Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Nội dung các Hiệp ước 1862, 1874, 1883, 1884.

Nội dung các Hiệp ước 1862, 1874, 1883, 1884.

Nội dung các Hiệp ước 1862, 1874, 1883, 1884.
Hỏi bởi:
3 câu trả lời
▲ 9
Chào các em học sinh yêu quý của cô! Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau ôn lại và phân tích nội dung các hiệp ước quan trọng trong lịch sử Việt Nam giai đoạn cận đại, mà cụ thể là các hiệp ước được ký kết với thực dân Pháp. Đây là những văn bản mang tính bước ngoặt, đánh dấu quá trình triều đình Nguyễn từng bước đầu hàng và nhượng địa cho Pháp.

Chúng ta sẽ đi sâu vào từng hiệp ước một, bám sát theo nội dung sách giáo khoa Lịch sử lớp 8 nhé.

1. Hiệp ước Nhâm Tuất (1862)

Sau khi thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa), triều đình nhà Nguyễn đã ký với Pháp bản Hiệp ước Nhâm Tuất.

Nội dung chính của hiệp ước này bao gồm:

* Triều đình Nguyễn thừa nhận sự chiếm đóng của Pháp ở ba tỉnh miền Đông Nam kỳ.
* Mở cửa ba cảng Đà Nẵng, Ba Latt, Quảng Yên cho thương nhân Pháp ra vào tự do.
* Cho phép người Pháp tự do đi lại trong nước.
* Bãi bỏ các chính sách hạn chế đối với thương nhân Pháp.
* Đổi lại, Pháp sẽ giúp triều đình Nguyễn đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta.

Các em thấy không, ngay từ hiệp ước đầu tiên này, triều đình Nguyễn đã có những nhượng bộ nặng nề, thừa nhận quyền chiếm đóng của Pháp và mở cửa cho chúng can thiệp sâu vào kinh tế, chính trị nước ta.

2. Hiệp ước Giáp Tuất (1874)

Sau lần thứ hai Pháp tấn công Bắc Kỳ, triều đình Nguyễn đã ký với Pháp bản Hiệp ước Giáp Tuất.

Nội dung chính của hiệp ước này bao gồm:

* Triều đình Nguyễn thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp trên toàn bộ ba tỉnh miền Đông Nam kỳ (nay Pháp đã chiếm trọn).
* Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ (trước mắt), nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát Hà Nội và các đồn lũy.
* Mở cửa một số cảng ở Bắc kỳ cho thương nhân Pháp.
* Triều đình Nguyễn phải bồi thường chiến phí cho Pháp.
* Pháp tuyên bố tôn trọng “vận mệnh” của nhà Nguyễn và các nước khác, nhưng trên thực tế là lừa bịp.

So với hiệp ước 1862, hiệp ước 1874 có những điểm mới là Pháp đã chính thức thừa nhận quyền cai trị của Pháp trên ba tỉnh miền Đông, đồng thời đòi hỏi nhiều quyền lợi hơn về kinh tế và quân sự.

3. Hiệp ước Quý Mùi (1883)

Thực dân Pháp tiếp tục tấn công và chiếm đóng một số tỉnh ở Bắc Kỳ. Triều đình Nguyễn, đứng đầu là vua Hàm Nghi, lúc này đã có thái độ kháng cự quyết liệt hơn. Tuy nhiên, trước sức mạnh quân sự của Pháp, triều đình đã ký với Pháp bản Hiệp ước Quý Mùi.

Nội dung chính của hiệp ước này bao gồm:

* Triều đình Nguyễn thừa nhận hoàn toàn sự bảo hộ của Pháp trên toàn bộ nước Bắc KỳTrung Kỳ.
* Pháp kiểm soát mọi mặt của Việt Nam về đối nội và đối ngoại.
* Triều đình Nguyễn chỉ còn giữ vai trò bù nhìn, chịu sự điều khiển của Pháp.
* Pháp sẽ giúp triều đình Nguyễn cai trị các tỉnh, đồng thời mở mang thương mạixây dựng cơ sở hạ tầng (nhưng phục vụ lợi ích của Pháp).

Hiệp ước này đánh dấu một bước ngoặt lớn, triều đình Nguyễn đã chính thức đầu hàng Pháp trên quy mô toàn quốc.

4. Hiệp ước Giáp Thân (1884)

Sau khi Hiệp ước Quý Mùi ký kết, phong trào kháng chiến của nhân dân ta vẫn tiếp tục. Pháp cũng nhận thấy Hiệp ước Quý Mùi quá hà khắc và có thể gây ra phản ứng mạnh mẽ hơn nữa. Vì vậy, Pháp đã ký với triều đình Nguyễn bản Hiệp ước Giáp Thân.

Nội dung chính của hiệp ước này bao gồm:

* Hủy bỏ bản Hiệp ước Quý Mùi (trên danh nghĩa).
* Triều đình Nguyễn chính thức thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
* Pháp vẫn kiểm soát mọi mặt về đối nội và đối ngoại.
* Pháp sẽ tôn trọng nhà Nguyễn và các quan lại, nhưng quyền hành thực tế nằm trong tay Pháp.
* Lập ra một “đường ranh giới” phân chia Trung Kỳ và Bắc Kỳ, nhưng đây chỉ là thủ đoạn để Pháp dễ bề cai trị.

Hiệp ước 1884 về cơ bản vẫn giữ nguyên nội dung chính của Hiệp ước 1883, chỉ là sửa đổi một vài điều khoản để “mềm mỏng” hơn trên danh nghĩa, nhằm xoa dịu dư luận và hạn chế sự phản kháng.

Cô hy vọng qua bài giảng hôm nay, các em đã nắm chắc được nội dung chính của từng bản hiệp ước. Đây là những kiến thức quan trọng để hiểu rõ hơn về quá trình xâm lược và thống trị của thực dân Pháp đối với nước ta. Các em về nhà xem lại bài và chuẩn bị cho tiết học tiếp theo nhé.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 3

\(-\) Hiệp ước Nhâm Tuất ( 1862 ):

– Triều đình thừa nhận quyền cai quản của Pháp ở ba tỉnh miền Đông Nam Kì ( Gia Định, Định Tường và Biên Hòa ) và đảo Côn Lôn;

– Mở ba cửa biển ( Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên ) cho Pháp vào buôn bán;

– Cho phép người Pháp và người Tây Ban Nha tự do truyền đạo Gia tô, bãi bỏ lệnh cấm đạo trước đây;

– Bồi thường cho Pháp một khoản chiến phí tương đương 288 vạn lạng bạc;

– Pháp sẽ trả lại cho triều đình thành Vĩnh Long cho triều đỉnh chừng nào triều đình buộc được dân chúng ngừng kháng chiến;

– Triều đình không được tự ý cắt đất giảng hòa với bất cứ nước nào nếu như chưa được Pháp ưng thuận.

\(-\) Hiệp ước Giáp Tuất ( 1874 ):

+ Triều đình Huế thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ ( Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên;  miền Đông gồm: Gia Định, Định Tường và Biên Hòa )  là đất thuộc Pháp

+ Mở đường lối đi lại, cho Pháp tự do buôn bán.

+ Mọi việc giao thiệp với nước ngoài đều do Pháp nhắm.

-> Nước ta trở thành nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến, mất một phần quan trọng trong chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền buôn bán, ngoại giao và thương mại Việt Nam.

\(-\) Hiệp ước Hác-măng ( 1883 ):

+ Triều đình Huế chính thức thừa nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì để nhập và đất Nam Kì thuộc Pháp…

+ Ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh được sáp nhập vào Bắc Kì. Triều đỉnh chỉ được cai quản vùng đất Trung Kì, nhưng mọi việc đều phải thông qua viên Khâm sứ Pháp ở Huế.

+ Công sứ Pháp ở các tỉnh Bắc Kì thường xuyên kiểm soát những công việc của quan lại triều đỉnh, nắm các quyền trị an và nội vụ.

+ Mọi việc giao thiệp với nước ngoài đều do Pháp nắm. Triều đình Huế phải rút hết quân đội ở Bắc Kì về Trung Kì.

\(-\) Hiệp ước Pa-tơ-nốt ( 1884 ): Nội dung cơ bản giống Hiệp ước Hác Măng, chỉ sửa đổi đôi chút về ranh giới khu vực Trung Kì để hòng lấy lòng vua quan bù nhìn và xoa dịu dư luận…

Triều đình Huế kí với Pháp các Hiệp ước này vì

– Không tin vào sức mạnh của dân có thể thắng giặc, của Pháp, sợ mất nước, quá đề cao kẻ thù là thực dân Pháp.

– Muốn giảng hòa với Pháp để duy trì dòng dõi, đất đai.

– Ảo tưởng con đường Thương Thuyết để giành lại những vùng đã mất.

\(\text{Mik gửi ạ, trên lớp mik cx làm bài này r nè}\)

\(#huonggiangk9\)

Trả lời bởi: huonggiangduong
▲ 1

Đánh giá âm mưu của thực dân Pháp và thái độ của triều đình nhà Nguyễn thông qua nội dung của 4 bản hiệp ước 1862, 1874, 1883, 1884.

1. Hiệp ước Nhâm Tuất 5/6/1862 
* Hoàn cảnh: 
Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ, quân pháp thừa thắng, lần lượt chiếm các tỉnh Định Tường, Biên Hòa và Vĩnh Long. Tình hình này làm cho triều đình phong kiến nhà Nguyễn rất hốt hoảng và lo sợ nên 
triều đình đã kí với pháp bản hiệp ước Nhâm Tuất với nội dung: 
– Triều đình nhà Nguyễn thừa nhận quyền cai quản của Pháp ở ba tỉnh miền Đông Nam Kì (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và đảo Côn Lôn; mở ba cửa biển (Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên) cho Pháp vào buôn bán; cho phép người Pháp và Tây Ban Nha tự do truyền đạo Gia Tô, bãi bỏ lệnh cấm đạo trước đây; bồi thường cho Pháp một khoản chiến phí tương đương 288 vạn lạng bạc. 
– Pháp sẽ trả lại thành Vĩnh Long cho triều đình chừng nào triều đình buộc được dân chúng ngừng kháng chiến…… 
=> Nhận xét: 
– Triều đình đã chính thức đầu hàng, bức bột trước sự xâm lược của Pháp. 
– Với việc làm đó, triều đình đã từ bỏ một phần trách nhiệm tổ chức và lãnh đạo kháng chiến chống 
Pháp đồng thời cũng thể hiện ý thức vì lợi ích riêng của triều đình phong kiến nên đã phản bội một phần lợi ích dân tộc. 
2. Hiệp ước Giáp Tuất 15/3/1874 
* Hoàn cảnh: 
– Chiến thắng của ta ở Cầu Giấy khiến quân Pháp hoang mang cực độ còn quân và dân ta phấn khởi, càng hăng hái đánh giặc. 
– Ngược lại, triều đình phong kiến nhà Nguyễn lo sợ nên đã vội vã kí với pháp Hiệp ước Giáp Tuất, trước mắt để pháp rút khỏi Bắc Kì. 
* Nội dung: 
– Triều đình chính thức thừa nhận 6 tỉnh Nam Kì hoàn toàn thuộc Pháp. 
– Quân Pháp sẽ rút hết quân ở Bắc Kì. 
=> Nhận xét: 
– Triều đình sớm tỏ ra hoang mang, giao động vô căn cứ nên lo sợ, dẫn đến những việc làm ngu ngốc và tội lỗi. 
– Với nội dung kí kết đó, triều đình đã tiếp tục phản bội lợi ích dân tộc, lợi ích của nhân dân, tạo đà cho quân Pháp có cơ hội lấn tới trên con đường xâm lược nước ta. 
3. Hiệp ước Quý Mùi: 
* Hoàn cảnh: 
– Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai làm quân Pháp thêm hoang mang dao động. Chúng đã toan bỏ chạy nhưng triều đình lại chủ trương thương lượng với Pháp. 
– Sau khi có thêm viện binh, lại nhân cơ hội vua Tự Đức qua đời, triều đình nhà Nguyễn lục đục, thực dân Pháp chớp ngay lấy cơ hội và quyết định tấn công thẳng vào cửa ngõ kinh thành Huế Đó là cửa biển Thuận An. 
– Ngày 20/8/1883 sau 2 ngày bắn pháo, quân Pháp đổ bộ lên Thuận An.Triều đình hoảng hốt xin đình chiến. 
– Cao ủy Pháp lên ngay Huế, đưa ra bản hiệp ước thảo sẵn, buộc triều đình chấp nhận và kí ngày 25/8/1883. Hiệp ước mang chính tên viên Cao ủy Pháp: Hiệp ước Hac – măng (còn gọi là hiệp ước Quý Mùi) với nội dung: 
+ Triều đình Huế Chính thức thừa nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì,cắt tỉnh Bình Thuận ra khỏi Trung Kì để nhập vào đất Nam Kì thuộc Pháp. Ba tỉnh Thanh_Nghệ_Tỉnh được sáp nhập vào Bắc Kì .Triều đình chỉ được cai quản vùng đất Trung Kì,nhưng mọi việc đều phải thông qua viên khâm sứ Pháp ở Huế.Công sứ Pháp ở các tỉnh Bắc Kì thường xuyên kiểm soát những công việc của quan lại triều đình,nắm cá quyền trị an và nội vụ.Mọi việc giao thiệp với nước ngoài (kể cả với Trung Quốc) đều do Pháp nắm.Triều đình Huế phải rút quân đội ở Bắc Kì về Trung Kì. 
=> Nhận xét: 
– Tuy nội dung hiệp ước chỉ nói đến mức độ bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì và trung Kì nhưng thực chất quyền đối nội, đối ngoại của triều đình đã phụ thuộc vào Pháp và do Pháp quyết định. Vì vậy, thực chất hiệp ước 1883 đã chính thức chấm dứt sự tồn tại của triều đình phong kiến nhà Nguyễn với tư cách là một quốc gia độc lạp. Tuy vẫn còn tồn tại trên hình thức nhưng triều đình phong kiến chỉ còn là tay sai cho Pháp. 
=> Với hiệp ước 1883, triều đình phong kiến nhà Nguyễn không những tự mình làm mất đi sự độc lập của một chính quyền nhà nước phong kiến mà qua đó còn thể hiện sự phản bội trắng trợn của triều đình phong kiến và bè lũ vua tôi nhà Nguyễn với lợi ích của dân tộc. 
4. Hiệp ước Pa – tơ – nốt ngày 6/6/1884 
* Hoàn cảnh 
– Sau hiệp ước 1883, nhân dân cả nước một mặt phẫn nộ trước thái độ đầu hàng của triều nguyễn, mặt khác càng căm thù quân xâm lược Pháp nên soi nổi đứng lên kháng chiến. 
– Trước hoàn cảnh đó, chính quyền thực dân Pháp chủ trương làm dịu bớt tình hình căng thẳng của nhân dân và tỏ ra rộng lượng với triều đình để lấy lòng bọn tay sai nên đã dẫn đến việc kí kết hiệp ước Pa – tơ – nốt ngày 6/6/1884 
=> Nhận xét : 
– Việc kí kết hiệp ước đó không làm thay đổi căn bản tình hình nước ta, kẻ thù vẫn nham hiểm và đô hộ nước ta, triều đình vẫn đầu hàng, can tâm làm tay sai cho giặc. 
==> Kết luận chung: 
– Từ các bản hiệp ước nói trên ta đã có dủ bằng chứng kết luận từ năm 1858 – 1884, triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã đầu hàng từng bước tiến tới đầu hàng toàn bộ trước quân xâm lược Pháp.

Trả lời bởi: Bảo Châu

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo