nêu các khái niệm: cốt truyện,nhân vật,sự việc chính,ngôi kể
Trước hết, chúng ta cùng đến với khái niệm cốt truyện.
Cốt truyện là gì?
Các em thử tưởng tượng, khi xem một bộ phim hoạt hình hay đọc một câu chuyện cổ tích, điều gì đã giữ chân các em từ đầu đến cuối? Đó chính là diễn biến của câu chuyện, hay nói cách khác, là cốt truyện.
Trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6, cốt truyện được hiểu là:
“Chuỗi các sự kiện có quan hệ nguyên nhân – kết quả, nói lên diễn biến của câu chuyện.”
Để dễ hiểu hơn, các em hãy nghĩ về một dòng sông. Dòng sông có khởi nguồn, có những khúc quanh co, và cuối cùng là đổ ra biển lớn. Cốt truyện cũng tương tự như vậy, nó có mở đầu, có diễn biến, và có kết thúc.
Cốt truyện thường có ba phần chính:
1. Mở đầu (hay còn gọi là phần giới thiệu): Phần này giới thiệu về hoàn cảnh, thời gian, không gian diễn ra câu chuyện và các nhân vật.
2. Diễn biến (hay còn gọi là phần thắt nút, giải quyết): Đây là phần quan trọng nhất, là chuỗi các sự kiện nối tiếp nhau, thể hiện sự phát triển của mâu thuẫn trong câu chuyện. Các sự kiện này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cái này dẫn đến cái kia.
3. Kết thúc (hay còn gọi là phần mở nút): Phần này giải quyết các mâu thuẫn đã được đặt ra ở phần diễn biến, đưa câu chuyện đến hồi kết.
Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu về nhân vật.
Nhân vật là gì?
Trong mỗi câu chuyện, ai là người làm nên câu chuyện đó? Chính là những nhân vật. Họ là những hình tượng con người (hoặc đôi khi là con vật, đồ vật được nhân hóa) do tác giả tạo ra để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình.
Theo sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6:
“Nhân vật là người hoặc con vật, đồ vật được nhân hóa, tham gia vào câu chuyện và bộc lộ tính cách qua hành động, lời nói, suy nghĩ của mình.”
Các em có thể thấy, nhân vật không chỉ xuất hiện và làm theo những gì tác giả viết, mà họ còn bộc lộ tính cách của mình. Cách bộc lộ này thường thông qua:
* Hành động: Nhân vật làm gì, làm như thế nào.
* Lời nói: Nhân vật nói gì, nói với ai, nói ra sao.
* Suy nghĩ: Những điều nhân vật nghĩ trong lòng (thường được tác giả miêu tả).
* Ngoại hình: Diện mạo, trang phục của nhân vật cũng có thể phản ánh tính cách.
Bây giờ, chúng ta sẽ đến với khái niệm sự việc chính.
Sự việc chính là gì?
Trong một câu chuyện, có rất nhiều sự kiện xảy ra, nhưng không phải sự kiện nào cũng quan trọng như nhau. Sự việc chính là những sự kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến diễn biến và kết thúc của câu chuyện.
Theo sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6:
“Sự việc chính là những sự việc quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến diễn biến và kết thúc của câu chuyện.”
Để nhận biết sự việc chính, các em hãy thử đặt câu hỏi:
* Nếu sự việc này không xảy ra, thì câu chuyện có tiếp tục theo hướng này không?
* Sự việc này có dẫn đến những sự việc quan trọng khác không?
* Sự việc này có giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nhân vật hoặc chủ đề của câu chuyện không?
Nếu câu trả lời là “có” cho hầu hết các câu hỏi trên, thì đó rất có thể là một sự việc chính.
Cuối cùng, chúng ta sẽ tìm hiểu về ngôi kể.
Ngôi kể là gì?
Ngôi kể là cách thức người kể chuyện lựa chọn để kể lại câu chuyện. Cách lựa chọn ngôi kể sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cách câu chuyện được truyền tải đến người đọc.
Theo sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6:
“Ngôi kể là cách người kể chuyện xưng hô và lựa chọn điểm nhìn để trần thuật câu chuyện.”
Có hai ngôi kể chính mà chúng ta thường gặp:
1. Ngôi thứ nhất:
* Người kể chuyện xưng “tôi” (hoặc “em”, “cháu”, “bạn”, “chúng tôi”,…).
* Người kể chuyện là một nhân vật trong câu chuyện.
* Ưu điểm: Tạo cảm giác chân thực, gần gũi, cho phép người đọc thâm nhập sâu vào suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật.
* Nhược điểm: Phạm vi hiểu biết và góc nhìn của người kể chuyện bị hạn chế bởi chính nhân vật đó.
2. Ngôi thứ ba:
* Người kể chuyện xưng “hắn”, “y”, “họ” hoặc không xưng hô trực tiếp mà kể chuyện như một người ngoài quan sát.
* Người kể chuyện không trực tiếp tham gia vào câu chuyện.
* Ưu điểm: Có cái nhìn bao quát, có thể biết hết mọi diễn biến, suy nghĩ của tất cả các nhân vật.
* Nhược điểm: Đôi khi tạo cảm giác xa cách hơn so với ngôi thứ nhất.
Thông thường, các câu chuyện cổ tích hay các tác phẩm văn học dành cho lứa tuổi của các em hay sử dụng ngôi thứ nhất để tạo sự gần gũi, hoặc sử dụng ngôi thứ ba với giọng kể nhẹ nhàng, dễ hiểu.
Cô hy vọng qua bài giảng hôm nay, các em đã nắm vững được bốn khái niệm quan trọng này. Chúng ta sẽ cùng nhau áp dụng những kiến thức này để phân tích các văn bản truyện trong những bài học sắp tới nhé!
Khái niệm:
-Cốt truyện: là một hệ thống nhất định,tóm gọn ý nghĩa,nội dung của một tác phẩm văn học.Cốt truyện cũng có thể hiểu ngắn gọn là nội dung mà tác phẩm đó thể hiện.
-Nhân vật: là yếu tố nghệ thuật có thể dựa trên sự thật,việc thật hoặc hư cấu.Nhân vật chính là đối tượng được chú ý,là hình tượng nổi bật nhất trong mỗi tác phẩm văn học.
-Sự việc chính: là những yếu tố chính,là trọng tâm của một tác phẩm.Sự việc chính góp phần thể hiện nội dung,tư tưởng của bài.
–Ngôi kể: là một ví trí giao tiếp nhất định mà người kể dùng để kể chuyện.Ngôi kể giúp người kể có thể trình bày,diễn đạt tác phẩm của mình một cách đặc sắc,giàu dạt cảm xúc.
-Cốt truyện là hình thức tổ chức cơ bản nhất của truyện; nó bao gồm các giai đoạn phát triển chính, một hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của các tác phẩm văn học, nhất là đối với các sáng tác thuộc các loại tự sự và kịch.
– nhân vật là Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm. Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận…đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật. Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện
– Sự việc trong văn tự sự được trình bày một cách cụ thể về thời gian, địa điểm, nhân vật, có nguyên nhân- diễn biến- kết quả được sắp xếp theo trình tự nhất định
-Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng để kể chuyện. Khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, người kể tự giấu mình đi, tức là kể theo ngôi thứ ba, người kể kể có thể kể linh hoạt, tự do những gì diễn ra với nhân vật.