Một hệ gồm 3 điện tích dương \(Q\) giống nhau đặt tại \(3\) đỉnh của tam giác đề…
Chúng ta có một hệ gồm 3 điện tích dương cùng độ lớn \(Q\), đặt tại 3 đỉnh của một tam giác đều \(ABC\) có cạnh là \(a\). Bài toán yêu cầu chúng ta tìm vị trí, dấu và độ lớn của một điện tích thử \(q_o\) sao cho toàn bộ hệ 4 điện tích này nằm cân bằng.
Để hệ 4 điện tích nằm cân bằng, điều kiện quan trọng nhất là hợp lực tác dụng lên mỗi điện tích phải bằng không. Tuy nhiên, với 3 điện tích \(Q\) đã cho, chúng sẽ luôn tác dụng lực lên nhau. Nếu ta đặt thêm điện tích thứ tư \(q_o\) vào, ta cần tìm vị trí sao cho \(q_o\) cân bằng dưới tác dụng của 3 điện tích \(Q\), VÀ đồng thời, mỗi điện tích \(Q\) cũng phải cân bằng dưới tác dụng của 2 điện tích \(Q\) còn lại và điện tích \(q_o\).
Chúng ta sẽ phân tích từng bước một.
Bước 1: Phân tích vị trí cân bằng của điện tích thử \(q_o\).
Giả sử điện tích thử \(q_o\) được đặt tại một điểm M nào đó trong không gian.
Do 3 điện tích \(Q\) đều dương, chúng sẽ đẩy nhau. Để \(q_o\) có thể cân bằng, nó phải chịu tác dụng của các lực đẩy từ 3 điện tích \(Q\) sao cho các lực này triệt tiêu nhau.
Xét vị trí của \(q_o\) so với 3 điện tích \(Q\).
* Nếu \(q_o\) đặt bên ngoài tam giác đều ABC, ví dụ kéo dài một cạnh ra, thì nó sẽ chịu lực đẩy mạnh nhất từ đỉnh gần nhất và các lực này khó có thể cân bằng nhau.
* Nếu \(q_o\) đặt ở một vị trí mà nó chịu lực đẩy từ cả ba điện tích \(Q\) về các hướng khác nhau, thì có khả năng cân bằng.
Điểm đặc biệt nhất trong một tam giác đều là tâm của nó. Gọi O là tâm của tam giác đều ABC. Đây là một điểm có tính đối xứng cao. Nếu ta đặt \(q_o\) tại tâm O, thì khoảng cách từ O đến mỗi đỉnh A, B, C là như nhau.
Gọi r là khoảng cách từ tâm O đến mỗi đỉnh A, B, C.
Trong tam giác đều cạnh \(a\), tâm O cách mỗi đỉnh một khoảng bằng \(R\), là bán kính đường tròn ngoại tiếp.
Ta có công thức: \(R = \frac{a}{\sqrt{3}}\).
Vậy, \(OA = OB = OC = r = \frac{a}{\sqrt{3}}\).
Tại tâm O, điện tích \(q_o\) sẽ chịu tác dụng của 3 lực:
* Lực \(\vec{F}_{1}\) do \(Q_A\) tác dụng lên \(q_o\).
* Lực \(\vec{F}_{2}\) do \(Q_B\) tác dụng lên \(q_o\).
* Lực \(\vec{F}_{3}\) do \(Q_C\) tác dụng lên \(q_o\).
Vì \(Q_A = Q_B = Q_C = Q\) và \(OA = OB = OC = r\), độ lớn của ba lực này là bằng nhau:
\(F_1 = F_2 = F_3 = k \frac{|Q q_o|}{r^2} = k \frac{|Q q_o|}{(\frac{a}{\sqrt{3}})^2} = k \frac{|Q q_o|}{a^2/3} = 3k \frac{|Q q_o|}{a^2}\).
Ba lực này có phương cùng phương với các đường nối từ O đến A, B, C và có chiều đẩy (vì các điện tích đều dương).
Theo tính chất đối xứng của tam giác đều, hợp của hai lực bất kỳ trong ba lực này sẽ có phương song song với đường cao của tam giác và có chiều hướng về đỉnh còn lại.
Ví dụ, \(\vec{F}_1 + \vec{F}_2\) sẽ có phương song song với đường cao hạ từ C xuống AB, và có chiều hướng ra xa điểm giữa cạnh AB (tức là hướng về phía C).
Cụ thể hơn, ba vector lực \(\vec{F}_1, \vec{F}_2, \vec{F}_3\) tạo với nhau các góc 120 độ. Hợp lực của ba vector lực này bằng không nếu ba vector có độ lớn bằng nhau và tạo với nhau các góc 120 độ.
Do đó, nếu đặt \(q_o\) tại tâm O, hợp lực tác dụng lên \(q_o\) sẽ bằng không: \(\vec{F}_1 + \vec{F}_2 + \vec{F}_3 = \vec{0}\).
Vậy, vị trí cân bằng cho \(q_o\) là tại tâm O của tam giác đều ABC.
Về dấu của \(q_o\): Vì \(Q\) là điện tích dương, nó sẽ đẩy \(q_o\). Để cân bằng, \(q_o\) phải chịu lực đẩy từ cả ba phía. Điều này có nghĩa là \(q_o\) phải cùng dấu với \(Q\), tức là \(q_o\) phải là điện tích dương.
Bước 2: Kiểm tra điều kiện cân bằng cho các điện tích \(Q\).
Bây giờ chúng ta cần kiểm tra xem liệu khi \(q_o\) được đặt tại tâm O và có dấu dương, thì các điện tích \(Q\) có cân bằng hay không.
Xét một điện tích \(Q\), ví dụ tại đỉnh A. Nó chịu tác dụng của 3 lực:
* Lực \(\vec{F}_{AB}\) do \(Q_B\) tác dụng lên \(Q_A\).
* Lực \(\vec{F}_{AC}\) do \(Q_C\) tác dụng lên \(Q_A\).
* Lực \(\vec{F}_{AO}\) do \(q_o\) tại tâm O tác dụng lên \(Q_A\).
Độ lớn của lực \(\vec{F}_{AB}\) và \(\vec{F}_{AC}\):
Vì \(Q_A = Q_B = Q_C = Q\) và khoảng cách \(AB = AC = a\), hai lực này có độ lớn bằng nhau:
\(F_{AB} = F_{AC} = k \frac{Q^2}{a^2}\).
Hai lực này nằm trên các cạnh của tam giác, hợp với nhau một góc 60 độ (vì tam giác ABC đều).
Độ lớn của lực \(\vec{F}_{AO}\):
Điện tích \(q_o\) đặt tại tâm O. Khoảng cách \(OA = r = \frac{a}{\sqrt{3}}\).
Điện tích tại A là \(Q\). Lực này là lực đẩy vì \(Q\) và \(q_o\) đều dương.
\(F_{AO} = k \frac{Q q_o}{r^2} = k \frac{Q q_o}{(a/\sqrt{3})^2} = 3k \frac{Q q_o}{a^2}\).
Lực này có phương là đường thẳng OA, chiều hướng từ O đến A.
Để hệ cân bằng, hợp lực tác dụng lên \(Q_A\) phải bằng không: \(\vec{F}_{AB} + \vec{F}_{AC} + \vec{F}_{AO} = \vec{0}\).
Điều này có nghĩa là, nếu ta tìm được \(q_o\) sao cho \(\vec{F}_{AO}\) có thể cân bằng \(\vec{F}_{AB} + \vec{F}_{AC}\), thì hệ sẽ cân bằng.
Ta phân tích hợp lực \(\vec{F}_{AB} + \vec{F}_{AC}\).
Hai lực này có độ lớn bằng nhau và tạo với nhau góc 60 độ. Hợp lực của chúng sẽ nằm trên đường phân giác của góc tạo bởi hai lực, tức là nằm trên đường cao hạ từ A xuống BC.
Độ lớn của hợp lực này: \(F_{AB,AC} = 2 F_{AB} \cos(60^\circ/2) = 2 k \frac{Q^2}{a^2} \cos(30^\circ) = 2 k \frac{Q^2}{a^2} \frac{\sqrt{3}}{2} = \sqrt{3} k \frac{Q^2}{a^2}\).
Hướng của hợp lực này là hướng từ A đến trung điểm BC.
Bây giờ, ta cần xem xét lực \(\vec{F}_{AO}\). Lực này có phương là đường thẳng OA. Đường thẳng OA cũng chính là đường cao hạ từ A xuống BC.
Tuy nhiên, hướng của \(\vec{F}_{AO}\) là hướng từ O đến A, tức là ngược hướng với hợp lực \(\vec{F}_{AB} + \vec{F}_{AC}\).
Để cân bằng, hai lực này phải bằng nhau về độ lớn và ngược chiều.
Nghĩa là, độ lớn của \(\vec{F}_{AO}\) phải bằng độ lớn của hợp lực \(\vec{F}_{AB} + \vec{F}_{AC}\).
Ta có:
\(F_{AO} = F_{AB,AC}\)
\(3k \frac{Q q_o}{a^2} = \sqrt{3} k \frac{Q^2}{a^2}\)
Ta có thể rút gọn \(k, Q, a^2\) (với \(Q \neq 0, a \neq 0\)):
\(3 q_o = \sqrt{3} Q\)
\(q_o = \frac{\sqrt{3}}{3} Q = \frac{1}{\sqrt{3}} Q\)
Như vậy, để các điện tích \(Q\) tại các đỉnh cân bằng, điện tích thử \(q_o\) phải có độ lớn bằng \(\frac{1}{\sqrt{3}} Q\).
Về dấu, ta đã xác định \(q_o\) phải dương để chịu lực đẩy từ \(Q\).
Và vị trí của nó là tại tâm O của tam giác đều.
Kết luận:
Để hệ bốn điện tích nằm cân bằng, điện tích thử \(q_o\) phải được đặt tại tâm O của tam giác đều ABC, có dấu dương và có độ lớn bằng \(\frac{1}{\sqrt{3}} Q\).
Chúng ta đã hoàn thành bài toán bằng cách phân tích điều kiện cân bằng cho từng điện tích một cách cẩn thận, dựa trên nguyên lý chồng chất điện trường và các tính chất đối xứng của hình học.
Các em thấy đấy, vật lý không chỉ có công thức mà còn có tư duy logic và khả năng hình dung.
Các em có câu hỏi nào không? Nếu không, chúng ta sẽ sang bài tập tiếp theo.
Đáp án:
\({q_0} = – \dfrac{Q}{{\sqrt 3 }}\)
Giải thích các bước giải:
Để \({q_0}\) cân bằng thì \({q_0}\) phải nằm ở tâm tam giác đều.
Để các Q cân bằng, \({q_0} < 0\).
Xét điện tích 3:
Ta có:
\(\begin{array}{l}
{F_{13}} = {F_{23}} = \dfrac{{k.{Q^2}}}{{{a^2}}}\\
{F_3} = 2{F_{13}}\cos \dfrac{{60}}{2} = \dfrac{{k.{Q^2}}}{{{a^2}}}\sqrt 3 \\
{r_{03}} = \dfrac{2}{3}.\dfrac{{a\sqrt 3 }}{2} = \dfrac{{a\sqrt 3 }}{3}\\
{F_{03}} = \dfrac{{kQ\left| {{q_0}} \right|}}{{r_{03}^2}} = – \dfrac{{kQ{q_o}}}{{{{\left( {\dfrac{{a\sqrt 3 }}{3}} \right)}^2}}} = \dfrac{{ – 3kQ{q_0}}}{{{a^2}}}\\
{F_{03}} = {F_3} \Rightarrow \dfrac{{ – 3kQ{q_0}}}{{{a^2}}} = \dfrac{{k.{Q^2}}}{{{a^2}}}\sqrt 3 \\
\Rightarrow – 3{q_0} = Q\sqrt 3 \\
\Rightarrow {q_0} = – \dfrac{Q}{{\sqrt 3 }}
\end{array}\)