Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

phân tích một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ qua đèo ngang c…

phân tích một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ qua đèo ngang c…

phân tích một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ qua đèo ngang của bà Huyện Thanh Quan
Hỏi bởi: chuaxitmegakill
2 câu trả lời
▲ 9
Xin chào các em học sinh lớp 8! Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào phân tích một kiệt tác thơ ca trung đại của dân tộc, đó là bài thơ “Qua Đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan. Chúng ta sẽ cùng khám phá những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ này dựa trên kiến thức đã học trong Sách giáo khoa nhé.

Cô giáo sẽ hướng dẫn các em từng bước một để có thể hiểu rõ nhất.

Bước 1: Giới thiệu chung về bài thơ và tác giả

Trước hết, các em cần nhớ lại bài thơ “Qua Đèo Ngang” thuộc thể thơ gì và được sáng tác trong hoàn cảnh nào. Bài thơ là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Thể thơ này có những quy định chặt chẽ về số câu, số chữ, vần, điệu, niêm, luật bằng trắc. Bà Huyện Thanh Quan là một nữ thi sĩ tài hoa thời Nguyễn, với những tác phẩm giàu cảm xúc và bút pháp tinh tế. “Qua Đèo Ngang” là một trong những bài thơ tiêu biểu, thể hiện tài năng của bà.

Bước 2: Phân tích các yếu tố hình thức nghệ thuật đặc sắc

Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào phân tích cụ thể các yếu tố nghệ thuật.

2.1. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

Đây là một yếu tố hình thức rất quan trọng, chi phối toàn bộ nội dung và cảm xúc của bài thơ.

* Số câu, số chữ: Bài thơ có 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Điều này tạo nên sự cô đọng, súc tích, mỗi chữ đều mang một ý nghĩa nhất định.
* Vần: Bài thơ tuân thủ quy luật gieo vần của thơ Đường luật. Vần “ang” được gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8. Vần chính là “non”, “sóng”, “xanh”, “thăm thẳm”, “cảm”. Vần ở câu 3, 5 có thể có hoặc không, tùy thuộc vào từng bài thơ và quy định chi tiết hơn về luật thơ. Trong bài này, câu 3 và 5 không vần với vần chính.
* Niêm: Bài thơ tuân thủ quy luật niêm giữa các câu. Câu 1 và câu 2 “niêm” với nhau, câu 3 và câu 4 “niêm” với nhau, câu 5 và câu 6 “niêm” với nhau. Đây là quy luật về thanh điệu (bằng-trắc) của các tiếng cuối câu.
* Luật bằng trắc: Các chữ trong mỗi câu được sắp xếp theo một trật tự bằng trắc nhất định. Quy luật này tuy chặt chẽ nhưng lại tạo ra nhạc điệu du dương, uyển chuyển cho bài thơ. Ví dụ, với câu thơ 7 chữ, có những kiểu kết cấu bằng trắc phổ biến như:
* Bằng – Trắc – Bằng – Bằng – Trắc – Trắc – Bằng (thường gặp ở câu 1, 2, 4, 6, 8)
* Trắc – Trắc – Bằng – Trắc – Bằng – Bằng – Trắc (thường gặp ở câu 3, 5)
Các em có thể tự mình kiểm tra bằng trắc của từng tiếng trong bài thơ để thấy được sự chặt chẽ này.

2.2. Cấu trúc của bài thơ Đường luật

Bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường được chia thành bốn phần, mỗi phần có chức năng riêng:

* Mở đầu (Câu 1-2): Giới thiệu không gian, cảnh vật. Trong “Qua Đèo Ngang”, hai câu đầu đã phác họa một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoang vắng:
* “Đã thấy: Trăm nghìn cây lá đá chồng lên nhau.” (Dựa trên nguyên tác Hán-Việt, câu thơ miêu tả sự um tùm, rậm rạp của cây cỏ trên núi).
* “Ngàn thước: Làn sóng xanh lớp lớp lan ra.” (Miêu tả cảnh núi non trùng điệp, trải dài. Chữ “sóng xanh” ở đây không chỉ là màu xanh của cây lá mà còn gợi lên sự nhấp nhô, lên xuống của địa hình).
* Phân tích: Việc sử dụng các từ ngữ chỉ số lượng lớn như “trăm nghìn”, “ngàn thước” đã gợi lên quy mô rộng lớn của cảnh vật. Các động từ “chồng lên”, “lan ra” diễn tả sự bao la, trải dài. Cách miêu tả này không chỉ là vẽ cảnh mà còn gợi lên cái mênh mông, vô tận của thiên nhiên, tạo tiền đề cho tâm trạng của nhà thơ.

* Thân bài (Câu 3-4): Phát triển ý, thể hiện cảm xúc, suy tư. Đây là phần “chuyển ý”. Trong bài thơ, hai câu này tập trung vào con người và sự sống:
* “Cao: Một mình chim oanh hót giữa không trung.” (Câu này, nếu dịch theo cách thông thường, có thể là “Dừng chân đứng lại trời non xa”).
* “Thăm thẳm: Một mình con người cô đơn trên lối mòn.” (Câu này, nếu dịch theo cách thông thường, có thể là “Bao nhiêu mây khói quanh co mấy tầng”).
* Phân tích:
* Câu “Dừng chân đứng lại trời non xa” cho thấy nhà thơ đang dừng chân lại, ngắm nhìn toàn cảnh thiên nhiên. Cụm từ “trời non xa” gợi lên không gian bao la, vời vợi.
* Câu “Bao nhiêu mây khói quanh co mấy tầng” tiếp tục miêu tả cảnh vật với những lớp mây, lớp khói mờ ảo, huyền bí, bao trùm lấy núi non, tạo cảm giác xa xăm, khó dò.
* Tuy nhiên, cô giáo muốn nhấn mạnh thêm: hai câu thơ này, khi đặt cạnh những câu trên và câu dưới, lại là sự đối lập tinh tế. Thay vì miêu tả sự sống động, hai câu thơ này lại hướng về sự tĩnh lặng, sự hiện diện của con người đơn độc giữa không gian rộng lớn. “Chim oanh hót” là một hình ảnh gợi âm thanh nhưng lại ở “giữa không trung”, càng làm nổi bật sự trống vắng. “Con người cô đơn” là biểu tượng rõ ràng nhất.

* Kết bài (Câu 5-6): Phát triển sâu hơn, đưa ra suy ngẫm, cảm xúc khái quát. Đây là phần “hợp ý”. Trong bài thơ, hai câu này đã thể hiện rõ tâm trạng của tác giả:
* “Năm: Con người dừng chân, ngước nhìn bầu trời.” (Tức là “Một nhà thơ dừng chân giữa non cao”).
* “Sáu: Cả lòng thương cảm nhìn khắp nơi.” (Tức là “Núi non hùng vĩ, mây giăng đầy trời”).
* Phân tích:
* Câu “Một nhà thơ dừng chân giữa non cao” cho thấy sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên hùng vĩ. “Non cao” là biểu tượng của sự vĩ đại, thách thức.
* Câu “Núi non hùng vĩ, mây giăng đầy trời” gợi lên một không gian mênh mông, bao la, có thể gây cảm giác choáng ngợp.
* Đặc biệt, hai câu này có sự đối xứng về hình ảnh thiên nhiên và sự hiện diện của con người. “Non cao” – “mây giăng”, và con người ở giữa hai yếu tố ấy.

* Chuyển ý và kết thúc (Câu 7-8): Phần chốt hạ, mang tính khái quát, ý nghĩa sâu sắc. Đây là phần “kết”.
* “Bảy: Lòng ta có bao nhiêu cảm xúc?” (Tức là “Nhớ nước thương nhà nỗi đoạn trường”).
* “Tám: Khắp nơi nào cũng thấy nhớ thương.” (Tức là “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại”).
* Phân tích:
* Câu “Nhớ nước thương nhà nỗi đoạn trường” là lời bộc bạch trực tiếp nhất về nỗi lòng của nhà thơ. “Nhớ nước thương nhà” là tình yêu quê hương, đất nước, gia đình. “Nỗi đoạn trường” là nỗi sầu bi, đau đớn.
* Câu “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại” mang ý nghĩa khái quát hơn. Cảnh vật vẫn tuần hoàn theo quy luật của tự nhiên: xuân đi rồi xuân lại đến. Nhưng con người thì lại mang trong mình nỗi nhớ thương da diết, không nguôi ngoai. Có thể hiểu rộng hơn, đó là nỗi niềm hoài hương, nỗi buồn khi xa quê, xa gia đình.
* Sự đối lập giữa quy luật tuần hoàn của tự nhiên và nỗi lòng con người làm cho ý thơ trở nên sâu sắc và ám ảnh.

2.3. Ngôn ngữ thơ và hình ảnh

* Ngôn ngữ cô đọng, súc tích: Mỗi từ ngữ được lựa chọn kỹ lưỡng, mang nhiều lớp nghĩa. Ví dụ, “đá chồng” không chỉ là đá chất đống mà còn gợi sự ghồ ghề, hiểm trở. “Sóng xanh” không chỉ là màu sắc mà còn gợi sự nhấp nhô, trùng điệp.
* Hình ảnh giàu sức gợi: Bài thơ sử dụng những hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên nhưng qua ngòi bút của bà Huyện Thanh Quan lại trở nên sống động và mang ý nghĩa biểu tượng. “Cây lá đá chồng”, “làn sóng xanh”, “mây khói quanh co”, “non cao” đều góp phần tạo nên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hiểm trở.
* Sự hòa quyện giữa cảnh và tình: Cảnh vật thiên nhiên không chỉ là phông nền mà còn là phương tiện để biểu đạt tâm trạng. Cái mênh mông, hoang vắng của thiên nhiên làm nổi bật nỗi cô đơn, nhớ nhung của con người.

Bước 3: Tổng kết

Qua phân tích, chúng ta thấy rằng, bài thơ “Qua Đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật thể hiện qua:

* Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, tinh xảo: Giúp cô đọng ý tưởng, tạo nhịp điệu du dương, uyển chuyển.
* Cấu trúc bốn phần mạch lạc: Từ miêu tả cảnh đến bộc lộ tâm trạng, ý tứ được phát triển logic, sâu sắc.
* Ngôn ngữ chọn lọc, hình ảnh giàu sức gợi: Mỗi từ ngữ, mỗi hình ảnh đều mang nhiều tầng nghĩa, góp phần khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên và nỗi lòng nhà thơ.
* Sự hòa quyện tài tình giữa cảnh và tình: Thiên nhiên trở thành tấm gương phản chiếu tâm trạng, làm cho cảm xúc của bài thơ trở nên thấm thía.

Các em về nhà xem lại bài phân tích này và tập chép lại để ghi nhớ kiến thức nhé. Nếu có câu hỏi nào, các em cứ mạnh dạn hỏi cô.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 1

Bà Huyện Thanh Quan là một trong số những nữ sĩ tài danh xuất sắc của nền văn học trung đại Việt Nam, tuy nhiên những sáng tác của bà còn tồn tại đến ngày nay không còn nhiều. Có thể nói, bài thơ Qua đèo Ngang là một trong số những sáng tác xuất sắc nhất của bà. Ra đời khi Bà Huyện Thanh Quan lần đầu tiên xa nhà, xa quê hương, vào kinh đô Huế nhận chức “cung trung giáo tập”, bài thơ mang những nét đặc sắc cả về nội dung và nghệ thuật.

Trước hết, bài thơ đã vẽ nên một cảnh tượng, một bức tranh Đèo Ngang vừa thoáng đãng, vừa heo hút, hoang sơ nhưng vẫn thấp thoáng ở đó bóng hình, sự sống của con người. Mở đầu bài thơ cảnh tượng Đèo Ngang thoáng hiện lên nỗi buồn hiu quạnh.

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá chen hoa

Hai câu thơ mở đầu bài thơ đã gợi lên thời gian, không gian nghệ thuật cho bài thơ, để rồi, từ trong khoảng không gian, thời gian ấy cảnh tượng đèo Ngang cứ thế dần hiện ra. Thời gian trong bài thơ được gợi lên thông qua cụm từ “bóng xế tà”. Có thể thấy đó là một buổi chiều chạng vạng – khoảng thời gian thường gợi lên trong mỗi người nỗi buồn man mác với nỗi trống vắng, cô đơn. Không chỉ là thời gian chiều tà, bài thơ còn gợi lên một không gian cảnh vật nơi đèo Ngang rộng lớn, mênh mông – sự rộng lớn của không gian càng làm tăng thêm nỗi buồn và sự trống vắng. Và để rồi, trong khoảng không gian rộng lớn ấy, từng cảnh vật cứ thế chen chúc nhau mọc lên. Sự chật chội, chen chúc ấy của cảnh vật được thể hiện rõ nét qua động từ “chen”. Động từ này không chỉ gợi lên sự chen chúc, hoang sơ, không có trật tự của cảnh vật mà qua đó nó còn thể sức sống của vạn vật trước sự khắc nghiệt của khí hậu và sự mênh mông của không gian. Thêm vào đó, bức tranh thiên nhiên nơi đèo Ngang còn hiện lên thấp thoáng sự sống của con người.

Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Hai từ láy “lom khom”, “lác đác” để diễn tả dáng hình của chú tiều và những ngôi nhà cùng nghệ thuật đảo ngữ, chúng được đặt lên ở đầu câu đã nhấn mạnh sự thưa thớt, ít ỏi. Thêm vào đó, việc sử dụng các từ ngữ “vài”, “mấy” đã làm tăng thêm sự nhỏ bé của bóng hình con người và sự thưa thớt, hoang vắng của cảnh vật. Để rồi từ những hình ảnh và từ ngữ ấy, tác giả đã gợi nên một bức tranh cảnh vật thưa thớt, hoang vắng dẫu đã có ánh lên sự sống của con người. Như vậy, bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan đã vẽ nên một bức tranh cảnh vật đèo Ngang lúc chiều tà rộng lớn, mênh mông, thấp thoáng hiện lên bóng hình của con người, của sự sống nhưng vẫn còn hoang vắng, đìu hiu, gợi lên cảm giác man mác buồn và sự vắng lặng, cô đơn.

Không dừng lại ở đó, bài thơ Qua đèo Ngang còn thể hiện tâm trạng và nỗi lòng của nhà thơ.

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Hai câu thơ đã cho thấy nghệ thuật sử dụng từ ngữ điêu luyện và tài tình của nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan – chữ quốc là nước là từ đồng âm với từ “cuốc” – chỉ một loài chim và “gia gia” là từ có âm gần giống với loài chim đa đa. Với nghệ thuật chơi chữ tài năng, hai câu thơ đã nói lên tâm trạng của bà vào thời điểm bước tới đèo Ngang. m thanh văng vẳng của hai loài chim ấy phải chăng cũng chính là nỗi lòng của bà ngay lúc này – nỗi “nhớ nước”, “thương nhà”. Đồng thời, nỗi lòng ấy càng được tỏ rõ và nhấn mạnh khi tác giả khéo léo sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, đưa hai từ “nhớ nước”, “thương nhà” lên đầu hai câu thơ.

Thêm vào đó, bài thơ còn diễn tả một cách trực tiếp nỗi cô đơn của nữ thi sĩ qua hai câu thơ kết thúc bài thơ.

Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta

Giữa khoảng không gian rộng lớn của đất trời, dường như càng làm tô đậm thêm sự nhỏ bé, cô đơn của tác giả. Thêm vào đó, những sự vật tưởng như luôn song hành, đi cùng và quyện hòa vào nhau nên lại chia lìa, xa cách nhau – điều này thể hiện rõ nét qua việc sử dụng các dấu phẩy, tách các sự vật “trời”, “non”, “nước’. Dường như, chính cái nhìn chia lìa, chính tâm trạng của tác giả đã có tác động sâu sắc tới cái nhìn đầy sự chia cách ở của cảnh vật. Và để rồi, câu thơ kết thúc bài thơ như một tiếng thở dài diễn tả trực tiếp nỗi niềm của nhà thơ. Không gian rộng lớn nhưng nơi đây chỉ có “mảnh tình riêng” – chỉ một mảnh tình riêng “ta với ta”. Nếu như “ta” thường dùng để chỉ cái chung cho cả cộng đồng, tập thể thì giờ đây nó chỉ còn là cái cá nhân, cái riêng của tác giả. Để rồi, hai câu thơ cuối đã cho chúng ta thấy nỗi cô đơn, bơ vơ, lạc lõng giữa cái mênh mông, bao la, rộng lớn của thiên nhiên. Như vậy, bài thơ đã cho chúng ta thấy nỗi niềm của tác giả khi bước tới đèo Ngang – nỗi nhớ nước, nhớ nhà và nỗi cô đơn, lạc lõng.

Không chỉ thành công về mặt nội dung, bài thơ Qua đèo Ngang còn hấp dẫn bạn đọc bởi những nét độc đáo, đặc sắc về nghệ thuật. Trước hết, bài thơ đã đạt đến sự chuẩn mực trong việc sử dụng thể thơ Đường luật. Với thể thơ thất ngôn bát cú, mặc dù đã được Việt hóa, song bài thơ không những tuân thủ một cách nghiêm ngặt mà còn đạt đến độ chuẩn mực của thể thơ này về niêm, luật, vần với ngôn ngữ trau chuốt, giàu giá trị. Thêm vào đó, thành công của bài thơ còn ở nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được sử dụng tài năng và đem đến hiệu quả nghệ thuật to lớn. Ẩn sau bức tranh cảnh vật nơi đèo Ngang vào buổi xế chiều đã thể hiện một cách rõ nét nỗi niềm tâm trạng – nỗi buồn man mác của nhà thơ khi phải rời xa quê hương. Và cuối cùng, nghệ thuật đảo ngữ, chơi chữ cùng việc sử dụng các từ láy góp phần không nhỏ vào thành công của tác phẩm.

Tóm lại, bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan với những nét đặc sắc về nghệ thuật đã vẽ nên bức tranh cảnh vật chiều tà nơi đèo Ngang rộng lớn, mênh mông, đâu đó hiện lên sự sống của con người nhưng vẫn còn hoang dại và để rồi từ đó thể hiện rõ nét nỗi niềm tâm trạng của nữ thi sĩ.

Trả lời bởi: phongnguyetthien

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo