Tại sao C2H5OH không tác dụng vs Na2CO3 vậy ạ ?
Bước 1: Phân tích bản chất hóa học của Ethanol (C2H5OH)
Ethanol là một ancol no, đơn chức, mạch hở. Công thức cấu tạo của nó là:
CH3 – CH2 – OH
Nhóm chức quan trọng ở đây là nhóm hydroxyl (-OH). Trong phân tử ethanol, nguyên tử hiđro trong nhóm -OH có tính axit yếu. Tuy nhiên, tính axit này rất yếu, yếu hơn cả nước. Điều này có nghĩa là ethanol khó có khả năng nhường đi proton (H+) trong các phản ứng hóa học.
Bước 2: Phân tích bản chất hóa học của Natri Cacbonat (Na2CO3)
Natri cacbonat, Na2CO3, là một muối của axit cacbonic (H2CO3) và bazơ mạnh là natri hidroxit (NaOH). Khi tan trong nước, Na2CO3 phân li ra ion:
Na2CO3 –(H2O)–> 2Na+ + CO3(2-)
Ion cacbonat (CO3(2-)) là một bazơ liên hợp của axit cacbonic. Nó có khả năng nhận proton (H+). Do đó, dung dịch Na2CO3 trong nước có môi trường bazơ.
Bước 3: Xét phản ứng giữa một chất có tính axit và một bazơ
Thông thường, một chất có tính axit sẽ phản ứng với một chất có tính bazơ. Ví dụ, axit mạnh sẽ phản ứng với bazơ mạnh để tạo thành muối và nước.
Bước 4: So sánh tính axit của Ethanol với tính bazơ của Ion Cacbonat
Như đã phân tích ở Bước 1, tính axit của hiđro trong nhóm -OH của ethanol là rất yếu.
Ở Bước 2, ion cacbonat (CO3(2-)) là một bazơ.
Để xảy ra phản ứng trao đổi ion hoặc phản ứng axit-bazơ, một trong hai chất tham gia phản ứng phải có tính axit đủ mạnh để đẩy chất kia khỏi hợp chất của nó hoặc phản ứng với tính bazơ của nó.
Một cách dễ hiểu hơn, chúng ta có thể xem xét khả năng tạo thành axit cacbonic (H2CO3) từ ion cacbonat và proton (H+). Axit cacbonic này lại là một axit yếu, không bền và dễ dàng phân hủy thành khí CO2 và nước.
CO3(2-) + 2H+ –> H2CO3 –> CO2 + H2O
Trong khi đó, ethanol không có khả năng cung cấp proton một cách dễ dàng để phản ứng với ion cacbonat. Tính axit của nó quá yếu để có thể “cướp” proton từ nước để tạo ra môi trường axit mạnh hơn, hoặc trực tiếp phản ứng với ion cacbonat.
Bước 5: Xem xét các phản ứng của Ancol
Chúng ta biết rằng ancol có thể tác dụng với các kim loại kiềm mạnh như Natri (Na) để giải phóng khí hiđro:
2C2H5OH + 2Na –> 2C2H5ONa + H2
Phản ứng này xảy ra là do natri là kim loại rất mạnh, có khả năng lấy electron của nhóm -OH dễ dàng hơn nguyên tử hiđro.
Ancol cũng có thể phản ứng với các axit mạnh hơn nó, ví dụ như axit axetic (CH3COOH) trong phản ứng este hóa, tạo thành este và nước. Phản ứng này cần có xúc tác axit mạnh (như H2SO4 đặc) và đun nóng:
CH3COOH + C2H5OH <--(H+, t°)--> CH3COOC2H5 + H2O
Tuy nhiên, Na2CO3 không phải là kim loại kiềm mạnh, cũng không phải là một axit mạnh để có thể phản ứng với ethanol.
Kết luận:
Ethanol (C2H5OH) có tính axit rất yếu, không đủ mạnh để phản ứng với ion cacbonat (CO3(2-)) có tính bazơ trong dung dịch natri cacbonat (Na2CO3). Do đó, C2H5OH không tác dụng với Na2CO3.
Hy vọng các em đã hiểu rõ lý do. Nếu có câu hỏi gì thêm, đừng ngần ngại hỏi nhé!
\(C_2H_5-OH\) có tính axit rất yếu, yếu hơn \(H_2O\) (do ảnh hưởng của nhóm thế etyl \(+I\) làm tăng mật độ điện âm trên \(O\) của \(OH\), do đó \(H\) trong \(OH\) của etanol kém linh động so với \(H_2O\)), do đó không tác dụng với \(Na_2CO_3\).
\(Na_2CO_3\) có tác dụng với \(H\) trong \(COOH\), không tác dụng với \(H\) trong \(OH\) phenol.
Tại vì Hidro trong rượu etylic không đủ linh động để kết hợp với nhóm \(CO_3\) để tạo khí
Hidro trong axit sẽ rất linh động nên có thể tác dụng.