Trên bục giảng tôi dạy các em thơ
Về dáng hình xứ xở núi sông quê
Về những điều ngày xưa mẹ hay kể
Cho tôi nghe trước giấc ngủ yên bình.
Trong lời mẹ – đất nước tôi đẹp xinh
Biển trải dài theo từng con sóng vỗ
Dải Trường Sơn oai linh ngăn bão tố
Vẫn trực chờ từ phía đại dương xanh.
Đất nước tôi là xương máu cha anh
Đã đổ xuống ngăn quân thù xâm lược
Những gian lao bốn ngàn năm phía trước
Đã tạc nên hình tổ quốc hôm nay.
Đất nước tôi trong vóc dáng cờ bay
Là núi sông hiền hoà như dải lụa
Là mênh mang bao cánh đồng ngô lúa
Thắm xanh màu nhân ái và bao dung.
(Trích “Đất nước tôi”, Lê Gia Hoài, Tình ca trên bục giảng, NXB Hội nhà văn, 2018)
I. Đọc hiểu
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích.
Câu 2. Liệt kê những hình ảnh khắc họa vẻ đẹp của “Đất nước” trong đoạn trích.
Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng cụm từ “Đất nước tôi” trong đoạn trích.
Câu 4. Nhận xét những tình cảm của tác giả dành cho “Đất nước” trong đoạn trích.
Câu 5. Từ nội dung của đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và xây dựng Đất Nước (trình bày 5-7 dòng).
II. Làm văn
Câu 1 (2 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ) phân tích hình ảnh “Đất nước” qua cảm nhận của tác giả trong đoạn trích ở phần đọc hiểu.
Câu 2 (4 điểm)
“Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp” (Cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng)
Từ góc nhìn của giới trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (600 chữ) về chủ đề: Trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn sự trong sáng và đẹp đẽ của Tiếng Việt.
Chào các em học sinh yêu quý của cô! Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau khám phá vẻ đẹp của tâm hồn và đất nước Việt Nam qua một bài thơ đầy cảm xúc, đồng thời rèn luyện kỹ năng phân tích và nghị luận mà chúng ta đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 11 nhé. Cô tin rằng với kiến thức và sự nhạy cảm của mình, các em sẽ hoàn thành xuất sắc bài tập này.
I. Đọc hiểu
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích.
Bước 1: Quan sát số tiếng (âm tiết) trong mỗi dòng thơ.
Chúng ta đếm số tiếng ở các dòng thơ trong đoạn trích:
- Mừng 42 năm ngày đất nước thống nhất (8 tiếng)
- Trên bục giảng tôi dạy các em thơ (8 tiếng)
- Về dáng hình xứ sở núi sông quê (8 tiếng)
- Về những điều ngày xưa mẹ hay kể (8 tiếng)
- Cho tôi nghe trước giấc ngủ yên bình. (8 tiếng)
- Trong lời mẹ – đất nước tôi đẹp xinh (8 tiếng)
- Biển trải dài theo từng con sóng vỗ (8 tiếng)
- Dải Trường Sơn oai linh ngăn bão tố (8 tiếng)
- Vẫn trực chờ từ phía đại dương xanh. (8 tiếng)
- Đất nước tôi là xương máu cha anh (8 tiếng)
- Đã đổ xuống ngăn quân thù xâm lược (8 tiếng)
- Những gian lao bốn ngàn năm phía trước (8 tiếng)
- Đã tạc nên hình tổ quốc hôm nay. (8 tiếng)
- Đất nước tôi trong vóc dáng cờ bay (8 tiếng)
- Là núi sông hiền hoà như dải lụa (8 tiếng)
- Là mênh mang bao cánh đồng ngô lúa (8 tiếng)
- Thắm xanh màu nhân ái và bao dung. (8 tiếng)
Giải thích phương pháp: Để xác định thể thơ, dấu hiệu cơ bản nhất là số lượng âm tiết (tiếng) trong mỗi dòng thơ và cách gieo vần, ngắt nhịp. Việc đếm số tiếng giúp chúng ta phân loại các thể thơ truyền thống (lục bát, song thất lục bát, thất ngôn) và hiện đại (5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, tự do).
Bước 2: Xác định cách gieo vần và ngắt nhịp.
Vần thường được gieo ở cuối mỗi dòng thơ, có thể là vần chân hoặc vần lưng. Đoạn thơ này có các cặp vần chân như: thơ – quê – kể (vần “ơ/ê”), bình – xinh (vần “inh”), vỗ – tố (vần “ô”), xanh – anh (vần “anh”), lược – trước (vần “ươc”), nay – bay (vần “ay”), lụa – lúa (vần “ua”), dung.
Nhịp thơ thường là nhịp chẵn: 4/4 hoặc 3/5.
Bước 3: Tổng hợp và kết luận.
Với các dòng thơ chủ yếu có 8 tiếng, kết hợp với cách gieo vần linh hoạt (chủ yếu là vần chân cuối dòng, thường là vần liền hoặc vần cách) và cách ngắt nhịp phù hợp với nội dung, đoạn trích được viết theo thể thơ tám chữ (thơ 8 chữ).
Câu 2. Liệt kê những hình ảnh khắc họa vẻ đẹp của “Đất nước” trong đoạn trích.
Giải thích phương pháp: Để liệt kê các hình ảnh, chúng ta đọc kỹ từng câu, từng đoạn và gạch chân/ghi chú những từ ngữ, cụm từ trực tiếp miêu tả hoặc gợi liên tưởng đến vẻ đẹp (cả nghĩa đen và nghĩa bóng) của đất nước.
Những hình ảnh khắc họa vẻ đẹp của “Đất nước” trong đoạn trích là:
- Dáng hình xứ sở núi sông quê
- Biển trải dài theo từng con sóng vỗ
- Dải Trường Sơn oai linh ngăn bão tố
- Xương máu cha anh (gợi vẻ đẹp lịch sử, sự hy sinh cao cả)
- Bốn ngàn năm phía trước đã tạc nên hình tổ quốc (gợi vẻ đẹp của chiều sâu lịch sử, sự bền bỉ, kiên cường)
- Vóc dáng cờ bay (vẻ đẹp biểu tượng, linh thiêng của quốc gia)
- Núi sông hiền hoà như dải lụa
- Mênh mang bao cánh đồng ngô lúa
- Thắm xanh màu nhân ái và bao dung (vẻ đẹp về phẩm chất, tâm hồn con người và đất nước)
Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng cụm từ “Đất nước tôi” trong đoạn trích.
Giải thích phương pháp: Khi phân tích hiệu quả của một cụm từ lặp lại, chúng ta cần xem xét tác dụng về mặt nội dung (nhấn mạnh điều gì, thể hiện tình cảm gì) và về mặt nghệ thuật (tạo nhịp điệu, kết cấu, điểm nhấn). Cụm từ “tôi” trong “Đất nước tôi” đặc biệt quan trọng vì nó thể hiện góc nhìn và tình cảm chủ quan của người nói.
Cụm từ “Đất nước tôi” được lặp lại nhiều lần trong đoạn trích và mang lại những hiệu quả nổi bật sau:
- Nhấn mạnh chủ đề: Cụm từ này như một điệp khúc, lặp đi lặp lại ở đầu các khổ thơ hoặc giữa dòng, giúp tập trung sự chú ý của người đọc vào đối tượng chính là “Đất nước”.
- Thể hiện tình cảm cá nhân sâu sắc: Từ “tôi” khẳng định một mối quan hệ gắn bó, thân thiết, gần gũi và đầy yêu thương giữa tác giả (người nói) và Đất nước. Đó không chỉ là đất nước chung chung mà là “đất nước của tôi”, của riêng tác giả, thiêng liêng và gần gũi như một phần máu thịt.
- Tạo giọng điệu tự hào, trang trọng: Việc xưng hô một cách thân mật nhưng cũng đầy tôn kính, tự hào đã góp phần tạo nên một giọng điệu thiết tha, trang trọng cho toàn bộ đoạn thơ.
- Kết cấu mạch lạc: Các cụm từ này đóng vai trò như những điểm neo, giúp kết nối các ý thơ, các khía cạnh khác nhau của Đất nước lại với nhau, tạo nên sự mạch lạc và chặt chẽ trong bố cục.
Câu 4. Nhận xét những tình cảm của tác giả dành cho “Đất nước” trong đoạn trích.
Giải thích phương pháp: Để nhận xét tình cảm của tác giả, chúng ta cần tổng hợp các hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu, và các cụm từ biểu cảm đã phân tích ở các câu trước. Tình cảm thường được thể hiện qua cách miêu tả, cách lựa chọn từ ngữ và sự nhấn mạnh của tác giả.
Đoạn trích đã khắc họa một cách chân thực và sâu sắc những tình cảm mà tác giả dành cho “Đất nước”:
- Tình yêu thương, tự hào sâu sắc: Tác giả tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ (biển, Trường Sơn) và thơ mộng (núi sông như dải lụa, cánh đồng ngô lúa), về lịch sử hào hùng và sự hi sinh cao cả của cha ông (“xương máu cha anh”).
- Sự gắn bó, thân thiết: Tình cảm đó được nuôi dưỡng từ những câu chuyện mẹ kể ngày xưa, gắn liền với tuổi thơ, giấc ngủ yên bình, khiến Đất nước trở nên gần gũi, máu thịt.
- Lòng biết ơn và kính trọng: Tác giả thể hiện sự tri ân đối với công lao của các thế hệ đi trước đã đổ xương máu để giữ gìn “hình tổ quốc hôm nay”.
- Niềm tin vào tương lai và giá trị nhân văn: Đất nước không chỉ đẹp về cảnh quan, lịch sử mà còn “thắm xanh màu nhân ái và bao dung”, thể hiện niềm tin vào những giá trị cao đẹp của dân tộc.
Tóm lại, tình cảm của tác giả dành cho Đất nước là sự tổng hòa của tình yêu thương, tự hào, biết ơn và gắn bó sâu sắc, thiêng liêng.
Câu 5. Từ nội dung của đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và xây dựng Đất Nước (trình bày 5-7 dòng).
Giải thích phương pháp: Để trình bày suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ, chúng ta cần rút ra những bài học, thông điệp từ đoạn trích (về vẻ đẹp, lịch sử, sự hy sinh) và liên hệ trực tiếp với vai trò của người trẻ trong hiện tại và tương lai. Cần trình bày ngắn gọn, súc tích trong giới hạn dòng cho phép.
Đoạn trích gợi nhắc về một Đất nước tươi đẹp, hào hùng với lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Từ đó, thế hệ trẻ chúng ta ý thức sâu sắc về trách nhiệm kế thừa và phát huy. Chúng ta cần nỗ lực học tập, rèn luyện để nâng cao trí tuệ, đạo đức, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Đồng thời, cần biết trân trọng, giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường, biển đảo quê hương, và phát huy tinh thần nhân ái, bao dung của dân tộc, để Đất nước mãi mãi trường tồn, phát triển vững bền.
II. Làm văn
Câu 1 (2 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ) phân tích hình ảnh “Đất nước” qua cảm nhận của tác giả trong đoạn trích ở phần đọc hiểu.
Giải thích phương pháp: Đây là dạng đoạn văn nghị luận xã hội về một vấn đề văn học. Để viết đoạn văn đạt yêu cầu, cần đảm bảo cấu trúc: mở đoạn (giới thiệu chung), thân đoạn (phân tích các khía cạnh hình ảnh Đất nước), kết đoạn (tổng kết, khẳng định cảm nhận của tác giả). Cần chọn lọc các ý chính từ phần đọc hiểu, sử dụng các dẫn chứng tiêu biểu (câu thơ, hình ảnh) để làm rõ luận điểm, và diễn đạt mạch lạc, trôi chảy, đạt khoảng 200 chữ.
Mở đầu đoạn trích “Đất nước tôi”, Lê Gia Hoài đã mở ra một bức tranh đa diện và sâu sắc về “Đất nước” qua lăng kính cảm nhận đầy yêu thương và tự hào của tác giả. Trước hết, Đất nước hiện lên với vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng: từ “dáng hình xứ sở núi sông quê” đến “biển trải dài theo từng con sóng vỗ”, “dải Trường Sơn oai linh ngăn bão tố”, rồi lại “núi sông hiền hoà như dải lụa” và “mênh mang bao cánh đồng ngô lúa”. Đó là một bức tranh sơn thủy hữu tình, vừa dữ dội vừa thanh bình, vừa rộng lớn vừa gần gũi. Không chỉ dừng lại ở cảnh sắc, Đất nước còn là biểu tượng thiêng liêng của lịch sử hào hùng, thấm đẫm “xương máu cha anh”, được vun đắp qua “bốn ngàn năm phía trước”, tạc nên “hình tổ quốc hôm nay”. Những hình ảnh này khẳng định một Đất nước với chiều sâu văn hóa và truyền thống bất khuất. Đặc biệt, Đất nước còn mang trong mình những giá trị nhân văn cao đẹp, “thắm xanh màu nhân ái và bao dung”, gợi về tâm hồn cao quý của dân tộc. Thông qua những cảm nhận đa chiều này, tác giả đã vẽ nên một Đất nước vừa cụ thể, thân thuộc, vừa trừu tượng, thiêng liêng, thể hiện một tình yêu quê hương đất nước vô bờ bến.
Câu 2 (4 điểm)
“Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp” (Cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng)
Từ góc nhìn của giới trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (600 chữ) về chủ đề: Trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn sự trong sáng và đẹp đẽ của Tiếng Việt.
Giải thích phương pháp: Đây là bài văn nghị luận xã hội, yêu cầu viết khoảng 600 chữ và thể hiện “góc nhìn của giới trẻ”. Cấu trúc bài văn nghị luận cần rõ ràng: Mở bài (giới thiệu vấn đề, trích dẫn, nêu luận đề), Thân bài (giải thích, phân tích thực trạng, bàn luận về giải pháp/trách nhiệm, liên hệ), Kết bài (khẳng định, lời kêu gọi).
Trong phần thân bài, cần làm rõ “Tiếng Việt giàu và đẹp” theo lời Phạm Văn Đồng, sau đó phân tích thực trạng sử dụng tiếng Việt của giới trẻ (cả ưu và nhược điểm), và cuối cùng là đưa ra các giải pháp cụ thể, thiết thực mà giới trẻ có thể thực hiện để giữ gìn sự trong sáng và đẹp đẽ của tiếng Việt. “Góc nhìn của giới trẻ” thể hiện qua việc đề cập đến các vấn đề liên quan đến mạng xã hội, công nghệ, xu hướng giao tiếp hiện đại.
Mở đầu bài phát biểu về Tiếng Việt, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định một chân lý sâu sắc: “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp”. Lời nhận định ấy không chỉ là sự ngợi ca mà còn là lời nhắc nhở về giá trị thiêng liêng của tiếng mẹ đẻ. Trong dòng chảy hội nhập và phát triển của thời đại số, khi các nền văn hóa, ngôn ngữ giao thoa mạnh mẽ, việc giữ gìn sự trong sáng và đẹp đẽ của Tiếng Việt trở thành một trách nhiệm không nhỏ, đặc biệt đối với thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước.
Tiếng Việt thực sự “giàu” và “đẹp” như lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nó giàu bởi khả năng biểu đạt phong phú, từ những thanh âm trầm bổng, uyển chuyển của sáu thanh điệu đến kho tàng tục ngữ, ca dao, thành ngữ kết tinh bao đời kinh nghiệm sống. Tiếng Việt có thể diễn tả mọi sắc thái cảm xúc, mọi cung bậc tình cảm của con người Việt Nam. Nó đẹp bởi sự hài hòa, giản dị nhưng không kém phần sâu sắc, chứa đựng tâm hồn nhân ái, thủy chung, kiên cường của cả một dân tộc. Từ những câu hát ru êm đềm của bà, của mẹ đến những áng văn thơ hùng tráng, Tiếng Việt luôn là cầu nối vững chắc giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, là bản sắc không thể trộn lẫn của người Việt.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ công nghệ thông tin, Tiếng Việt đang đứng trước nhiều thách thức, đặc biệt trong cách sử dụng của giới trẻ. Chúng ta dễ dàng bắt gặp những hiện tượng như “teen code”, viết tắt, sử dụng từ ngữ ngoại lai một cách tràn lan, thiếu chọn lọc trên mạng xã hội hay trong giao tiếp hằng ngày. Sự du nhập ồ ạt của tiếng Anh và các ngôn ngữ khác, cùng với thói quen viết tắt, nói lóng trong giao tiếp ảo, đã khiến Tiếng Việt đôi khi mất đi sự chuẩn mực, trong sáng và nét đẹp vốn có. Nhiều bạn trẻ dường như quên đi rằng, việc sử dụng sai chính tả, ngữ pháp, hoặc lạm dụng tiếng lóng không chỉ làm nghèo đi vốn từ mà còn ảnh hưởng đến khả năng tư duy và giao tiếp mạch lạc. Điều này cũng gây ra những rào cản trong việc truyền tải các giá trị văn hóa, lịch sử từ thế hệ trước sang thế hệ sau.
Trước thực trạng ấy, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn sự trong sáng và đẹp đẽ của Tiếng Việt càng trở nên cấp thiết. Đầu tiên và quan trọng nhất, chúng ta cần ý thức được giá trị thiêng liêng của Tiếng Việt, coi đó là di sản quý báu cần được bảo vệ. Mỗi người trẻ hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất: đọc sách Tiếng Việt nhiều hơn để làm giàu vốn từ, luyện viết đúng chính tả, ngữ pháp, và nói năng lưu loát, chuẩn mực. Thay vì lạm dụng tiếng lóng hay “teen code” một cách vô tội vạ, chúng ta nên biết sử dụng chúng đúng lúc, đúng chỗ, tránh làm biến dạng ngôn ngữ mẹ đẻ. Trên không gian mạng, hãy trở thành những người sử dụng Tiếng Việt có trách nhiệm, lan tỏa những thông điệp tích cực bằng ngôn ngữ chuẩn mực và giàu cảm xúc.
Bên cạnh đó, việc học hỏi và nghiên cứu sâu hơn về văn học, ngôn ngữ học Tiếng Việt cũng là cách để chúng ta hiểu rõ hơn về cấu trúc, lịch sử và vẻ đẹp tiềm ẩn của nó. Tham gia các hoạt động ngoại khóa, các cuộc thi về Tiếng Việt, hay đơn giản là khuyến khích bạn bè cùng nhau trau dồi ngôn ngữ cũng là những cách thiết thực để lan tỏa tình yêu Tiếng Việt. Giới trẻ hiện nay có lợi thế về công nghệ, hãy tận dụng nó để sáng tạo những nội dung số ý nghĩa, hấp dẫn bằng Tiếng Việt, góp phần quảng bá ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Tiếng Việt là linh hồn của dân tộc, là cầu nối giữa các thế hệ. Giữ gìn sự trong sáng và đẹp đẽ của Tiếng Việt không chỉ là trách nhiệm mà còn là biểu hiện của lòng yêu nước, là cách chúng ta khẳng định bản sắc của mình giữa thế giới rộng lớn. Thế hệ trẻ hãy cùng nhau biến tình yêu Tiếng Việt thành hành động cụ thể, để Tiếng Việt mãi mãi vang vọng, tươi đẹp và giàu có như chính tâm hồn của người Việt Nam.
I.Đọc hiểu
Câu 1: Bài thơ Đất nước tôi là thể thơ 8 chữ. Dấu hiệu nhận biết là:
– Mỗi dòng thơ có 8 tiếng
– Bài thơ không giới hạn số câu
– Vần nhịp được gieo linh hoạt
Câu 2:
Những hình ảnh khắc họa vẻ đẹp của “Đất nước” trong đoạn trích:
+Vẻ đẹp hình hài đất nước:
Biển trải dài theo từng con sóng vỗ
Dải Trường Sơn oai linh ngăn bão tố
+Vẻ đẹp của lịch sử:
Đất nước tôi là xương máu cha anh
Đã đổ xuống ngăn quân thù xâm lược
Những gian lao bốn ngàn năm phía trước
+Vẻ đẹp của sự tự do:
Đất nước tôi trong vóc dáng cờ bay
Là núi sông hiền hoà như dải lụa
Là mênh mang bao cánh đồng ngô lúa
Thắm xanh màu nhân ái và bao dung
Câu 3:
Tác dụng: “Đất nước tôi” một tiếng gọi, một tiếng nói tràn đầy sự tự hào, tự tin và hạnh phúc của người con Lê Giai Hoài dành cho Tổ quốc.Việc lặp đi lặp lại ấy vừa mang tính nghệ thuật mà cũng vừa chan chứ tình cảm. Cụm từ làm sáng cả đoạn thơ, giúp làm tăng tính gợi hình, gợi cảm sâu cho sự diễn đạt, và tạo nhịp điệu cho bài thơ. Đó cũng là tiếng lòng đầy hãnh diện của người con đất Việt với tất cả rằng đất nước tôi đó, tuy nhỏ bẻ mà xinh đẹp, quật cường,tình yêu nước của dân tộc tôi đó mãnh mẹ và dữ dội.
Câu 4:
Qua đoạn trích, mọi độc giả đều cảm nhận được tình yêu sâu nặng của tác giả dành cho quê hương mình. Thật đúng như lời nhà văn Xô Viết I-li-a Ê-ren-bua, tác giả Giai Hoài yêu quê hương mình qua những tình yêu dành cho những điều nhỏ nhặt đến những điều vĩ đại nhất. Tình yêu ấy được nhà thơ nói lên đầy tự hào thông qua việc miêu tả những cảnh đẹp, những cảnh thiên hùng vĩ, mềm mại và kiên cường của dải đất hình chữ S.Trong những lời yêu thương, tự hào đó là sự mong ước, niềm tin về một đất nước hạnh phúc, phát triển hùng cường.
Câu 5:
Đọc đoạn thơ em càng cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp thiêng liêng của đất nước được tạo nên từ thiên nhiên tươi đẹp và xương máu cha ông. Thế hệ trẻ hôm nay biết ơn, trân trọng quá khứ, ra sức học tập, rèn luyện đạo đức và bản lĩnh để tiếp nối sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh. Giữ gìn từng tấc đất, từng giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời đổi mới, sáng tạo để đất nước phát triển bền vững trong thời đại mới. Đó chính là cách thiết thực nhất để đáp đền công lao tổ tiên và viết tiếp trang sử vẻ vang cho dân tộc.
II.Làm văn
Câu 1:
Bằng sự chân thành và tình yêu dành cho đất nước,nhà thơ Lê Giai Họa đã dùng ngòi bút của mình, dùng những vần thơ để họa thi nên bức tranh đất nước đầy xinh đẹp, đầy đau thương và cũng đầy hoài bão. Đất nước ta đẹp lắm,nào cánh đồng lúa, nào biển xanh (Là núi sông hiền hoà như dải lụa/Biển trải dài theo từng con sóng vỗ). Vẻ đẹp bình yên, ôn hòa ấy lại phải đánh đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ cha anh đã ngã xuống. Dãy Trường Sơn oai hùng chắn bão tố, thiên tai cũng là con đường để nhân dân ta dành lại độc lập, tự do, thống nhất non sông về một mối. Và trên dãy Trường Sơn ấy, những mầm xanh mọc lên là lan trải dài khắp dải đất Việt Nam, đó chính là mầm xanh yêu nước, mầm xanh của những người chiến sĩ tuổi đôi mươi đã mãi mãi nằm lại nơi đó để có được màu xanh, sự trù phú của đất nước hôm nay. Đất nước ta mang cảnh sắc tươi đẹp và một lịch sử đầy hào hùng, khí phách. Mỗi miền đất, mỗi cánh đồng, mỗi ngọn núi đều in đậm dấu ấn của lịch sử đấu tranh và dựng xây bền bỉ của cha ông. Đất nước không chỉ hiện diện trong dáng hình thiên nhiên mà còn sống động trong từng câu chuyện mẹ kể, trong từng trang sử hào hùng. Bằng tất cả vẻ đẹp tự nhiên và chiều sâu văn hóa lịch sử ấy, đất nước đã nuôi dưỡng tình yêu, niềm tự hào và trách nhiệm lớn lao trong mỗi con người Việt Nam hôm nay.
Câu 2:
Ngôn ngữ, tiếng nói là một niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Tiếng nói là một nét văn hóa riêng của từng dân tộc, từng quốc gia. Chính vì lẽ đó mà tiếng Việt trở thành niềm tự hào, vẻ đẹp văn hóa của tâm hồn Việt Nam ta. Chính Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp”.Vẻ đẹp ấy đã được gìn giữ qua ngàn đời và bây giờ tới thế hệ chúng ta, thế hệ của sự hiện đại và mới mẻ, liệu có thể tiếp nối truyền thống, gìn giữ và phát triển sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt hay không khi tiếng Việt đang bị chính những người trẻ sử dụng một cách thô thiển, vô nghĩa.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.Ngôn ngữ giúp truyền đạt thông tin và cũng là một dấu hiệu nhận biết văn hóa, lịch sử của một người, quốc gia. Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam ta.Tiếng Việt là một ngôn ngữ trong sáng và giàu đẹp. Mỗi một vùng miền thì lại có những đặc điểm ngôn ngữ riêng dù là bình thường, dung dị nhưng lại vô cùng đa dạng và trong sáng. Đại thi hào Nguyễn Du đã phiêu bạt đất Bắc , đi qua các vùng quê, người hiểu và yêu cái ngôn ngữ của từng địa phương. Ông đã dùng những sợi chỉ ngôn ngữ thông dụng ấy để thêu nên bức tranh kiệt tác Truyện Kiều. Chỉ với Truyện Kiều đã đủ cho thấy được sự trong sáng, đa dạng của Tiếng Việt.
Ngày nay, chúng ta là người Việt vẫn nói Tiếng Việt vẫn viết Tiếng Việt nhưng chỉ có điều là tiếng Việt đã không còn như xưa nữa. Người trẻ sử dụng ngôn ngữ của mình một cách thiếu hiểu biết, thiếu tôn trọng và có phần xem nhẹ ngôn ngữ mẹ đẻ.Thời đại của công nghệ và bùng nổ truyền thông, mạng xã hội và internet như trở thành sự sống của sinh mạng người trẻ. Trên đó, hay cả ngoài cuộc sống họ nói chuyện với nhau một cách thật suồng sã và kì lạ, “nửa ta nửa tây” và đậm “phong cách sành điệu”, thời đại: ở where?/ Tao làm free cho/…Theo tôi thì đây là một cách nói chuyện kệch cỡm, không tôn trọng cả tiếng ta lẫn tiếng tây và không tôn trọng cả người đang nói chuyện với mình.Nếu đã nói tiếng Việt thì hãy nói sao cho nó được là chính nó, tiếng Việt là tiếng Việt; còn đã quyết tâm học tiếng Anh thì hãy nói cho chuẩn mực và lưu loát. Pha tạp ngôn ngữ không chỉ là hạ thấp giá trị của tiếng mẹ đẻ mà còn khiến cho những người nước ngoài cảm thấy khó hiểu, khó xử khi thấy ngôn ngữ của chính họ được sử dụng một cách “rẻ mạt”, không được tôn trọng. Những người trẻ giờ đây bắt chước, tiếp thu những thứ rất vô nghĩa, hài ước ở trên mạng mà họ không quan tâm nó đúng hay sai và chỉ cần mình theo trào lưu là được. Chưa hết, còn có cả những từ ngữ được sáng tạo ra để dành riêng cho gen Z (thế hệ những người trẻ):khum(không)/ bảnh (tôi, tớ)… đối với người trẻ thì đó là những cách nói thời thượng và dễ thương.Nhưng thực tế thì đây lại là sự suồng sã,không tôn trọng tiếng mẹ đẻ, không tôn trọng người đang giao tiếp.
Gìn giữ sự trong sáng và đẹp đẽ của Tiếng Việt là trách nhiệm của tất cả mọi người, đặc biệt là những người trẻ chúng ta. Vậy,cần làm sao để có thể gìn giữ được vẻ đẹp vốn có của Tiếng Việt? Chúng tại bị phương Bắc đô hộ hằng ngàn năm, chúng dùng mọi cách đồng hóa dân ta nhưng bất thành. Hàng ngàn năm cũng không thể đồng hóa được ta thì có cớ gì mạng xã hội và những tệ nạn ngôn ngữ trên mạng có thể đồng hóa được ta nếu chúng ta vẫn yêu ngôn ngữ của mình như đồng bào mình ngàn năm trước. Tiên quyết trước tiên đó chính là tình yêu, niềm tự hào văn hóa, tiếng nói của mỗi người trẻ. Không ai có thể ép buộc người khác làm việc mà họ không muốn nên không thể ép người trẻ bảo vệ những điều mà họ không để tâm. Nên cần phải gieo vào lòng, tâm trí của những người trẻ tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ. Dạy những người trẻ hiểu được rằng dân tộc ta có tiếng nói, ngôn ngữ vô cùng phong phú và đẹp đẽ. Để có thể nói được tiếng mẹ đẻ, được tự do viết Tiếng Việt thì biết bao nhiêu thế kỉ, biết bao thế hệ dân tộc đã đấu tranh bằng cả máu thịt để bảo vệ niềm kiêu hãnh ngôn ngữ của chính dân tộc. Thì những người trẻ càng cần phải nỗ lực cố gắng gìn giữ sự trong sáng và phong phú ấy. Đọc sáng cũng là một cách để có thể hiểu hơn, yêu hơn Tiếng Việt của chúng ta. Những tác phẩm văn học đều là những bức tranh được thêu lên từ ngôn ngữ. Những sợi chỉ thêu tranh ấy có thể là những sợi chỉ vàng, chỉ bạc nhưng cũng có thể chỉ là sợi chỉ bình thường thông dụng của dân gian. Sự hài hòa, nâng đỡ đậm đã đạo tạo nên những tác phẩm ngôn ngữ hoàn hảo nhất để con cháu đời sau biết rằng tiếng mẹ đẻ của chúng ta là một ngôn ngữ vô cùng đẹp.Thế nên trong lời ăn tiếng nói hằng ngày hãy sử dụng một cách tôn trọng tiếng mẹ đẻ của mình, nói và viết đúng ngữ pháp, chính tả và ngữ nghĩa. Khi nói, viết không chêm xen thêm những ngoại ngữ nửa ta, nửa tây. Đồng thời cũng cần nâng cao, làm phong phú vốn từ của mình bằng cách đi nhiều, đọc nhiều, học thêm những từ ngữ đẹp, mới trên tinh thần “học ăn, học nói, học gói, học mở”. Cần tránh tối đa việc sử dụng những câu từ thô tục, kệc cỡm, tránh những yếu tố pha tạp, lai căng dùng rằng bản thân đang ở thời đại mới và ngày nay việc tiếp nhận các ngôn ngữ mới là một điều tất yếu. Khi nói, diễn đạt cần sử dụng các từ mang giá trị tích cực, hợp lí, đúng chỗ và đúng trường hợp.
“Tiếng nói là thứ của cải quý giá và vô cùng quý báu của cả dân tộc ta. Chúng ta cần phải có trách nhiệm gìn giữ nó, quý trọng nó, làm nó phổ biến và ngày càng rộng khắp”. Đó là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh răn dặn chúng ta.Là một công dân Việt Nam, là chủ nhân tương lai phát triển văn hóa, kinh tế của đất nước thì trách nhiệm gìn giữ vẻ đẹp của Tiếng Việt này là trách nhiệm hiển nhiên, cao cả của chúng ta. Vì vậy, hãy tiếp tục tiếp thêm lửa cho tình yêu Tiếng Việt và không ngừng học hỏi, gìn giữ vẻ đẹp trong sáng, phong phú của ngôn ngữ mẹ đẻ.