Ví dụ 4:
“Mặt trăng mặt trời mặt mộc.”
Phân tích:
Đây là một ví dụ điển hình của chơi chữ đồng âm theo cấu trúc từ.
– Từ “mặt” được lặp lại trong ba từ: “mặt trăng”, “mặt trời”, “mặt mộc”.
– “Mặt trăng”, “mặt trời” là những sự vật quen thuộc.
– “Mặt mộc” là khuôn mặt không trang điểm.
Lối chơi chữ ở đây là sự tráo đổi vị trí hoặc cách nhìn nhận khác về từ “mặt”. Trong ba cụm từ, “mặt” luôn đứng đầu. Tuy nhiên, với “mặt mộc”, nó mang ý nghĩa chỉ khuôn mặt thật, không che đậy, khác với vẻ rạng rỡ, huy hoàng của “mặt trăng” hay “mặt trời”. Lời nói này có thể ám chỉ sự chân thật, giản dị của một người nào đó.
Ví dụ 5:
“Làm nghề gì cũng có cái khổ của nó,
nhưng làm nghề thầy thuốc thì khổ hơn,
vì phải ‘cứu tử’.”
Phân tích:
Trong câu này, lối chơi chữ là chơi chữ dựa trên sự đồng âm hoặc gần âm và sự thay đổi ngữ nghĩa.
– Từ “cứu tử” ở đây được hiểu theo hai cách:
+ Nghĩa thông thường, tích cực: cứu người để họ không chết, cứu sống người bệnh.
+ Nghĩa bóng, dí dỏm, mang chút hài hước: cứu người để họ sống lâu hơn, đôi khi “tử” (chết) lại là một sự giải thoát. Hoặc ám chỉ việc phải đối mặt với những trường hợp khó cứu, “cứu” nhưng “tử” vẫn có thể xảy ra.
Lối chơi chữ này nhấn mạnh sự vất vả, áp lực của nghề y, khi mà mỗi quyết định đều có thể ảnh hưởng đến sinh mạng của con người. Nó vừa thể hiện sự cảm thông, vừa có chút hài hước châm biếm về những khó khăn mà người thầy thuốc phải đối mặt.
Các em thấy đó, chơi chữ là một nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ rất tài tình. Nó giúp câu văn thêm phần sinh động, hấp dẫn và mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Chúng ta sẽ còn gặp lại biện pháp tu từ này trong nhiều tác phẩm văn học khác nữa.
Bài học của chúng ta hôm nay đến đây là kết thúc. Các em nhớ ôn lại bài và chuẩn bị cho bài học tiếp theo nhé! Chúc các em học tốt!
1.Bà già đi chợ Cầu Đông,
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói xem quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.
-Dùng hiện tượng từ đồng âm
2.
Sánh với Na-va “ranh tướng” Pháp
Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương.
-Dùng lối nói trại âm (gần âm)
3
Mênh mông muôn mẫu một màu mưa
Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ
– Dùng cách nói điệp âm (âm “m”)
4.
Cảm ơn bà biếu gói cam,
Nhận thì không đúng, từ làm sao đây?
Ăn quả nhớ kẻ trống cây,
Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai?
-Dùng hiện tượng từ đồng âm
5
Con mèo cái nằm trên mái kèo,
Trách cha mẹ em nghèo, anh nỡ phụ duyên em.
– Dùng lối nói lái (con mèo ->mái chèo; cá đối-> cối đá)
(Bò vừa là tên loài vật, vừa chỉ hành động di chuyển sát mặt đất của động vật)
– Trê thèm mồi lóc lên ăn
(Lóc vừa là tên loài cá, vừa chỉ hành động nhô lên khỏi mặt nước)
– Chị Xuân đi chợ mùa hè
Mua cá thu về, chợ hãy còn đông.
(Một câu thơ đủ cả 4 mùa, nhưng mùa xuân lại là tên cô gái: Xuân. Cá thu và chợ còn đông là những đồng âm khác nghĩa của từ mùa thu và mùa đông)
– Anh Hươu đi chợ Đồng Nai
Bước qua bến Nghé, ngồi nhai thịt bò
(Câu thơ sử dụng cách chơi chữ dùng từ đồng âm. Đủ tên 4 con vật lớn: hươu, nai, nghé, bò. Hai địa danh được lấp ra phần sau đồng âm với tên hai con vật nai và nghé)
– Chủ báo, bảo chú cứ làm thơ
(Câu thơ chơi chữ bằng cách nói lái “chủ báo” thành “bảo chú”)