Qua Đèo Ngang( bà huyện thanh quan)1 xác định thể thơ và cho biết dấu hiệu nhận …
Qua Đèo Ngang( bà huyện thanh quan)
1 xác định thể thơ và cho biết dấu hiệu nhận biết thể thơ
2 cho biết niêm luận của bài thơ
3 nêu đề tài của bài thơ
4 nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai có cảm xúc gì
5 nêu ra biện pháp tu từ và nêu tác dụng qua 2 câu sau
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
6. Chỉ ít nhất 2 hình ảnh có trong bài thơ
Cô rất vui được đồng hành cùng các em trong tiết học Ngữ văn hôm nay. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là một tác phẩm kinh điển, mang vẻ đẹp cổ điển nhưng cũng chứa đựng nhiều cảm xúc sâu lắng. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích chi tiết bài thơ này để hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật và nội dung của nó nhé!
Chúng ta cùng bắt đầu với các câu hỏi mà các em đã đặt ra:
1. Xác định thể thơ và cho biết dấu hiệu nhận biết thể thơ.
Để xác định thể thơ của bài “Qua Đèo Ngang”, chúng ta sẽ dựa vào các đặc điểm về số câu, số chữ, vần, đối và luật bằng trắc.
* Thể thơ: Bài thơ “Qua Đèo Ngang” được viết theo thể Thất ngôn bát cú Đường luật (thơ Đường luật 8 câu, mỗi câu 7 chữ).
* Dấu hiệu nhận biết:
- Số câu và số chữ: Bài thơ có đúng 8 câu, mỗi câu có 7 chữ. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của thể Thất ngôn bát cú.
- Vần: Bài thơ gieo vần “bằng” ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 (tà – hoa – nhà – gia – ta). Đây là vần chân, tạo nên sự liền mạch, du dương cho bài thơ.
- Đối: Hai cặp câu 3-4 và 5-6 đối nhau rất chỉnh.
- Cặp 3-4: “Lom khom dưới núi tiều vài chú / Lác đác bên sông, chợ mấy nhà” (Đối về từ loại: tính từ – giới từ – danh từ – danh từ – số từ – danh từ; đối về ý nghĩa và hình ảnh).
- Cặp 5-6: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” (Đối về từ loại: động từ – danh từ – tính từ – danh từ – danh từ; đối về ý nghĩa và tiếng chim).
- Bố cục: Bài thơ thường có bố cục 4 phần: Đề (1-2), Thực (3-4), Luận (5-6), Kết (7-8), mỗi phần thể hiện một ý nghĩa riêng nhưng vẫn thống nhất trong mạch cảm xúc.
2. Cho biết niêm luật của bài thơ.
Niêm luật là một trong những đặc điểm quan trọng tạo nên sự chặt chẽ và uyển chuyển của thơ Đường luật. Niêm luật bao gồm luật bằng trắc và phép niêm.
* Luật bằng trắc: Quy định về thanh điệu của các tiếng trong bài thơ. Dựa vào tiếng thứ hai của câu thứ nhất, ta có thể xác định luật.
- Câu 1: “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà.” (Tiếng “tới” là thanh trắc).
- Vì tiếng thứ hai của câu 1 là thanh trắc, nên bài thơ “Qua Đèo Ngang” thuộc luật Trắc.
* Phép niêm: Là sự ràng buộc về thanh điệu giữa các câu trong bài, thường là tiếng thứ 2, 4, 6 của các câu niêm phải giống nhau về thanh (cùng bằng hoặc cùng trắc).
- Câu 1 niêm với câu 8 (tiếng thứ hai của câu 1 và 8 cùng thanh trắc: tới – mảnh).
- Câu 2 niêm với câu 3 (tiếng thứ hai của câu 2 và 3 cùng thanh bằng: cây – khom).
- Câu 4 niêm với câu 5 (tiếng thứ hai của câu 4 và 5 cùng thanh trắc: đác – nước).
- Câu 6 niêm với câu 7 (tiếng thứ hai của câu 6 và 7 cùng thanh bằng: nhà – chân).
Như vậy, bài thơ “Qua Đèo Ngang” tuân thủ rất chặt chẽ các quy tắc niêm luật của thể Thất ngôn bát cú Đường luật, cho thấy tài năng của Bà Huyện Thanh Quan.
3. Nêu đề tài của bài thơ.
Đề tài là vấn đề chính mà bài thơ muốn thể hiện.
* Đề tài: Miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ của Đèo Ngang vào buổi chiều tà và thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn bã, nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương đất nước của con người trước không gian rộng lớn, tiêu điều.
4. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai, có cảm xúc gì?
* Nhân vật trữ tình: Là thi sĩ Bà Huyện Thanh Quan – người đang dừng chân trên Đèo Ngang, ngắm cảnh và bộc lộ cảm xúc của mình.
* Cảm xúc của nhân vật trữ tình:
- Buồn bã, cô đơn, trống vắng: Trước cảnh Đèo Ngang hoang vắng, ít bóng người (tiều vài chú, chợ mấy nhà), nhân vật cảm thấy lạc lõng, lẻ loi. Cảnh vật tiêu điều, “bóng xế tà” càng làm tăng thêm cảm giác buồn bã.
- Nhớ nhà, nhớ nước: Tiếng chim quốc quốc (gợi nhớ nước) và gia gia (gợi nhớ nhà) đã đánh thức nỗi lòng hoài cảm sâu sắc của thi nhân. Đó là nỗi buồn của người xa quê, xa đất nước, nhớ về những điều đã cũ.
- Hoài cổ: Nỗi buồn không chỉ dừng lại ở hiện tại mà còn hướng về quá khứ, về một thời vàng son đã qua, nay chỉ còn lại cảnh hoang sơ, vắng lặng.
- Trơ trọi, đối diện với chính mình: Cảm xúc được đẩy đến đỉnh điểm ở câu kết “Một mảnh tình riêng, ta với ta”, thể hiện sự cô độc tuyệt đối, chỉ còn lại nỗi lòng của thi nhân đối diện với chính mình giữa không gian bao la, tĩnh lặng.
5. Nêu ra biện pháp tu từ và nêu tác dụng qua 2 câu sau:
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
Hai câu thơ này là một cặp câu đối rất hay, sử dụng nhiều biện pháp tu từ để gợi tả cảnh vật và tâm trạng:
* Biện pháp tu từ:
- Đảo ngữ: Trật tự các thành phần trong câu được thay đổi. Thay vì “Vài chú tiều lom khom dưới núi” hay “Mấy nhà chợ lác đác bên sông”, tác giả đã đảo các từ láy “lom khom”, “lác đác” lên đầu câu.
- Từ láy: “Lom khom” (từ láy tượng hình), “lác đác” (từ láy tượng thanh/tượng hình).
- Đối: Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh về từ loại, nhịp điệu và hình ảnh, tạo sự cân xứng, hài hòa.
* Tác dụng:
- Tác dụng của biện pháp đảo ngữ:
- Nhấn mạnh trạng thái, hình dáng của sự vật (“lom khom” – dáng người cúi gập; “lác đác” – sự thưa thớt, rải rác).
- Gợi ấn tượng mạnh về sự nhỏ bé, thưa thớt, tiêu điều của dấu hiệu sự sống giữa không gian rộng lớn, hoang vắng của Đèo Ngang.
- Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ, giúp người đọc dễ dàng hình dung cảnh vật.
- Tác dụng của từ láy “Lom khom”, “Lác đác”:
- “Lom khom” gợi hình ảnh những người tiều phu gù lưng, mệt mỏi, ẩn hiện một cách khó nhọc giữa núi non.
- “Lác đác” gợi tả sự xuất hiện lẻ tẻ, không liên tục của những ngôi chợ nhỏ, nhấn mạnh sự vắng vẻ, xa xôi của chốn Đèo Ngang.
- Cả hai từ láy đều góp phần khắc họa rõ nét sự thưa thớt, tiêu điều của sự sống, làm nổi bật không khí hiu hắt, tĩnh mịch nơi đèo vắng.
- Tác dụng của phép đối:
- Tạo sự cân đối, hài hòa về mặt ngôn ngữ, nhịp điệu, giúp câu thơ dễ đọc, dễ nhớ.
- Nhấn mạnh thêm sự tương phản giữa không gian rộng lớn, hoang sơ với những dấu hiệu sự sống ít ỏi, lẻ loi của con người. Từ đó, làm nổi bật tâm trạng cô đơn, trống vắng của Bà Huyện Thanh Quan.
6. Chỉ ít nhất 2 hình ảnh có trong bài thơ.
Bài thơ “Qua Đèo Ngang” có rất nhiều hình ảnh gợi cảm, cô sẽ nêu ra hai hình ảnh tiêu biểu:
- Bóng xế tà: Hình ảnh này không chỉ gợi về thời gian (chiều muộn) mà còn gợi về một không gian nhuộm màu buồn bã, u hoài. Ánh nắng tàn là biểu tượng của sự tàn phai, héo úa, tạo nên không khí man mác buồn cho cảnh Đèo Ngang.
- Cỏ cây chen đá, lá chen hoa: Hình ảnh này vẽ nên một khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, rậm rạp, đầy sức sống nhưng lại không có bàn tay con người chăm sóc. Nó vừa thể hiện vẻ đẹp tự nhiên của vùng núi non, vừa gợi cảm giác hoang vắng, ít người qua lại, ít dấu ấn con người, góp phần tạo nên nỗi buồn của thi nhân.
Ngoài ra, các em cũng có thể chọn các hình ảnh khác như: “tiều vài chú”, “chợ mấy nhà”, “con quốc quốc”, “cái gia gia”, “trời non nước” đều rất đặc sắc và mang ý nghĩa sâu sắc nhé.
Cô hy vọng với những phân tích chi tiết này, các em đã hiểu rõ hơn về bài thơ “Qua Đèo Ngang”. Đây là một tác phẩm rất giá trị, không chỉ miêu tả cảnh đẹp mà còn thể hiện một tâm hồn tinh tế, sâu sắc của Bà Huyện Thanh Quan. Các em hãy về nhà đọc lại bài thơ, ghi chép cẩn thận và suy ngẫm thêm về những cảm xúc mà bài thơ mang lại nhé!
Chúc các em học tốt!
1. Xác định thể thơ và dấu hiệu nhận biết thể thơ:**
Bài thơ *Qua Đèo Ngang* của Bà Huyện Thanh Quan được viết theo thể thơ *thất ngôn bát cú Đường luật*, với đặc điểm là mỗi câu thơ gồm 7 chữ, có 8 câu chia làm hai phần là tứ tuyệt (bốn câu đầu) và đối (bốn câu sau). Dấu hiệu nhận biết là bài thơ có cấu trúc gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ, tuân theo luật bằng trắc và có các cặp đối (cặp thực và cặp luận).
2. Niêm luật của bài thơ:**
Bài thơ tuân theo luật bằng trắc của thể thất ngôn bát cú Đường luật. Các cặp câu thực và câu luận (câu 3-4 và câu 5-6) phải đối nhau chặt chẽ cả về nghĩa và cấu trúc, góp phần tạo nên nhịp điệu và cảm xúc cho bài thơ. Bài thơ này theo niêm luật của bài thất ngôn bát cú Đường luật, tức là cặp câu thứ hai và thứ ba cùng vần và cặp câu thứ tư và thứ năm cùng vần.
3. Đề tài của bài thơ:**
Bài thơ *Qua Đèo Ngang* nói về nỗi niềm hoài cổ, buồn man mác của tác giả khi đứng trước khung cảnh hoang vắng nơi Đèo Ngang. Đề tài chính là nỗi cô đơn, hoài niệm và sự buồn bã khi chứng kiến cảnh thiên nhiên hoang sơ, tịch mịch, gợi lên tình yêu quê hương và tâm trạng xa xứ, nhớ nhà của tác giả.
4. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? Có cảm xúc gì?
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là tác giả – Bà Huyện Thanh Quan – với cảm xúc buồn man mác, cô đơn và tĩnh lặng khi đứng trước khung cảnh hoang sơ của Đèo Ngang. Bà thể hiện nỗi lòng nhớ quê hương, nhớ những giá trị xưa cũ và mang trong mình cảm giác bơ vơ lạc lõng trước sự thay đổi của thời gian và không gian.
**5. Biện pháp tu từ và tác dụng trong hai câu:**
> *Lom khom dưới núi tiều vài chú,*
> *Lác đác bên sông chợ mấy nhà.*
– **Biện pháp tu từ**: Ở hai câu này, tác giả sử dụng **biện pháp đảo ngữ** (từ “lom khom”, “lác đác” được đặt ở đầu câu), và **từ láy** (lom khom, lác đác).
– Tác dụng: Những từ láy “lom khom” và “lác đác” gợi lên một khung cảnh thưa thớt, đơn sơ và tĩnh lặng, làm nổi bật sự vắng vẻ và cô quạnh của Đèo Ngang. Cảnh vật hiện lên hoang sơ, đơn điệu với vài chú tiều phu và vài ngôi nhà thưa thớt, tạo cảm giác buồn bã và tịch mịch, phản chiếu nỗi lòng cô đơn của tác giả.
6. Chỉ ra ít nhất hai hình ảnh trong bài thơ:
– “Tiều vài chú” (chỉ những người đốn củi dưới núi).
– “Chợ mấy nhà” (chỉ cảnh chợ thưa thớt bên sông).
Những hình ảnh này đều gợi lên sự vắng vẻ, tiêu điều của cảnh vật nơi Đèo Ngang.