một xilanh kín hai đầu được chia làm hai phần bằng nhau nhờ một pit tông cách nh…
Trước hết, chúng ta cần phân tích đề bài và xác định các đại lượng đã cho cũng như yêu cầu của bài toán.
Phân tích đề bài:
Chúng ta có một xilanh kín hai đầu, được chia làm hai phần bằng nhau bởi một pit tông cách nhiệt. Điều này có nghĩa là pit tông không trao đổi nhiệt với môi trường bên ngoài.
Ban đầu, mỗi phần của xilanh có:
* Độ dài: \(l_1 = l_2 = 42 \text{ cm}\)
* Khối lượng khí như nhau.
* Nhiệt độ: \(T_1 = T_2 = 27^\circ\text{C}\). Lưu ý, trong các bài toán nhiệt động lực học, chúng ta cần đổi nhiệt độ sang độ Kelvin. Do đó, \(T_1 = T_2 = 27 + 273 = 300 \text{ K}\).
* Áp suất: \(p_1 = p_2 = 1 \text{ atm}\).
Sau khi nung nóng khí ở một phần của xilanh, pit tông di chuyển một đoạn 2cm.
Yêu cầu của bài toán:
1. Tính nhiệt độ của phần khí được nung nóng sau khi pit tông di chuyển.
2. Tính áp suất khí sau khi dịch chuyển.
Giả định:
Chúng ta sẽ coi khí trong xilanh là khí lý tưởng.
Các bước giải:
Để giải bài tập này, chúng ta sẽ áp dụng các định luật khí lý tưởng. Do pit tông có thể di chuyển, thể tích của mỗi phần khí sẽ thay đổi. Tuy nhiên, khối lượng khí trong mỗi phần là không đổi.
Gọi phần khí được nung nóng là phần 1, và phần khí còn lại là phần 2.
Trạng thái ban đầu:
* Phần 1: \(l_{1,đầu} = 42 \text{ cm}\), \(T_{1,đầu} = 300 \text{ K}\), \(p_{1,đầu} = 1 \text{ atm}\).
* Phần 2: \(l_{2,đầu} = 42 \text{ cm}\), \(T_{2,đầu} = 300 \text{ K}\), \(p_{2,đầu} = 1 \text{ atm}\).
Để tiện cho việc tính toán, chúng ta sẽ sử dụng đơn vị thể tích là \(cm^3\) và áp suất là atm.
Trạng thái sau khi pit tông di chuyển:
Pit tông di chuyển 2cm. Chúng ta cần xác định xem phần nào bị nung nóng. Khi một phần khí bị nung nóng, thể tích của nó sẽ tăng lên (nếu áp suất không đổi) hoặc áp suất sẽ tăng lên (nếu thể tích không đổi) hoặc cả hai. Trong trường hợp này, pit tông có thể di chuyển tự do nên thể tích sẽ thay đổi.
Khi pit tông di chuyển 2cm, có hai trường hợp xảy ra:
* Trường hợp 1: Pit tông di chuyển về phía phần 2. Khi đó, thể tích phần 1 tăng lên, thể tích phần 2 giảm xuống.
* Trường hợp 2: Pit tông di chuyển về phía phần 1. Khi đó, thể tích phần 1 giảm xuống, thể tích phần 2 tăng lên.
Vì chúng ta nung nóng khí ở một phần, và muốn cho pit tông di chuyển, điều đó có nghĩa là áp suất của phần khí bị nung nóng phải tăng lên hoặc thể tích của nó phải tăng lên làm đẩy pit tông.
Giả sử chúng ta nung nóng phần 1. Khí nóng nở ra, đẩy pit tông sang phải. Vậy thể tích phần 1 tăng, thể tích phần 2 giảm.
* Phần 1 (bị nung nóng): Độ dài mới là \(l_{1,sau} = 42 + 2 = 44 \text{ cm}\).
* Phần 2 (không bị nung nóng): Độ dài mới là \(l_{2,sau} = 42 – 2 = 40 \text{ cm}\).
Áp suất cân bằng:
Vì pit tông cách nhiệt và không có ma sát (giả định), áp suất ở hai bên pit tông phải bằng nhau khi hệ ở trạng thái cân bằng. Do đó, áp suất cuối cùng ở hai phần khí là bằng nhau: \(p_{1,sau} = p_{2,sau} = p_{sau}\).
Chúng ta sẽ sử dụng phương trình trạng thái khí lý tưởng cho mỗi phần khí. Phương trình trạng thái khí lý tưởng là:
\[ \frac{pv}{nT} = R \]
Trong đó:
* \(p\) là áp suất
* \(v\) là thể tích
* \(n\) là số mol khí (khối lượng khí là như nhau, và cùng một loại khí nên số mol cũng như nhau)
* \(T\) là nhiệt độ tuyệt đối
* \(R\) là hằng số khí lý tưởng
Vì số mol khí \(n\) và hằng số \(R\) là không đổi cho mỗi phần khí, ta có:
\[ \frac{p_1v_1}{T_1} = \frac{p_2v_2}{T_2} \]
Áp dụng cho phần 2 (không bị nung nóng):
Phần 2 không trao đổi nhiệt, nên \(T_{2,sau} = T_{2,đầu} = 300 \text{ K}\).
Áp dụng phương trình trạng thái cho phần 2 từ trạng thái đầu đến trạng thái sau:
\[ \frac{p_{2,đầu} v_{2,đầu}}{T_{2,đầu}} = \frac{p_{2,sau} v_{2,sau}}{T_{2,sau}} \]
Vì \(T_{2,đầu} = T_{2,sau}\), ta suy ra:
\[ p_{2,đầu} v_{2,đầu} = p_{2,sau} v_{2,sau} \]
Ta có \(p_{2,đầu} = 1 \text{ atm}\), \(v_{2,đầu}\) tỉ lệ với \(l_{2,đầu} = 42 \text{ cm}\), và \(v_{2,sau}\) tỉ lệ với \(l_{2,sau} = 40 \text{ cm}\). Gọi \(S\) là tiết diện của xilanh (giả sử là không đổi).
\(v_{2,đầu} = S \times l_{2,đầu}\)
\(v_{2,sau} = S \times l_{2,sau}\)
Vậy:
\(1 \times (S \times 42) = p_{2,sau} \times (S \times 40)\)
Chia cả hai vế cho \(S\):
\(42 = p_{2,sau} \times 40\)
\[ p_{2,sau} = \frac{42}{40} = \frac{21}{20} = 1.05 \text{ atm} \]
Vậy áp suất cuối cùng của khí là \(p_{sau} = 1.05 \text{ atm}\).
Áp dụng cho phần 1 (bị nung nóng):
Chúng ta cần tìm nhiệt độ \(T_{1,sau}\) và áp suất \(p_{1,sau}\) (mà ta đã tìm được ở trên là \(p_{sau} = 1.05 \text{ atm}\)).
Áp dụng phương trình trạng thái cho phần 1 từ trạng thái đầu đến trạng thái sau:
\[ \frac{p_{1,đầu} v_{1,đầu}}{T_{1,đầu}} = \frac{p_{1,sau} v_{1,sau}}{T_{1,sau}} \]
Ta có:
* \(p_{1,đầu} = 1 \text{ atm}\)
* \(v_{1,đầu}\) tỉ lệ với \(l_{1,đầu} = 42 \text{ cm}\), tức là \(v_{1,đầu} = S \times 42\).
* \(T_{1,đầu} = 300 \text{ K}\)
* \(p_{1,sau} = p_{sau} = 1.05 \text{ atm}\)
* \(v_{1,sau}\) tỉ lệ với \(l_{1,sau} = 44 \text{ cm}\), tức là \(v_{1,sau} = S \times 44\).
* \(T_{1,sau}\) là đại lượng cần tìm.
Thay các giá trị vào phương trình:
\[ \frac{1 \times (S \times 42)}{300} = \frac{1.05 \times (S \times 44)}{T_{1,sau}} \]
Chia cả hai vế cho \(S\):
\[ \frac{42}{300} = \frac{1.05 \times 44}{T_{1,sau}} \]
\[ T_{1,sau} = \frac{1.05 \times 44 \times 300}{42} \]
\[ T_{1,sau} = \frac{1.05 \times 44 \times 300}{1.05 \times 40} \]
\[ T_{1,sau} = \frac{44 \times 300}{40} \]
\[ T_{1,sau} = \frac{44 \times 3 \times 100}{4 \times 10} \]
\[ T_{1,sau} = \frac{11 \times 4 \times 3 \times 10}{4} \]
\[ T_{1,sau} = 11 \times 3 \times 10 \]
\[ T_{1,sau} = 330 \text{ K} \]
Để chuyển nhiệt độ này về độ C, ta lấy:
\(T_{1,sau} (\text{độ C}) = 330 – 273 = 57^\circ\text{C}\)
Kiểm tra lại:
Chúng ta đã giả định rằng phần 1 bị nung nóng. Nếu phần 1 bị nung nóng, thể tích của nó sẽ tăng và đẩy pit tông sang phải. Điều này dẫn đến độ dài phần 1 tăng lên 44cm và độ dài phần 2 giảm xuống 40cm, đúng với giả định ban đầu của chúng ta.
Nếu chúng ta giả sử phần 2 bị nung nóng, thì áp suất ở phần 2 sẽ tăng lên và đẩy pit tông sang trái. Khi đó, độ dài phần 2 sẽ tăng và độ dài phần 1 sẽ giảm. Tuy nhiên, đề bài nói “Muốn cho pit tông trong xi lanh di chuyển một đoạn 2cm thì cần nung nóng khí ở một phần của xi lanh lên đến bao nhiêu độ?”. Điều này ngụ ý rằng việc nung nóng là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự di chuyển. Nếu nung nóng phần 1, thể tích phần 1 tăng, đẩy pit tông sang phải. Nếu nung nóng phần 2, thể tích phần 2 tăng, đẩy pit tông sang trái. Cách đặt câu hỏi cũng cho phép chúng ta chọn một trong hai phần để nung nóng. Cách giải của chúng ta đã chọn nung nóng phần 1 và kết quả thu được là hợp lý.
Kết luận:
* Nhiệt độ khí ở phần được nung nóng cần phải tăng lên đến \(330 \text{ K}\) (tương đương \(57^\circ\text{C}\)).
* Áp suất khí sau khi dịch chuyển là \(1.05 \text{ atm}\).
Các em thấy đó, với việc áp dụng đúng các định luật về khí lý tưởng và cẩn thận trong việc phân tích các trạng thái, chúng ta có thể giải quyết bài toán một cách logic và chính xác.
Có em nào có thắc mắc gì về các bước giải này không? Chúng ta có thể cùng nhau thảo luận thêm.
Giải thích các bước giải:
* Gọi thể tích của 2 phần lần lượt là \(V_1, V_2\)
Ban đầu: \(V_1 =S.l_1\) và \(V_2=S.l_2\)
Sau khi di chuyển 1 đoạn \(2\) cm:
+ \(V_1 ‘=S.(l+2)\)
+ \(V_2 ‘=S.(l -2)\)
Áp dụng PTTT ta có:
+ \({p_1 V_1}/{T_1}={p_1′ V_1 ‘}/{T_1 ‘}\)
+ \({p_2 V_2}/{T_2}={p_2′ V_2 ‘}/{T_2 ‘}\)
\(→\) \({p_1′ V_1 ‘}/{T_1 ‘}={p_2’ V_2 ‘}/{T_2 ‘}\)
\(→\) \({p_1′ S. (l+2) }/{T_1 ‘}={p_2’ S.(l-2)}/{T_2 ‘}\)
Pitton cân bằng sau khi dịch chuyển 2 cm \(→\) \(p_1 ‘ =p_2 ‘\)
\(→\) \(T_2 ‘ (l+2)= T_1 ‘ (l-2)\)
Vì chỉ có nhiệt độ ở phần 1 thay đổi
\(→\) \(T_2’=T_2=27+273=300K\)
\(→\) \(T_1 ‘={300.(0,42+0,02)}/{0,42-0,02}\)
\(→\) \(T_1 ‘=330\) K
\(→\) \(ΔT=30\) K
* Áp suất sau khi dịch chuyển:
\(p_1 ‘={p_1V_1T_1 ‘}/{V_1 ‘ T_1}=1,05\) atm