Phản ứng hoàn toàn là gì? Có phải lúc nào cũng phải xét chất dư, chất hết không?
1. Phản ứng hoàn toàn là gì?
Trong hóa học, “phản ứng hoàn toàn” là một phản ứng xảy ra cho đến khi có ít nhất một trong các chất tham gia phản ứng (chất phản ứng) bị tiêu thụ hết.
Để dễ hình dung, các em hãy tưởng tượng chúng ta đang làm bánh mì kẹp thịt. Giả sử công thức là:
2 vỏ bánh mì + 1 miếng thịt → 1 cái bánh mì kẹp thịt hoàn chỉnh.
Nếu chúng ta có 10 cái vỏ bánh mì và 3 miếng thịt, chúng ta có thể làm được bao nhiêu cái bánh?
– Với 3 miếng thịt, chúng ta chỉ có thể làm được tối đa 3 cái bánh.
– Sau khi làm xong 3 cái bánh, thịt đã hết sạch, mặc dù chúng ta vẫn còn thừa vỏ bánh mì (còn thừa 4 cái).
Lúc này, ta nói việc “phản ứng” làm bánh mì đã xảy ra hoàn toàn, vì một trong các “nguyên liệu” (thịt) đã được dùng hết, không thể làm thêm được nữa.
– Miếng thịt được gọi là chất phản ứng hết (vì nó hết trước).
– Vỏ bánh mì được gọi là chất dư (vì sau phản ứng nó vẫn còn).
Tương tự trong hóa học, khi ta trộn hai hay nhiều chất với nhau, chúng sẽ phản ứng theo một tỉ lệ nghiêm ngặt của phương trình hóa học. Khi một chất hết trước, phản ứng sẽ dừng lại.
Ví dụ: Đốt cháy khí hiđro trong khí oxi.
Phương trình hóa học:
\[ 2H_2 + O_2 \rightarrow 2H_2O \]
Tỉ lệ mol phản ứng là: \( \text{cứ } 2 \text{ mol } H_2 \text{ phản ứng với } 1 \text{ mol } O_2 \).
Nếu ta trộn 2 mol \(H_2\) với 2 mol \(O_2\) rồi đốt, thì chỉ có 1 mol \(O_2\) tham gia phản ứng để tiêu thụ hết 2 mol \(H_2\). Sau phản ứng, \(H_2\) hết sạch, còn \(O_2\) thì dư 1 mol. Phản ứng này được gọi là phản ứng hoàn toàn.
2. Có phải lúc nào cũng phải xét chất dư, chất hết không?
Câu trả lời là KHÔNG. Chúng ta không phải lúc nào cũng cần xét. Việc có cần xét chất dư, chất hết hay không phụ thuộc hoàn toàn vào dữ kiện của bài toán. Có 2 trường hợp chính:
Trường hợp 1: KHÔNG CẦN XÉT chất dư, chất hết
Điều này xảy ra khi đề bài cho biết:
– Chỉ số liệu của một chất tham gia. Khi đó, ta mặc định rằng các chất tham gia còn lại được cho đủ hoặc dư để phản ứng xảy ra hoàn toàn. Mọi tính toán sẽ dựa vào chất đã cho số liệu.
– Các chất tham gia phản ứng “vừa đủ” với nhau. Điều này có nghĩa là tỉ lệ số mol của các chất mà đề bài cho đúng bằng tỉ lệ hệ số của chúng trong phương trình hóa học. Khi đó, tất cả các chất tham gia đều phản ứng hết, không có chất nào dư. Ta có thể tính toán sản phẩm dựa vào bất kỳ chất tham gia nào.
Trường hợp 2: BẮT BUỘC PHẢI XÉT chất dư, chất hết
Đây là trường hợp phổ biến nhất. Ta phải xét khi đề bài cho biết số liệu (số mol, khối lượng, hoặc thể tích ở đktc) của từ hai chất tham gia trở lên.
Khi có số liệu của nhiều chất tham gia, chúng ta chưa biết chúng có “vừa đủ” với nhau hay không. Vì vậy, ta phải làm một bước so sánh để xác định chất nào hết trước (chất hết), chất nào còn lại (chất dư).
Lý do phải xét: Lượng sản phẩm tạo thành sẽ được tính theo chất phản ứng hết, chứ không phải chất dư. Nếu các em tính theo chất dư thì kết quả sẽ sai.
Cách xét chất dư, chất hết (Phương pháp 3 bước):
Bước 1: Tính số mol của các chất tham gia mà đề bài cho.
Bước 2: Viết phương trình hóa học cân bằng. Lập tỉ lệ bằng cách lấy số mol của mỗi chất ở Bước 1 chia cho hệ số tương ứng của nó trong phương trình.
So sánh các tỉ lệ vừa lập:
– Tỉ lệ nào nhỏ hơn, chất đó là chất phản ứng hết.
– Tỉ lệ nào lớn hơn, chất đó là chất dư.
Bước 3: Dựa vào số mol của chất phản ứng hết để tính toán lượng các chất khác trong phương trình (lượng chất sản phẩm tạo thành và lượng chất dư còn lại sau phản ứng).
Ví dụ cụ thể: Trộn 8 gam khí hiđro với 8 gam khí oxi rồi đốt. Hỏi thu được bao nhiêu gam nước?
Bước 1: Tính số mol.
Số mol hiđro: \( n_{H_2} = \frac{m}{M} = \frac{8}{2} = 4 \text{ mol} \)
Số mol oxi: \( n_{O_2} = \frac{m}{M} = \frac{8}{32} = 0.25 \text{ mol} \)
Bước 2: Lập tỉ lệ và so sánh.
Phương trình hóa học:
\[ 2H_2 + O_2 \rightarrow 2H_2O \]
Tỉ lệ phương trình: 2 mol : 1 mol
Ta xét tỉ lệ:
– Đối với \(H_2\): \( \frac{\text{Số mol đề bài cho}}{\text{Hệ số phương trình}} = \frac{4}{2} = 2 \)
– Đối với \(O_2\): \( \frac{\text{Số mol đề bài cho}}{\text{Hệ số phương trình}} = \frac{0.25}{1} = 0.25 \)
So sánh hai kết quả: \( 0.25 < 2 \).
Kết luận: \(O_2\) có tỉ lệ nhỏ hơn, vậy \(O_2\) là chất phản ứng hết, \(H_2\) là chất dư.
Bước 3: Mọi tính toán sau này đều phải dựa vào số mol của chất hết là \(O_2\).
Theo phương trình: Cứ 1 mol \(O_2\) phản ứng tạo ra 2 mol \(H_2O\).
Vậy: 0.25 mol \(O_2\) phản ứng sẽ tạo ra \( 0.25 \times 2 = 0.5 \) mol \(H_2O\).
Khối lượng nước tạo thành là:
\( m_{H_2O} = n \times M = 0.5 \times 18 = 9 \text{ gam} \)
Cô hy vọng phần giải thích chi tiết này sẽ giúp em hiểu rõ và tự tin hơn khi làm các bài toán hóa học. Chúc em học tốt nhé
Đáp án:
Giải thích các bước giải:
Phản ứng hoàn toàn là phản ứng vửa đủ. Tức các chất tác dụng hết với nhau, không có chất dư
TH bài xét chất dư, hết: Là bài toán về phương trình hóa học mà đề bài cho cả 2 số liệu (số mol, khối lượng, thể tích) của 2 chất tham gia phản ứng
-Phản ứng hoàn toàn là pứ với hiệu suất 100 %, ko có chất nào dư sau phản ứng
-Có phải lúc nào cũng phải xét chất dư, chất hết không ⇒tùy vào đề bài
Nếu đề bài cho số liệu của 2 chất tham gia như số mol, thể tích, khối lượng ;lúc đó ta mới đi xét xem chất nào dư sau phản ứng và dư bao nhiêu
———————-Nguyễn Hoạt——————