Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

So sánh hai quan điểm sống trong 2 bài thơ vội vàng và từ ấy

So sánh hai quan điểm sống trong 2 bài thơ vội vàng và từ ấy

So sánh hai quan điểm sống trong 2 bài thơ vội vàng và từ ấy
Hỏi bởi: Loan Loan
2 câu trả lời
▲ 4

Chào các em học sinh yêu quý! Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng đi sâu vào một khía cạnh thú vị và rất quan trọng trong việc tìm hiểu văn học, đó là so sánh các quan điểm sống, các lẽ sống được gửi gắm qua những tác phẩm cụ thể. Bài tập hôm nay yêu cầu chúng ta so sánh hai quan điểm sống trong hai bài thơ rất quen thuộc và đặc sắc của chương trình Ngữ Văn lớp 11: “Vội vàng” của Xuân Diệu và “Từ ấy” của Tố Hữu.

Đây là hai bài thơ tiêu biểu cho hai hồn thơ lớn, hai giai đoạn văn học khác nhau nhưng đều góp phần làm nên diện mạo rực rỡ của văn học Việt Nam hiện đại. Để thực hiện bài tập này một cách chi tiết và hiệu quả, cô sẽ hướng dẫn các em từng bước cụ thể nhé!

A. GIỚI THIỆU CHUNG

Trước hết, chúng ta cần đặt hai bài thơ vào đúng ngữ cảnh sáng tác và vị trí của chúng trong sự nghiệp của mỗi nhà thơ. Điều này giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan và sâu sắc hơn về quan điểm sống mà các tác giả gửi gắm.

1. “Vội vàng” (Xuân Diệu): Là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu, một nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới, được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình”. Bài thơ nằm trong tập “Thơ Thơ” (1938), đánh dấu sự bừng nở của một cái “tôi” trữ tình đầy khát khao, say mê cuộc sống và tuổi trẻ. Quan điểm sống trong “Vội vàng” mang đậm dấu ấn cá nhân, hưởng thụ và tận hiến cho cuộc đời trần thế.

2. “Từ ấy” (Tố Hữu): Là bài thơ mở đầu cho tập thơ cùng tên “Từ ấy” (1937-1946) của Tố Hữu, một nhà thơ lớn của thơ ca cách mạng Việt Nam. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp thơ Tố Hữu: khi ông giác ngộ lý tưởng Cộng sản và tìm thấy lẽ sống lớn cho cuộc đời mình. Quan điểm sống ở đây mang tính cộng đồng, lý tưởng, hòa mình vào cuộc đời chung của dân tộc.

B. PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM SỐNG TRONG TỪNG BÀI THƠ

Để so sánh một cách rõ ràng, chúng ta cần mổ xẻ từng bài thơ để làm rõ quan điểm sống của từng tác giả.

I. Quan điểm sống trong bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu)

Quan điểm sống của Xuân Diệu trong “Vội vàng” là một quan điểm sống gấp gáp, vồ vập, tận hưởng và say đắm hết mình với cuộc đời trần thế, bởi nhận thức sâu sắc về sự hữu hạn của tuổi trẻ và thời gian.

1. Ý thức về sự hữu hạn của thời gian và tuổi trẻ:
* Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu đã thể hiện một khao khát phi lí, ngông cuồng: “Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất; / Tôi muốn buộc gió lại / Cho hương đừng bay đi”. Đó là khát khao được níu giữ, được làm chủ thời gian, cái đẹp – điều mà con người không thể làm được. Điều này cho thấy sự day dứt của ông trước sự trôi chảy của thời gian.
* Ông nhận ra một quy luật khắc nghiệt: “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua / Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già”. Mùa xuân, tuổi trẻ, cuộc đời đều như một dòng chảy không ngừng nghỉ, vĩnh viễn trôi đi và không bao giờ trở lại. Từ đây, nỗi băn khoăn, tiếc nuối và sợ hãi trước sự phai tàn, hư vô hiện rõ.

2. Thái độ sống vội vàng, tận hưởng và dâng hiến hết mình:
* Chính vì ý thức được sự chảy trôi của thời gian, Xuân Diệu đã đề ra một thái độ sống: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt / Còn hơn buồn thiu kéo dài lê thê”. Đó là sống hết mình, cháy hết mình, dù ngắn ngủi còn hơn là sống hờ hững, vô vị. Ông xem mỗi khoảnh khắc của cuộc đời, đặc biệt là tuổi trẻ, như một báu vật cần được trân trọng và tận dụng.
* Khát khao tận hưởng cuộc sống hiện tại đến tột cùng: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! / Hỡi sự sống, ta muốn ôm ghì mãi / Hỡi các em thơ, ta muốn cắn vào môi…”. Các động từ mạnh như “cắn”, “ôm ghì” thể hiện sự vồ vập, say đắm, cuồng nhiệt của thi sĩ trước vẻ đẹp của cuộc đời. Ông muốn ôm trọn, níu giữ tất cả những gì tươi đẹp, rạng rỡ của cuộc sống bằng tất cả giác quan và tâm hồn mình.
* Điệp ngữ “Ta muốn” và những hình ảnh thơ phong phú, giàu sức sống đã bộc lộ một cái tôi cá nhân mãnh liệt, luôn khao khát được hưởng thụ và dâng hiến cho tình yêu, cho cái đẹp, cho cuộc đời.

II. Quan điểm sống trong bài thơ “Từ ấy” (Tố Hữu)

Quan điểm sống của Tố Hữu trong “Từ ấy” là quan điểm sống của một con người đã tìm thấy lý tưởng cách mạng, giác ngộ và nguyện dâng hiến cuộc đời mình cho cộng đồng, cho Đảng và cho dân tộc.

1. Sự bừng nở của lý tưởng cách mạng và giác ngộ chân lý:
* Khoảnh khắc “Từ ấy” là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời Tố Hữu. Nó được ví như một sự khai sáng diệu kì: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ / Mặt trời chân lí chói qua tim”. Hình ảnh “nắng hạ” rực rỡ, “mặt trời chân lí” chói chang đã thể hiện niềm vui sướng tột độ, sự hân hoan khi tìm thấy ánh sáng của lý tưởng cộng sản. “Mặt trời chân lí” ở đây chính là lý tưởng của Đảng Cộng sản, đã soi rọi và định hướng cho cuộc đời ông.
* Lý tưởng ấy không chỉ dừng lại ở nhận thức mà còn đi sâu vào tâm hồn, làm bừng nở cả thế giới nội tâm của nhà thơ: “Hồn tôi là một vườn hoa lá / Rất đậm hương và rộn tiếng chim”. Tâm hồn khô cằn, bơ vơ trước đó đã trở nên tràn đầy sức sống, tươi tắn và ngập tràn niềm tin yêu cuộc sống.

2. Thái độ sống hòa nhập, dâng hiến cho cộng đồng:
* Sau khi tìm thấy ánh sáng chân lí, Tố Hữu đã ý thức được lẽ sống của mình là hòa mình vào cuộc đời chung, gắn bó với quần chúng lao khổ: “Tôi buộc lòng tôi với mọi người / Để tình trang trải với trăm nơi / Để hồn tôi với bao hồn khổ / Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”.
* Các động từ “buộc”, “trang trải”, “gần gũi” thể hiện sự chủ động, ý thức và quyết tâm cao độ của nhà thơ trong việc gắn kết bản thân với tập thể, với những người lao động nghèo khổ. Từ một cái “tôi” bơ vơ, lẻ loi, Tố Hữu đã tìm thấy sức mạnh và niềm vui trong khối đoàn kết của nhân dân.
* Ông ý thức được vai trò của mình là người con của vạn nhà, của vạn kiếp phôi pha: “Là con của vạn nhà / Là em của vạn kiếp phôi pha / Là anh của vạn đầu em nhỏ”. Cách xưng hô thân mật “con”, “em”, “anh” cho thấy tình cảm gắn bó sâu sắc, trách nhiệm và sự đồng cảm của Tố Hữu với mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người cùng khổ. Lẽ sống của ông không còn là của riêng cá nhân nữa mà đã trở thành lẽ sống vì cộng đồng, vì lý tưởng cách mạng.

C. SO SÁNH HAI QUAN ĐIỂM SỐNG

Sau khi đã phân tích chi tiết từng bài thơ, chúng ta sẽ tiến hành so sánh để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt cốt lõi trong quan điểm sống của hai nhà thơ.

I. Điểm tương đồng

1. Niềm say mê, khát khao sống mãnh liệt: Cả Xuân Diệu và Tố Hữu đều là những thi sĩ có một trái tim yêu đời, yêu cuộc sống đến say đắm, nồng nàn. Cả hai đều tìm kiếm và khẳng định một lẽ sống có ý nghĩa, không chấp nhận cuộc đời nhạt nhẽo, vô vị.
* Xuân Diệu: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt / Còn hơn buồn thiu kéo dài lê thê”.
* Tố Hữu: Khi giác ngộ lý tưởng, tâm hồn ông trở nên “rất đậm hương và rộn tiếng chim”, tràn đầy sức sống mới.

2. Thể hiện cái “tôi” trữ tình sâu sắc: Cả hai bài thơ đều là những tiếng nói chân thành, mãnh liệt của cái “tôi” cá nhân trước những bước ngoặt, những nhận thức quan trọng về cuộc đời và lẽ sống.

3. Sự bừng tỉnh, giác ngộ: Dù khác nhau về nội dung, nhưng cả hai bài thơ đều ghi lại khoảnh khắc “bừng tỉnh”, “giác ngộ” một chân lý, một lẽ sống mới của cái tôi trữ tình. Với Xuân Diệu là sự giác ngộ về thời gian, tuổi trẻ và cái đẹp trần thế. Với Tố Hữu là sự giác ngộ về lý tưởng cách mạng.

II. Điểm khác biệt

Tiêu chí “Vội vàng” (Xuân Diệu) “Từ ấy” (Tố Hữu)
1. Nguồn cảm hứng / Lẽ sống Lẽ sống cá nhân, tình yêu, tuổi trẻ, cái đẹp trần thế, những rung động nhạy cảm của tâm hồn. Khát khao hưởng thụ, giữ gìn vẻ đẹp và tuổi xuân cá nhân. Lẽ sống lý tưởng, cộng đồng, giai cấp vô sản, lý tưởng cách mạng. Khao khát cống hiến, hòa mình vào cuộc đời chung, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
2. Thái độ sống / Cách sống Sống “vội vàng”, gấp gáp, mãnh liệt, tận hưởng và ôm ghì tất cả những gì cuộc đời mang lại bằng mọi giác quan. Sợ sự trôi chảy của thời gian. Sống “hiến dâng”, hòa nhập, chủ động gắn bó với mọi người, với lý tưởng. Tìm thấy niềm vui và sức mạnh trong tập thể.
3. Đối tượng hướng đến Cái “tôi” trữ tình, tình yêu đôi lứa, thiên nhiên, tuổi trẻ và vẻ đẹp của cuộc đời. Quần chúng lao khổ, nhân dân, Đảng Cộng sản, lý tưởng cách mạng.
4. Quan niệm về thời gian Thời gian hữu hạn, trôi nhanh, nghiệt ngã, là kẻ thù của tuổi trẻ và cái đẹp, gây nên nỗi băn khoăn, lo âu, tiếc nuối và sự vội vàng. Thời gian là quá trình vận động, phát triển của lịch sử, của cách mạng. Cá nhân hòa vào dòng chảy ấy để tạo nên sự trường tồn, vĩnh cửu.
5. Giọng điệu / Cảm xúc Nồng nàn, say đắm, mãnh liệt, cuồng nhiệt nhưng cũng chất chứa chút băn khoăn, lo âu, tiếc nuối trước sự phai tàn. Hân hoan, tràn đầy niềm tin, lạc quan, tự hào và tình yêu thương rộng lớn, chân thành.

D. KẾT LUẬN

Qua việc so sánh hai bài thơ “Vội vàng” và “Từ ấy”, chúng ta có thể thấy rõ hai quan điểm sống hoàn toàn khác biệt nhưng đều có ý nghĩa sâu sắc và góp phần định hình những giá trị nhân văn cao đẹp. Xuân Diệu mang đến một cái nhìn cá nhân, đầy khát khao, trân trọng từng khoảnh khắc của tuổi trẻ và tình yêu trước dòng chảy nghiệt ngã của thời gian. Đó là lời giục giã sống hết mình cho những gì tươi đẹp, hữu hạn của cuộc đời.

Trong khi đó, Tố Hữu lại đại diện cho một lẽ sống lớn lao hơn, đó là sự hòa mình vào cộng đồng, dâng hiến cho lý tưởng cách mạng, tìm thấy niềm vui và ý nghĩa cuộc đời trong cái chung, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Quan điểm này không chỉ giúp ông vượt qua sự cô đơn cá nhân mà còn khẳng định sức mạnh của tập thể, của lý tưởng.

Mặc dù khác biệt, cả hai quan điểm sống đều là những tiếng lòng chân thành, mãnh liệt, đều có giá trị khơi gợi và truyền cảm hứng cho người đọc về cách sống có ý nghĩa. Hai bài thơ là minh chứng cho sự đa dạng, phong phú của tâm hồn Việt Nam, phản ánh những khát vọng, trăn trở và lựa chọn lẽ sống của con người trong những giai đoạn lịch sử khác nhau.

Các em thấy không, mỗi nhà thơ, mỗi tác phẩm đều mang trong mình một thế giới quan, một nhân sinh quan riêng biệt, và việc phân tích, so sánh như thế này sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về tư tưởng, tình cảm của tác giả, cũng như thêm yêu và trân trọng những giá trị mà văn học mang lại. Chúc các em học tốt!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 1

Trong văn đàn Việt Nam, khi nhắc đến Xuân Diệu người ta thường nghĩ đến một hồn thơ tự do, bay bổng với những điều kì dị, ngỡ ngàng, mới mẻ còn khi nhắc đến nhà thơ Tố Hữu, người đọc lại nghĩ ngay đến những vần thơ chính trị, thời cuộc nhưng đậm chất dân tộc, dễ đi vào lòng người. Khi nói về tư tưởng hòa nhập và khát vọng sống, mỗi nhà thơ lại có những quan điểm và cách thể hiện riêng. Có thể tìm hiểu điều đó qua hai đoạn thơ trong hai bài Vội vàng của Xuân Diệu và Từ ấy của Tố Hữu.

Ở Vội vàng, Xuân Diệu bộc lộ một triết lí sống vội vã, cháy bỏng, cuồng nhiệt với thanh xuân với tuổi trẻ. Nhà thơ cho rằng tuổi trẻ là thời gian tươi đẹp nhất của cuộc đời cũng giống như mùa xuân đến trong đất trời, vạn vật rực rỡ, bung nở. Thế nhưng mùa xuân của đất trời thì vẫn tuần hoàn, xuân qua xuân lại lại còn mùa xuân của đời người thì chỉ có một lần, nếu con người không biết sống hết mình, sống tận hưởng tuổi xuân thì chúng ta đang lãng phí cuộc đời của mình. Hiểu được thực tại ấy, nhà thơ thấy trân quý, khao khát kéo dài thanh xuân của mình, muốn được sống hết mình, được cống hiến, được tận hưởng để cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn. Nhà thơ đã sử dụng hàng loạt động từ, tính từ mạnh: ôm, riết, say, thâu, chếnh choáng, đã đầy… để bộc lộ tâm trạng và khao khát ấy của bản thân. Ông muốn được sống đúng với bản năng, với khát vọng của mình, được hòa nhập với thiên nhiên đất trời, được thả mình trong đó để tận hưởng và lưu giữ vẻ đẹp của xuân hồng. Nhà thơ đã cảm nhận thiên nhiên cuộc sống bằng vẻ đẹp tươi xanh đầy sức sống nhất của nó, từ đó thúc giục con người hãy sống vội vàng, ý nghĩa hơn với thanh xuân với cuộc đời.

Còn ở bài thơ Từ ấy, đây là tác phẩm được tác giả viết khi ông vinh dự và tự hào được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhà thơ bày tỏ niềm tự hào ấy bằng những ngôn từ và cảm xúc rung động đến bổi hổi và rạo rực. Đồng thời cũng từ đây, nhà thơ ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với nhân dân với đất nước khi đã là một người đảng viên. Nhà thơ buộc mình phải mở lòng, phải hòa nhập với tất cả mọi người, không xa rời quần chúng nhân dân mà luôn gần dân, hiểu dân, gắn bó với dân, giúp dân nói lên nguyện vọng của mình. Người đảng viên là người đại diện cho quyền lợi và tiếng nói của những con người cùng khổ, do đó họ không thể để mình xa cách cao cao tại vị mà phải đặt mình ở trong dân. Nhà thơ tự nhận mình là con, là em, là anh của vạn người, vạn nhà để nhấn mạnh nghĩa vụ và trách nhiệm ấy của mình. Từ nay, cuộc sống của ông hoàn toàn gắn bó chặt chẽ với nhân dân, ông phải trở thành một người tiên phong, dẫn bước, luôn kề cận, sát cánh cùng nhân dân trong con đường đấu tranh cách mạng. Đó là một tư tưởng sống cống hiến, sống hòa nhập rất phù hợp với hoàn cảnh và thời đại của nhà thơ.

Như vậy có thể thấy tư tưởng chủ đạo trong khổ thơ của Xuân Diệu là cách sống hòa mình, hòa nhập với thiên nhiên đất trời, tận hưởng tuổi trẻ sống hết mình, sống ý nghĩa đối với thanh xuân ngắn ngủi. Còn đối với Tố Hữu, đó là tư tưởng sống hòa nhập với con người, gần gũi, gắn bó mật thiết với con người để con người cùng nhau tiến lên. Cả hai tư tưởng này đều rất đúng đắn, nó giáo dục khuyến khích con người hãy biết mở lòng, biết sống hết mình. Dù là có sự khác nhau do bối cảnh và ý nghĩa chủ đề nhưng đây đều là hai tác phẩm xuất sắc nói lên những tư tưởng sáng suốt, có ý nghĩa trong cả tiến trình thời gian và là bài học sâu sắc cho cả thế hệ ngày nay.

Hai đoạn thơ trích từ hai bài thơ của hai tác giả đã nêu lên quan niệm sống tích cực, đẹp đẽ của một nhà thơ Mới và một nhà thơ cách mạng tiêu biểu nhất của nền thi ca Việt Nam hiện đại.

Quan niệm sống của Xuân Diệu xuất phát từ tình yêu cuộc sống, con người tha thiết và một cảm quan đặc biệt về thời gian. Vẻ đẹp cuộc sống trong cái nhìn của nhà thơ hiện ra với những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ : mây đưa, gió lượn, cánh bướm, tình yêu, cỏ rạng ngời trong nắng. Nhà thơ đã nhân hoá những vẻ đẹp thiên nhiên đó để nó mang hương sắc của tuổi xuân, tuổi trẻ. Tuy nhiên, những vẻ đẹp ấy sẽ phai tàn cùng với sự trôi chảy của thời gian. Vì vậy, sống là phải chủ động, hết mình, đắm say, mãnh liệt, thức nhọn mọi giác quan để tận hưởng tất cả những vẻ đẹp của cuộc sống, của niềm vui, tình yêu và hạnh phúc. Chú ý phân tích các từ : ôm-riết-say- thâu-hôn-cắn và điệp từ ta muốn để thấy rõ cảm xúc ham hố, vồ vập cả nhà thơ trước vẻ đẹp cuộc sống trần gian.

Góp phần thể hiện nội dung cảm xúc của đoạn thơ, nhà thơ đã sử dụng thành công những câu thơ tự do mang điệu nói, nhịp thơ dồn dập, lôi cuốn; cách sử dụng những động từ táo bạo, mới mẻ; phép lặp từ… để khắc hoạ ước muốn giao cảm tận độ vô biên của thi sĩ với cuộc sống.

Quan niệm sống và cũng là quan niệm nghệ thuật của Tố Hữu thể hiện trong đoạn thơ là kết quả của sự giác ngộ lí tưởng cộng sản. Nó đã chỉ rõ con đường đời và con đường nghệ thuật của nhà thơ là phải đứng vào hàng ngũ những người lao động để gắn bó, cùng chiến đấu vì lí tưởng cộng sản. Tố Hữu quan niệm : sống là tự nguyện đặt cái “tôi” của mình trong mối quan hệ gắn bó với quần chúng nhân dân. Tâm hồn thi sĩ trải rộng với cuộc đời, cùng hoà nhịp, đồng cảm với những con người đau khổ như những người ruột thịt. Sống là chiến đấu, là hi sinh vì sự nghiệp cách mạng, vì quần chúng, nhân loại cần lao. (Chú ý phân tích các từ : “tôi buộc”, “tôi đã là con”, “là anh”, “là em”, “trăm nơi”, “hồn khổ”, “vạn nhà”, “kiếp phôi pha”…)

Góp phần thể hiện nội dung cảm xúc của đoạn thơ, nhà thơ đã sử dụng thành công phép lặp, những từ ngữ giàu tính tạo hình, biểu cảm ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, nhịp thơ dồn dập, mạnh mẽ….

Hai đoạn thơ đều thể hiện quan niệm sống tích cực, đẹp đẽ của một thế hệ tuổi trẻ được thức tỉnh ý thức cá nhân, khát khao được khẳng định mình bằng một cuộc sống có ý nghĩa. Đó là lẽ sống cao đẹp của những con người gắn bó với cuộc đời, với nhân dân, đất nước. Hai nhà thơ đã vận dụng những thành tựu nghệ thuật của công cuộc hiện đại hóa thơ ca đương thời.

Đoạn thơ của Xuân Diệu thể hiện quan niệm sống của một nhà thơ Mới. Nó thể hiện sự trân trọng của nhà thơ với vẻ đẹp cuộc sống, tuổi trẻ, niềm vui, hạnh phúc ở cuộc đời. Đó là một quan niệm giàu giá trị nhân văn. Đoạn thơ của Tố Hữu nêu lên lẽ sống của một nhà thơ cách mạng đã nhận thức sâu sắc mối liên hệ giữa cá nhân mình với quần chúng lao khổ để chiến đấu vì một lí tưởng chung. Đó là lẽ sống cao đẹp của con người ưu tú khi được giác ngộ cách mạng.

Trong khi Xuân Diệu bộc lộ tâm sự của một cái tôi vô tư trước cuộc đời thì Tố Hữu lại muốn bày tỏ một thái độ chính trị đối với xã hội. Sự khác biệt này có liên quan tới cách tham dự khác nhau của các nhà thơ vào đời sống.

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo