Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn d…
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
( Ngữ văn 11, tập hai, NXB Giáo dục – 2007, tr.29)
Viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của anh/ chị về nỗi niềm, tâm trạng của
thi nhân được thể hiện trong văn bản.
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào phân tích và cảm nhận về một đoạn thơ rất giàu cảm xúc trong chương trình Ngữ Văn lớp 11. Các em đã sẵn sàng chưa nào?
Đầu tiên, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau đọc thật kỹ đoạn thơ:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào các bước phân tích để làm nổi bật nỗi niềm, tâm trạng của thi nhân nhé.
Bước 1: Đọc hiểu khái quát đoạn thơ
Sau khi đọc xong, các em hãy thử suy nghĩ xem: Đoạn thơ này gợi cho các em hình dung gì về không gian và thời gian? Cảm xúc chủ đạo mà các em cảm nhận được là gì?
* Không gian: Gợi lên một khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, hùng vĩ nhưng cũng rất thơ mộng, yên bình.
* Thời gian: Là buổi chiều tà, một thời điểm thường gợi nhiều suy tư, hoài niệm.
* Cảm xúc chủ đạo: Một nỗi nhớ quê hương, nhớ nhà da diết.
Bước 2: Phân tích chi tiết từng câu thơ để làm rõ nỗi niềm, tâm trạng
Chúng ta sẽ đi vào phân tích cụ thể từng câu thơ để thấy được cách thi nhân thể hiện nỗi nhớ quê của mình:
* Câu thơ “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”:
* “Lớp lớp mây cao”: Hình ảnh mây trôi bồng bềnh, nối tiếp nhau tạo nên một bức tranh thiên nhiên khoáng đạt, cao vời.
* “đùn núi bạc”: Từ “đùn” gợi sự đầy đặn, uy nghi của những áng mây. “Núi bạc” là cách nhân hóa, so sánh độc đáo, gợi vẻ đẹp trắng xóa, hùng vĩ của núi rừng dưới ánh chiều.
*
Cảm nhận: Câu thơ mở ra một không gian bao la, tráng lệ. Sự hùng vĩ của thiên nhiên này lại càng làm nổi bật sự nhỏ bé, cô đơn của con người, dễ gợi nỗi nhớ nhà.
* Câu thơ “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.”:
* “Chim nghiêng cánh nhỏ”: Hình ảnh cánh chim nhỏ bé, lượn chao nghiêng trong không trung.
* “bóng chiều sa”: Thời gian chiều đang dần buông xuống, mang theo sự tĩnh lặng, u tịch.
*
Cảm nhận: Sự đối lập giữa không gian rộng lớn của bầu trời, núi non với hình ảnh cánh chim nhỏ bé càng tô đậm thêm nỗi cô đơn. “Bóng chiều sa” là tín hiệu của sự tàn phai, khép lại một ngày, cũng là lúc nỗi nhớ trong lòng dễ dàng trỗi dậy. Chữ “sa” còn gợi sự chậm rãi, lãng đãng, thấm đẫm tâm trạng.
* Câu thơ “Lòng quê dợn dợn vời con nước,”:
* “Lòng quê dợn dợn”: Đây là câu thơ thể hiện trực tiếp nỗi niềm của thi nhân. “Dợn dợn” là từ láy gợi cảm giác xao xuyến, rung động, bồn chồn, không yên. Nỗi nhớ quê hương không còn lắng đọng mà bắt đầu trào dâng, lay động mạnh mẽ.
* “vời con nước”: Hình ảnh con nước (thường là con nước lớn, nước lên) gợi về quê hương gắn liền với sông nước, đồng ruộng. “Vời” là từ chỉ sự kéo dài, xa xôi, gợi về miền quê thân thương đang ở nơi xa tít tắp.
*
Cảm nhận: Thi nhân đã dùng một hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo. Nỗi nhớ quê hương được ví như con nước đang dâng lên, cuộn trào, không thể kìm nén. Nó gợi lên sự da diết, day dứt của tâm hồn hướng về quê nhà.
* Câu thơ “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”:
* “Không khói hoàng hôn”: Hoàng hôn thường gắn liền với hình ảnh bếp lửa, khói lam chiều – biểu tượng của sự ấm áp, sum vầy, mái ấm gia đình. “Không khói hoàng hôn” cho thấy dù không có những tín hiệu cụ thể, quen thuộc của cảnh chiều quê, thi nhân vẫn nhớ nhà.
*
Cảm nhận: Câu thơ khẳng định một cách mạnh mẽ và sâu sắc nỗi nhớ nhà của thi nhân. Nỗi nhớ này không phụ thuộc vào khung cảnh bên ngoài, mà nó xuất phát từ sâu thẳm trái tim. Dù ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, chỉ cần gợi đến hoàng hôn, đến buổi chiều là tâm hồn thi nhân lại quay quắt hướng về quê hương, về mái ấm gia đình. Đây là nỗi nhớ thường trực, da diết, khắc khoải.
Bước 3: Tổng hợp và nêu cảm nhận chung về nỗi niềm, tâm trạng
Bây giờ, chúng ta sẽ chốt lại những gì đã phân tích để có một đoạn văn cảm nhận hoàn chỉnh.
Đoạn thơ đã khắc họa một cách tinh tế và sâu sắc nỗi niềm, tâm trạng của thi nhân khi xa quê. Thiên nhiên chiều tà với mây cao, núi bạc, cánh chim nhỏ bé nghiêng chào buổi chiều đang dần buông xuống, tất cả gợi lên một không gian bao la, tĩnh lặng nhưng cũng chất chứa nỗi cô đơn. Chính trong khung cảnh ấy, tâm hồn thi nhân trỗi dậy một nỗi nhớ quê hương da diết, bồn chồn như con nước đang dâng. Nỗi nhớ này không chỉ là sự mong mỏi thoáng qua mà đã trở thành một nỗi nhớ thường trực, khắc khoải, đến nỗi dù không có những dấu hiệu quen thuộc của cảnh chiều quê như khói lam chiều, thi nhân vẫn không nguôi nhớ nhà. Tình cảm quê hương, nỗi nhớ nhà được thể hiện qua từng câu chữ, từng hình ảnh giàu sức gợi, lay động lòng người, cho thấy tình yêu và sự gắn bó sâu nặng của thi nhân với nơi chôn nhau cắt rốn.
Như vậy, chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu và phân tích kỹ lưỡng đoạn thơ này. Các em thấy không, chỉ với vài câu thơ ngắn ngủi nhưng thi nhân đã vẽ nên một bức tranh tâm trạng đầy cảm xúc. Cô mong rằng qua bài học hôm nay, các em có thể cảm nhận sâu sắc hơn về vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học và tình cảm quê hương.
Hẹn gặp lại các em trong tiết học tiếp theo!
Huy Cận là một nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Trong số những tác phẩm mà ông để lại cho đời thì nổi bật nhất có lẽ là “Tràng giang”. Thi phẩm đã tái hiện xuất sắc vẻ đẹp của thiên nhiên khi hoàng hôn buông xuống đồng thời nói lên tâm trạng buồn man mác của nhà thơ. Điều này được bộc lộ rõ nét qua những câu thơ “Lớp lớp mây cao … cũng nhớ nhà”. Ngay từ những vần thơ đầu tiên, thi sĩ đã mở ra một không gian rộng lớn với “lớp lớp” những đám mây cao đang lững thững trôi trên bầu trời. Xa xa là những ngọn núi nhấp nhô, nối tiếp nhau. Trong không gian ấy, xuất hiện hình ảnh của những cánh chim với hình bóng nhỏ bé “bóng chiều sa”. Câu thơ gợi một không gian lắng động, ẩn chứa nỗi buồn, sầu đọng của Huy Cận. Để rồi những câu thơ tiếp theo “Lòng quê … cũng nhớ nhà”. Câu thơ đã một ra một bức tranh đượm buồn, chất chứa đầy tâm trạng, cảm xúc của thi nhân. Đó là nỗi nhớ nhà. Thật vậy, trong thơ xưa, khi đến khung cảnh chiều tà thường gợi sự đượm buồn sâu lắng. Thơ của Huy Cận cũng không phải ngoại lệ. Thật vậy, bài thơ Tràng giang là một bức tranh thiên nhiên ảm đạm, bộc lộ chân thực những suy tư trong lòng Huy Cận.
Lửa thiêng (1940) của Huy Cận là một tập thơ sáng giá trong Thơ mới Việt Nam. Phong cảnh trong Lửa thiêng, nhất là trong các bài thơ Vạn lí tình, Tràng giang, Đẹp xưa… đều đượm một nỗi buồn man mác:
Tôi ngã ba sông nước bốn bề
Nửa chiều gà lạ gáy trên đê…
Đó là con sông Thâm bên núi Mồng Gà thuộc Hương Sơn (Hà Tĩnh), quê hương thân yêu của nhà thơ. Trong Tràng giang, một nỗi buồn như dồn nén thấm sâu vào cảnh vật và lan xa muôn vàn con sóng, nhất là bốn câu kết của bài thơ:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa,
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn củng nhớ nhà.
Bao trùm cả bài thơ là một không gian nghệ thuật bao la, thật đẹp và cũng thật buồn. Có sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp. Có lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu. Có lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng… và trước mắt nhà thơ là một khung cảnh bao la, vắng vẻ: Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Khổ cuối nói đến hoàng hôn trên tràng giang. Một cái nhìn xa vời vợi. Trước mắt nhà thơ là những núi mây nhô lên, đùn lên lớp lớp màu trắng bạc. Cảnh sắc thiên nhiên rất tráng lệ. Bầu trời chắc là xanh thẳm, hoặc tím thầm trong khoảnh khắc hoàng hôn nên màu mây ở cuối chân trời mới ánh lên màu bạc ấy. Giữa cái bao la mênh mộng bỗng xuất hiện một cánh chim nhỏ nhoi. Cánh chim dang chở nặng bóng chiều, bay vội vã. Trên cái nền tím sẫm, nhạt nhòa của bóng chiều hôm, hiện lên những núi bạc mây cao và một con chim lạc đàn nghiêng cánh nhỏ. Hai nét vẽ ấy tượng trưng cho những cảnh chiều hôm trong tâm tưởng người lữ thứ: Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi… (Bà Huyện Thanh Quan), Chim hôm thoi thóp về rừng… (Nguyễn Du). Nghệ thuật tương phản giữa cánh chim nghiêng nhỏ bé và mờ dần với núi mây bạc hùng vĩ, với trời đất bao la đã làm cho cảnh đất trời và tràng giang thêm mênh mông hơn, xa vắng hơn, và cũng buồn hơn.
Bốn câu kết mang ý vị cổ điển rất đậm đà. Ý vị ấy, màu sắc ấy được thể hiện ở hình ảnh nhà thơ một mình đứng lẻ loi giữa vũ trụ bao la, lặng lẽ cảm nhận cái vô cùng của không gian, thời gian đối với kiếp người hữu hạn. Một cánh chim, một núi mây bạc… cũng dẫn hồn ta đi về mọi nẻo, đến với mọi phía chân trời: Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm – Mặt đất mây đùn cửa ải xa (Đỗ Phủ). Ý vị cổ điển ấy lại được tô đậm bằng một tứ thơ Đường:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Hơn mười hai thế kỉ trước, trong bài thơ Hoàng Hạc lâu, Thôi Hiệu đã viết:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
(Tàn Đà dịch)
Huy Cận nhìn cao rồi nhìn xa theo tràng giang vời con nước, ở trên nhà thơ đã phủ định: Mênh mông không một chuyến đò ngang – Không cầu gợi chút niềm thân mật… thì ở đây, ông lại nói: Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Nỗi buồn cô đơn và nỗi nhớ quê tràn ngập tâm hồn khách tha hương trong buổi hoàng hôn, bên dòng sông đang mải miết trôi về tận phương nào xa xôi.
Thơ Huy Cận hàm súc, cổ điển và thấm đẫm màu sắc triết lí suy tưởng. Một hồn thơ bơ vơ, sầu não ấy luôn hướng tới sự giao hòa giữa con người và tạo vật trên một không gian mênh mông, vắng lặng. Cảnh sắc trong Tràng giang đẹp mà buồn. Tình quê, lòng quê trong bốn câu kết thật vô cùng sâu sắc, thắm thiết. Đó là những vần thơ mãi mãi vương vấn lòng người trong mọi thời gian và không gian.
Thơ thất ngôn trong Tràng giang mang vẻ đẹp cổ kính, trang trọng. Mỗi khổ thơ nếu đứng tách riêng ra sẽ trở thành một bài tứ tuyệt thể hiện sâu sắc cảm hứng mà tác giả đã viết trong lời đề từ: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài. Nỗi buồn bâng khuâng và nỗi nhớ ấy là của một tấm lòng đang hoài vọng quê hương. Âm điệu đoạn thơ trầm bổng như muôn ngàn sóng gợn buồn điệp điệp trong lòng người đọc bấy lâu nay. Cảnh sắc hoàng hôn và lòng quê được nói đến trong đoạn thơ mãi mãi khơi gợi trong ta hình bóng quê hương yêu dấu. Tràng giang đã và đang mang theo bao vạn lí tình trong hồn ta..