Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Image 1

Một xe lăng khi lực đẩy bằng lực F=20N nằm ngang thì xe chuyển động đều. Còn khi…

Một xe lăng khi lực đẩy bằng lực F=20N nằm ngang thì xe chuyển động đều. Còn khi…

Một xe lăng khi lực đẩy bằng lực F=20N nằm ngang thì xe chuyển động đều. Còn khi chất thêm lên xe 1 kiện hàng 20kg thì lực tác dụng là 60N. Tính hệ số ma sát giữa bánh xe và mặt đường
Hỏi bởi: Đặng Trung
3 câu trả lời

▲ 6
Chào các em học sinh thân mến! Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau giải một bài tập vật lý thú vị liên quan đến lực ma sát. Bài tập này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách các lực tác dụng lên vật và trạng thái chuyển động của nó. Các em hãy cùng chú ý theo dõi nhé!

Bước 1: Phân tích đề bài và xác định các đại lượng đã cho

Đề bài cho chúng ta biết:
– Lần thứ nhất: Khi xe lăng chịu lực đẩy F1 = 20N theo phương ngang thì xe chuyển động đều.
– Lần thứ hai: Khi chất thêm lên xe một kiện hàng có khối lượng m_hk = 20kg, lực tác dụng lúc này là F2 = 60N.
– Đề bài yêu cầu chúng ta tính hệ số ma sát giữa bánh xe và mặt đường.

Chúng ta cần lưu ý rằng chuyển động đều có nghĩa là vận tốc của vật không đổi, tức là gia tốc bằng 0. Theo định luật II Newton, điều này có nghĩa là hợp lực tác dụng lên vật bằng 0.

Bước 2: Xác định các lực tác dụng lên xe lăng trong mỗi trường hợp

Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều có các lực sau tác dụng lên xe lăng:
– Trọng lực (P): Lực hút của Trái Đất lên xe lăng và kiện hàng (nếu có).
– Phản lực (N): Lực mà mặt đường tác dụng vuông góc lên xe lăng.
– Lực đẩy (F): Lực mà chúng ta tác dụng để kéo hoặc đẩy xe.
– Lực ma sát trượt (Fms): Lực cản trở chuyển động của xe lăng do sự tiếp xúc với mặt đường.

Bước 3: Áp dụng định luật II Newton cho từng trường hợp

Chúng ta sẽ xét chuyển động theo phương ngang. Khi vật chuyển động trên mặt phẳng ngang, phương thẳng đứng có trọng lực và phản lực cân bằng nhau, nên chúng ta sẽ tập trung vào phương ngang.

Trường hợp 1: Xe lăng chuyển động đều với lực đẩy F1 = 20N

Vì xe chuyển động đều, nên hợp lực theo phương ngang bằng 0. Điều này có nghĩa là lực đẩy F1 cân bằng với lực ma sát lúc này.
Ta có công thức:
\[
\sum F_{ngang} = F1 – F_{ms1} = 0
\]
Từ đó suy ra:
\[
F_{ms1} = F1
\]
Vậy, lực ma sát trong trường hợp này là Fms1 = 20N.

Lực ma sát trượt được tính bằng công thức:
\[
F_{ms} = \mu N
\]
trong đó:
– \(\mu\) là hệ số ma sát.
– \(N\) là độ lớn của phản lực.

Trong trường hợp này, xe lăng chỉ có khối lượng ban đầu (chúng ta gọi là m1). Trọng lực là P1 = m1 g. Phản lực cân bằng với trọng lực, nên N1 = P1 = m1 g.
Do đó, ta có:
\[
F_{ms1} = \mu N1 = \mu (m1 \cdot g)
\]
Suy ra:
\[
20N = \mu (m1 \cdot g) \quad (1)
\]
Chúng ta vẫn chưa biết m1, nên chưa thể tìm ngay \(\mu\).

Trường hợp 2: Xe lăng chuyển động với kiện hàng, lực tác dụng F2 = 60N

Khi chất thêm kiện hàng, tổng khối lượng của xe và kiện hàng là m2 = m1 + m_hk.
Trọng lực lúc này là P2 = m2 g = (m1 + m_hk) g.
Phản lực N2 = P2 = (m1 + m_hk) * g.

Đề bài nói rằng khi chất thêm hàng và tác dụng lực 60N thì xe chuyển động. Tuy nhiên, đề bài không nói rõ là chuyển động đều hay không. Nhưng thông thường, các bài toán dạng này ám chỉ rằng lực tác dụng 60N là lực tối thiểu để vật có thể chuyển động hoặc để duy trì một trạng thái chuyển động nào đó (thường là chuyển động đều hoặc với một gia tốc nhất định).
Tuy nhiên, để tính được hệ số ma sát, chúng ta cần giả định rằng lực 60N này đủ để xe chuyển động và lực ma sát đã thay đổi theo khối lượng mới.
Với giả định rằng lực 60N là lực tác dụng và xe đang chuyển động, ta có thể áp dụng công thức lực ma sát:
\[
F_{ms2} = \mu N2 = \mu (m2 \cdot g) = \mu ((m1 + m_{hk}) \cdot g)
\]
Lúc này, lực đẩy F2 = 60N. Nếu xe vẫn chuyển động đều, thì F2 = Fms2. Nếu xe chuyển động có gia tốc, thì F2 – Fms2 = m2 * a.
Tuy nhiên, dựa vào cách đặt câu hỏi “Tính hệ số ma sát”, ta có thể hiểu rằng cả hai lần xe đều chuyển động đều, hoặc lực 60N là lực cân bằng với lực ma sát mới. Chúng ta sẽ giả định cả hai trường hợp đều là chuyển động đều để tìm hệ số ma sát.

Vậy, ta có:
\[
F2 – F_{ms2} = 0 \quad (\text{giả định chuyển động đều})
\]
\[
F_{ms2} = F2
\]
Suy ra, lực ma sát trong trường hợp này là Fms2 = 60N.

Ta có công thức:
\[
F_{ms2} = \mu N2 = \mu ((m1 + m_{hk}) \cdot g)
\]
Thay số vào, ta có:
\[
60N = \mu ((m1 + 20kg) \cdot g) \quad (2)
\]

Bước 4: Giải hệ phương trình để tìm hệ số ma sát

Chúng ta có hai phương trình với hai ẩn là \(\mu\) và m1 (và g là hằng số gia tốc trọng trường, ta lấy g = 9.8 m/s^2 hoặc g = 10 m/s^2 tùy theo quy ước). Để cho bài toán đơn giản, ta lấy g = 10 m/s^2.

Từ phương trình (1):
\[
20 = \mu \cdot m1 \cdot 10
\]
\[
m1 = \frac{20}{10\mu} = \frac{2}{\mu} \quad (3)
\]

Bây giờ, chúng ta thay phương trình (3) vào phương trình (2):
\[
60 = \mu \left( \frac{2}{\mu} + 20 \right) \cdot 10
\]
Chia cả hai vế cho 10:
\[
6 = \mu \left( \frac{2}{\mu} + 20 \right)
\]
Phân phối \(\mu\):
\[
6 = \mu \cdot \frac{2}{\mu} + \mu \cdot 20
\]
\[
6 = 2 + 20\mu
\]
Chuyển 2 sang vế trái:
\[
6 – 2 = 20\mu
\]
\[
4 = 20\mu
\]
Giải cho \(\mu\):
\[
\mu = \frac{4}{20}
\]
\[
\mu = 0.2
\]

Bước 5: Kiểm tra lại kết quả

Với \(\mu = 0.2\) và \(g = 10 m/s^2\):
Từ (3), ta tính được m1 = 2 / 0.2 = 10kg.
Trường hợp 1: Fms1 = \(\mu\) m1 g = 0.2 10kg 10m/s^2 = 20N. Điều này khớp với F1 = 20N.
Trường hợp 2: Khối lượng m2 = m1 + m_hk = 10kg + 20kg = 30kg.
Fms2 = \(\mu\) m2 g = 0.2 30kg 10m/s^2 = 60N. Điều này khớp với F2 = 60N.

Vậy, kết quả của chúng ta là chính xác.

Kết luận:

Hệ số ma sát giữa bánh xe và mặt đường là 0.2.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 4

Đáp án:

 

Giải thích các bước

g=10m/s2

gọi m là khối lượng của xe

Fk−→+Fms−→−=m.a

khi F=20N thì xe chuyển động đều (a=0)

Fk=Fms=20μ.m.g=20μ.m=2 (1)

khi chất lên xe kiện hàng 20kg thì lực F=60N xe chuyển động đều

μ.(m+20).g=60μ.(m+20)=6 (2)

từ (1),(2)μ=0,2

Trả lời bởi: Hiền Nguyễn
▲ 2

Đáp án:

 \(\mu =0,2\)

Giải thích các bước giải:

Ta có:

\(\mu Mg=F=20N\) 

\(\mu (M+m)g=\mu (M+20)g=F’=60N\)

=> \(\frac{20}{Mg}=\frac{60}{(M+20)g}\)

=> \(M=10kg\)

=> \(\mu =\frac{20}{Mg}=\frac{20}{10.10}=0,2\)

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo