Ở người, gen A quy định da bình thường, gen a quy định bệnh bạch tạng (các gen…
Đề bài: Ở người, gen A quy định da bình thường, gen a quy định bệnh bạch tạng (các gen này nằm trên nst thường). Nếu bố mẹ đều có kiểu gen Aa thì khả năng sinh con bị bệnh bạch tạng là bao nhiêu %?
Đây là một dạng bài tập cơ bản và rất quan trọng trong di truyền học. Chúng ta hãy cùng nhau phân tích và giải quyết từng bước một nhé!
Hướng dẫn giải:
Bước 1: Xác định quy ước gen và kiểu hình tương ứng.
Theo đề bài đã cho, chúng ta có quy ước như sau:
- Gen A: quy định tính trạng da bình thường (trội).
- Gen a: quy định tính trạng bệnh bạch tạng (lặn).
Từ đó, chúng ta có thể suy ra các kiểu gen và kiểu hình tương ứng:
- Kiểu gen AA: Kiểu hình da bình thường.
- Kiểu gen Aa: Kiểu hình da bình thường (vì gen A trội hoàn toàn so với gen a).
- Kiểu gen aa: Kiểu hình bệnh bạch tạng.
Bước 2: Xác định kiểu gen và kiểu hình của bố mẹ, sau đó viết sơ đồ lai.
Đề bài cho biết bố mẹ đều có kiểu gen Aa. Điều này có nghĩa là cả bố và mẹ đều mang gen bệnh nhưng không biểu hiện bệnh (da bình thường).
- Bố: có kiểu gen Aa (kiểu hình da bình thường).
- Mẹ: có kiểu gen Aa (kiểu hình da bình thường).
Vậy, sơ đồ lai của cặp bố mẹ này sẽ là:
P: Bố (Da bình thường) × Mẹ (Da bình thường)
Aa × Aa
Bước 3: Xác định các loại giao tử mà bố mẹ có thể tạo ra.
Mỗi cá thể có kiểu gen Aa sẽ tạo ra hai loại giao tử với tỉ lệ ngang nhau:
- Bố (kiểu gen Aa) tạo ra 2 loại giao tử: A và a, với tỉ lệ \(1A : 1a\).
- Mẹ (kiểu gen Aa) tạo ra 2 loại giao tử: A và a, với tỉ lệ \(1A : 1a\).
Bước 4: Viết sơ đồ lai để xác định tỉ lệ kiểu gen và kiểu hình ở đời con (F1).
Chúng ta sẽ tổ hợp các giao tử của bố và mẹ để xác định kiểu gen của con cái.
Sơ đồ lai:
P: Aa × Aa
Giao tử P: \(A, a\) \(A, a\)
F1:
Chúng ta có thể dùng bảng Punnett để dễ hình dung hơn:
| A (mẹ) | a (mẹ) | |
| A (bố) | AA | Aa |
| a (bố) | Aa | aa |
Từ sơ đồ lai hoặc bảng Punnett, chúng ta thu được tỉ lệ kiểu gen ở đời con (F1) là:
Từ tỉ lệ kiểu gen, chúng ta xác định tỉ lệ kiểu hình:
- AA (da bình thường): chiếm 1 phần.
- Aa (da bình thường): chiếm 2 phần.
- aa (bệnh bạch tạng): chiếm 1 phần.
Vậy, tỉ lệ kiểu hình ở đời con (F1) là:
Bước 5: Trả lời câu hỏi về khả năng sinh con bị bệnh bạch tạng.
Dựa vào tỉ lệ kiểu hình ở đời con, chúng ta thấy rằng những đứa con có kiểu gen aa sẽ bị bệnh bạch tạng.
Tỉ lệ kiểu gen aa là \(1\) phần trong tổng số \(1+2+1 = 4\) phần.
Vậy, khả năng sinh con bị bệnh bạch tạng là \(\frac{1}{4}\).
Để chuyển sang phần trăm, chúng ta thực hiện phép tính:
\[ \text{Khả năng sinh con bị bệnh} = \frac{1}{4} \times 100\% = 25\% \]
Kết luận:
Nếu bố mẹ đều có kiểu gen Aa (da bình thường nhưng mang gen bệnh), thì khả năng họ sinh con bị bệnh bạch tạng là 25%. Điều này có nghĩa là trung bình cứ 4 đứa con thì có 1 đứa con có khả năng mắc bệnh bạch tạng.
Bài tập này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quy luật di truyền của các bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Hẹn gặp lại các em trong những bài giảng và bài tập tiếp theo nhé! Chúc các em học tốt!
Đáp án:
Giải thích các bước giải:
-Sơ đồ lai:
GP:Aa x Aa
P:A,a A,a
F1:1AA|2Aa|1aa
(75% quy định gen da bình thường,25% quy định gen bệnh bạch tạng)
Theo bài ra ta có sơ đồ lai:
P: Aa x Aa
Gp: A, a A, a
F1: 1AA : 2Aa : 1aa
Tỉ lệ con bị bạch tạng aa là: \(1 : 4 = 25\%\)