Nhận biết 4 lọ mất nhãn các chất rắn sau: Mg(HCO3)2, BaCl2, Ba(HCO3)2, MgSO4 chỉ…
Chào các em học sinh thân mến!
Hôm nay, thầy trò chúng ta sẽ cùng nhau giải quyết một bài toán nhận biết rất thú vị, chỉ sử dụng một phương pháp duy nhất là đun nóng. Các chất rắn của chúng ta là Mg(HCO3)2, BaCl2, Ba(HCO3)2, MgSO4.
Để giải bài tập này, chúng ta sẽ tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Đun nóng sơ bộ từng mẫu chất rắn.
Chúng ta sẽ lấy một lượng nhỏ mỗi chất rắn vào các ống nghiệm riêng biệt, sau đó đun nóng nhẹ trên ngọn lửa đèn cồn và quan sát các hiện tượng xảy ra.
- Hiện tượng 1: Có hai mẫu chất rắn khi đun nóng thấy có khí không màu thoát ra và hơi nước ngưng tụ ở thành ống nghiệm (trên phần lạnh hơn). Khí thoát ra này là khí cacbonic (CO2).
- Hiện tượng 2: Có hai mẫu chất rắn khi đun nóng không thấy khí CO2 thoát ra.
- Một mẫu khi đun nóng thấy hơi nước ngưng tụ ở thành ống nghiệm. Chất rắn này có thể là MgSO4 (thường tồn tại ở dạng ngậm nước, ví dụ MgSO4·7H2O).
- Mẫu còn lại khi đun nóng không thấy có hiện tượng gì đặc biệt (không có khí thoát ra, không có hơi nước ngưng tụ, chất rắn giữ nguyên trạng thái). Chất này là BaCl2.
Giải thích: Đây là hiện tượng phân hủy của muối hiđrocacbonat (muối axit) khi đun nóng.
Các phương trình phản ứng:
Mg(HCO3)2 (rắn) \(\xrightarrow{t^o}\) MgCO3 (rắn) + H2O (hơi) + CO2 (khí)
Ba(HCO3)2 (rắn) \(\xrightarrow{t^o}\) BaCO3 (rắn) + H2O (hơi) + CO2 (khí)
Hai mẫu này là Mg(HCO3)2 và Ba(HCO3)2. Chúng ta tạm đặt chúng vào Nhóm A.
Giải thích: Đây là các muối trung hòa bền nhiệt hoặc muối ngậm nước chỉ mất nước mà không sinh ra khí CO2.
Trong hai mẫu này:
Phương trình phản ứng (nếu là muối ngậm nước):
MgSO4·7H2O (rắn) \(\xrightarrow{t^o}\) MgSO4 (rắn) + 7H2O (hơi)
Lưu ý: Trong chương trình Hóa học lớp 9, MgSO4 thường được đề cập ở dạng ngậm nước (muối Epsom) và có hiện tượng mất nước khi đun nóng. Chúng ta sẽ dựa vào đặc điểm này để phân biệt.
Giải thích: BaCl2 là muối trung hòa bền nhiệt, không phân hủy hay mất nước ở nhiệt độ đun nóng bằng đèn cồn trong phòng thí nghiệm thông thường.
Như vậy, chúng ta đã nhận biết được BaCl2 và MgSO4 (tạm đặt chúng vào Nhóm B).
Bước 2: Phân biệt các chất trong Nhóm A (Mg(HCO3)2 và Ba(HCO3)2).
Hai chất này sau khi đun nóng ban đầu đều tạo ra muối cacbonat (MgCO3 và BaCO3) và khí CO2.
Bây giờ, chúng ta sẽ lấy phần chất rắn còn lại sau khi đun nóng của hai mẫu trong Nhóm A và tiếp tục đun nóng mạnh hơn:
- Một mẫu chất rắn còn lại khi đun nóng mạnh hơn sẽ tiếp tục thấy có khí thoát ra (khí CO2). Chất rắn này là MgCO3 (được tạo ra từ Mg(HCO3)2).
- Mẫu chất rắn còn lại khi đun nóng mạnh hơn vẫn không thấy có khí thoát ra. Chất rắn này là BaCO3 (được tạo ra từ Ba(HCO3)2).
Giải thích: MgCO3 là muối cacbonat kém bền nhiệt hơn BaCO3, khi đun nóng mạnh sẽ tiếp tục phân hủy.
Phương trình phản ứng:
MgCO3 (rắn) \(\xrightarrow{t^o_{cao}}\) MgO (rắn) + CO2 (khí)
Vậy, ống nghiệm ban đầu chứa Mg(HCO3)2.
Giải thích: BaCO3 là muối cacbonat bền nhiệt hơn MgCO3 rất nhiều, rất khó phân hủy ở nhiệt độ của đèn cồn.
Vậy, ống nghiệm ban đầu chứa Ba(HCO3)2.
Kết luận:
Bằng phương pháp đun nóng, chúng ta đã nhận biết được cả 4 chất rắn ban đầu:
- Hai lọ Mg(HCO3)2 và Ba(HCO3)2 được nhận biết qua quá trình phân hủy tạo CO2 và H2O, sau đó phân biệt MgCO3 và BaCO3 bằng cách đun nóng mạnh hơn.
- Lọ MgSO4 được nhận biết bằng hiện tượng mất nước (tạo hơi nước ngưng tụ) mà không có khí CO2.
- Lọ BaCl2 được nhận biết bằng việc không có hiện tượng gì đặc biệt khi đun nóng.
Các em nhớ kỹ các hiện tượng và phương trình phản ứng nhé!
Đáp án:
Trích mỗi chất một ít làm thuốc thử:
+) Đun nóng đến khối lượng không đổi các chất rắn đã cho
– Các chất nào khi nung tạo khí không màu (CO2) là Mg(HCO3)2 và Ba(HCO3)2 (*)
– Hai chất còn lại không có hiện tượng là MgSO4 và BaCl2
PTHH:
\(Mg(HCO_3)_2 \xrightarrow{t^o} MgO + 2CO_2↑ + H_2O\)
\(Ba(HCO_3)_2 \xrightarrow{t^o} BaO + 2CO_2↑ + H_2O\)
+) Hòa tan chất rắn thu được sau khi nung của nhóm (*):
– Chất rắn nào tan là BaO ⇒ chất ban đầu là Ba(HCO3)2
– Rắn còn lại không tan là MgO ⇒ Mg(HCO3)2
PTHH: \(BaO + H_2O \to Ba(OH)_2\)
+) Để nhận biết hai chất còn lại ta dùng dung dịch Ba(OH)2 vừa thu được ở trên:
– Chất nào tan sau đó tạo kết tủa trắng là MgSO4,
– Dung dịch còn lại là BaCl2 không có hiện tượng.
PTHH: \(MgSO_4 + Ba(OH)_2 \to BaSO_4↓ + Mg(OH)_2\)
Đun nóng các dd. 2 muối hidrocacbonat tạo kết tủa
Mg(HCO3)2 -> MgCO3+ CO2+ H2O
Ba(HCO3)2 -> BaCO3+ CO2+ H2O
Lấy 2 kết tủa này, nung đến khi khối lượng k đổi, sau đó thả vào nước (từ dd). BaO tan, chất ban đầu là Ba(HCO3)2, còn lại là Mg(HCO3)2.
MgCO3 (t*)-> MgO+ CO2
BaCO3 (t*)-> BaO+ CO2
BaO+ H2O -> Ba(OH)2
Lấy dd Ba(OH)2 nhỏ vào 2 dd còn lại. MgSO4 có kết tủa, dd kia là BaCl2.
Ba(OH)2+ MgSO4 -> BaSO4+ Mg(OH)2