Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ(*)                                                     …

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ(*)
                                                    …

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ(*)
                                                           (Bà Huyện Thanh Quan)
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường(1)
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương(2)
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo(3),
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương(4),
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt(5),
Nước còn cau mặt với tang thương(6)
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường(7)
            (Nguồn: Nguyễn Tường Phượng, Phan Văn Sách, Bùi Hữu Sủng, Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX, Trường Nguyễn Khuyến xuất bản, Hà Nội, 1953)
Chú giải:
(*) Thăng Long là kinh đô nước ta từ đời nhà Lý đến đời nhà Lê, đến đời Minh Mệnh nhà Nguyễn thì đổi ra tỉnh Hà Nội. Đi qua cố đô, Bà Huyện Thanh Quan, đại biểu cho giai cấp sĩ phu Bắc Hà, bâng khuâng trước sự di đô đổi triều, đau lòng trước sự tang thương.
(1)Hí trường: Sân khấu diễn tuồng. Ở đây dùng ví với cuộc đời, vì nối tiếp hết lớp này tiếp lớp khác, luôn biến đổi; 
(2)Tinh sương: Một năm, tinh là sao, mỗi năm di chuyển một vòng, sương theo thời tiết, mỗi năm giáng một lần; 
(3)Thu thảo: Cỏ mùa thu; 
(4)Tịch dương: Bóng mặt trời lúc chiều tà; 
(5)Tuế nguyệt: Năm tháng; 
(6)Tang thương: Do chữ “thương hải biến vi tang điền” (biển xanh biến thành ruộng dâu), chỉ việc sự vật thay đổi; 
(7)Đoạn trường: Đau lòng đứt ruột.
Câu 1. Bài thơ trên được làm theo thể thơ nào ?
Câu 2. Những câu thơ nào gợi lên hình ảnh hoang tàn, phế tích của kinh thành xưa?
Câu 3. Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ nào?
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương
Câu 4. Đặc điểm gieo vần của bài thơ Thăng Long thành hoài cổ?
Câu 5. Từ nào không phải từ Hán Việt trong các từ sau?
A. Trơ gan
B. Hí trường
C. Tuế nguyệt
D. Kim cổ
Câu 6. Nội dung hai câu luận là?
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
   Nước còn cau mặt với tang thương
Câu 7. Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Thăng Long thành hoài cổ?
Câu 8. Nhận xét về ngôn ngữ thơ của bà Huyện Thanh Quan sử dụng trong bài thơ.
Câu 9. Nêu cảm nhận về tâm trạng của tác giả thể hiện trong bài thơ.
Câu 10. Viết đoạn văn ngắn (7 – 10 dòng) nêu suy nghĩ về sự cần thiết phải trân trọng những giá trị trong quá khứ.
Hỏi bởi: vytran
2 câu trả lời
▲ 5
Chào các em học sinh yêu quý! Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu và giải đáp những câu hỏi về bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan, một tác phẩm văn học tiêu biểu trong chương trình Ngữ Văn lớp 8. Cô mong rằng qua buổi học hôm nay, các em sẽ thêm yêu mến, trân trọng những giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc.

Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào từng câu hỏi nhé.

Câu 1. Bài thơ trên được làm theo thể thơ nào ?

Để trả lời câu hỏi này, các em cần quan sát cấu trúc của bài thơ. Chúng ta thấy mỗi câu thơ có bao nhiêu chữ? Các câu thơ được hiệp vần với nhau như thế nào?
Bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” được làm theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
– Thất ngôn: mỗi câu có bảy chữ.
– Bát cú: bài thơ có tám câu.
– Đường luật: thể thơ có những quy tắc chặt chẽ về niêm, luật bằng trắc và vần.

Câu 2. Những câu thơ nào gợi lên hình ảnh hoang tàn, phế tích của kinh thành xưa?

Chúng ta hãy cùng đọc lại bài thơ và chú ý đến những hình ảnh, chi tiết miêu tả sự thay đổi, sự suy tàn của Thăng Long xưa.
Những câu thơ gợi lên hình ảnh hoang tàn, phế tích của kinh thành xưa là:
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”

Ở hai câu thơ này, hình ảnh “lối xưa xe ngựa” gợi về một thời huy hoàng, nhộn nhịp nay chỉ còn là “hồn thu thảo” – cỏ mùa thu úa tàn. “Nền cũ lâu đài” nay chỉ còn lại “bóng tịch dương” – bóng chiều tà hắt hiu. Sự đối lập giữa quá khứ vàng son và hiện tại tiêu điều, hoang phế hiện lên rõ nét.

Câu 3. Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ nào?
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương

Các em hãy xem xét cách tác giả miêu tả sự vật “đá” và “nước”. Chúng có những đặc điểm và hành động như thế nào?
Hai câu thơ “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, / Nước còn cau mặt với tang thương” sử dụng những biện pháp tu từ sau:
Nhân hóa: Tác giả gán cho “đá” những hành động, tính chất của con người: “trơ gan” (cứng cỏi, không nao núng). “Nước” cũng được nhân hóa với hành động “cau mặt” (biểu lộ sự giận dữ, bất mãn).
Ẩn dụ:
– “Trơ gan cùng tuế nguyệt”: Đá “trơ gan” là để ẩn dụ cho sự vững chãi, kiên cường, vượt lên sự bào mòn của thời gian, năm tháng.
– “Cau mặt với tang thương”: Nước “cau mặt” là để ẩn dụ cho sự phẫn uất, không cam chịu trước những biến cố, thăng trầm của lịch sử (“tang thương”).

Câu 4. Đặc điểm gieo vần của bài thơ Thăng Long thành hoài cổ?

Chúng ta cần xác định những tiếng cuối câu được hiệp vần với nhau.
Bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” có đặc điểm gieo vần như sau:
– Tiếng cuối của các câu thơ thứ 2, 4, 6, 8 đều hiệp vần với nhau. Đó là vần “ương” (sương, tường, thương, trường).
– Ngoài ra, tiếng cuối của câu 1 (trường) cũng có thể hiệp vần với tiếng cuối của câu 3 (thảo) và câu 5 (nguyệt) theo quy tắc của thể thất ngôn bát cú Đường luật, tùy thuộc vào cách đọc và ngữ cảnh. Tuy nhiên, vần chính và bắt buộc là vần ở các câu chẵn.

Câu 5. Từ nào không phải từ Hán Việt trong các từ sau?
A. Trơ gan
B. Hí trường
C. Tuế nguyệt
D. Kim cổ

Để trả lời câu hỏi này, các em cần phân tích nghĩa và nguồn gốc của từng từ.
Từ không phải từ Hán Việt trong các từ đã cho là:
A. Trơ gan

Giải thích:
– B. Hí trường: “Hí” (chơi), “trường” (sân). Hí trường là sân khấu diễn tuồng. (Hán Việt)
– C. Tuế nguyệt: “Tuế” (năm), “nguyệt” (tháng). Tuế nguyệt là năm tháng. (Hán Việt)
– D. Kim cổ: “Kim” (nay), “cổ” (xưa). Kim cổ là nay và xưa, thời đại kim cổ. (Hán Việt)
– A. Trơ gan: “Trơ” là từ thuần Việt, diễn tả sự cứng cỏi, không nao núng. “Gan” cũng là từ thuần Việt. “Trơ gan” là một cụm từ thuần Việt.

Câu 6. Nội dung hai câu luận là?
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương

Hai câu này thuộc phần “luận” trong bố cục bốn phần của bài thơ Đường luật (mở, thừa, chuyển, hợp). Phần luận thường nêu lên những suy ngẫm, nhận xét sâu sắc.
Nội dung hai câu luận là:
Hai câu thơ “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, / Nước còn cau mặt với tang thương” nêu lên sự phản kháng, bất khuất của thiên nhiên trước sự tàn phá của thời gian và lịch sử. Đá vẫn kiên gan, không chịu khuất phục trước năm tháng. Nước tuy bị biến đổi nhưng vẫn giữ thái độ phẫn uất, không cam chịu trước những tang thương. Qua đó, tác giả bày tỏ sự đồng cảm với quy luật khắc nghiệt của tự nhiên và cũng có thể ẩn chứa sự đồng cảm, gửi gắm tâm trạng của mình trước những biến đổi của triều đại.

Câu 7. Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Thăng Long thành hoài cổ?

Chúng ta cần xem xét các yếu tố như thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ, giọng điệu…
Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” bao gồm:
Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật: Giúp bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, giàu sức gợi, thể hiện được chiều sâu tư tưởng và cảm xúc.
Ngôn ngữ tinh tế, giàu hình ảnh: Sử dụng các từ ngữ Hán Việt cổ kính, trang trọng nhưng vẫn gần gũi, gợi tả. Hình ảnh thơ được khắc họa bằng những chi tiết chọn lọc, hàm súc như “hồn thu thảo”, “bóng tịch dương”.
Biện pháp tu từ đặc sắc: Nhân hóa và ẩn dụ được sử dụng hiệu quả trong hai câu luận (“Đá vẫn trơ gan…”, “Nước còn cau mặt…”) làm tăng sức biểu cảm, thể hiện rõ sự vận động của ngoại cảnh và tâm trạng của con người.
Sự tương phản: Tác giả tạo ra sự tương phản giữa quá khứ huy hoàng và hiện tại tiêu điều, giữa cảnh vật thiên nhiên vẫn tồn tại với sự suy tàn của kinh thành.
Giọng điệu: Giọng thơ trầm lắng, hoài cổ, man mác buồn, thể hiện tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối trước sự biến đổi của lịch sử.

Câu 8. Nhận xét về ngôn ngữ thơ của bà Huyện Thanh Quan sử dụng trong bài thơ.

Chúng ta cần đánh giá cách sử dụng từ ngữ, cách diễn đạt của tác giả.
Ngôn ngữ thơ của Bà Huyện Thanh Quan trong bài “Thăng Long thành hoài cổ” mang những đặc điểm sau:
Cổ kính, trang trọng nhưng không xa cách: Tác giả sử dụng nhiều từ Hán Việt như “hí trường”, “tinh sương”, “tuế nguyệt”, “tang thương”, “kim cổ”, “đoạn trường”. Những từ này tạo nên vẻ uyên bác, mang hơi thở của thời đại cũ.
Giàu hình ảnh, gợi tả: Các từ ngữ được lựa chọn rất đắt giá, gợi lên những hình ảnh cụ thể, sinh động như “xe ngựa”, “thu thảo”, “lâu đài”, “tịch dương”.
Hàm súc, cô đọng: Mỗi câu thơ, mỗi từ ngữ đều chứa đựng nhiều ý nghĩa, gợi mở, khiến người đọc phải suy ngẫm. Ví dụ, “hồn thu thảo” không chỉ là cỏ mùa thu mà còn gợi sự tàn úa, hoang phế.
Trong sáng, giàu cảm xúc: Dù mang nét cổ kính, ngôn ngữ thơ vẫn thể hiện rõ ràng nỗi buồn, sự tiếc nuối và tâm trạng hoài cổ của tác giả.

Câu 9. Nêu cảm nhận về tâm trạng của tác giả thể hiện trong bài thơ.

Chúng ta cần dựa vào nội dung, hình ảnh, ngôn ngữ thơ để suy ra tâm trạng của người làm thơ.
Tâm trạng của tác giả thể hiện trong bài thơ là một nỗi buồn sâu lắng, man mác, pha lẫn sự tiếc nuối và băn khoăn trước dòng chảy lịch sử. Bà cảm thấy bâng khuâng, đau xót khi chứng kiến sự tiêu tàn, đổ nát của kinh thành Thăng Long xưa – biểu tượng cho một thời vàng son của đất nước. Nỗi buồn này không chỉ là sự tiếc nuối quá khứ mà còn là sự day dứt, suy tư về sự biến đổi, thăng trầm của thời cuộc. Qua hình ảnh “đá vẫn trơ gan”, “nước còn cau mặt”, có thể thấy tác giả gửi gắm một chút niềm tin vào sự bất biến, sự phản kháng của thiên nhiên, nhưng chủ đạo vẫn là tâm trạng u hoài, “luống đoạn trường” khi nghĩ về những gì đã mất.

Câu 10. Viết đoạn văn ngắn (7 – 10 dòng) nêu suy nghĩ về sự cần thiết phải trân trọng những giá trị trong quá khứ.

Các em hãy suy nghĩ về ý nghĩa của việc giữ gìn và phát huy những di sản, những bài học từ quá khứ.
Quá khứ, dù huy hoàng hay gian khó, đều là những trang sách quý giá viết nên lịch sử dân tộc. Bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” đã gợi cho ta thấy sự tàn phai của những giá trị vật chất theo thời gian, nhưng những bài học lịch sử, những giá trị tinh thần thì không bao giờ mất đi. Trân trọng quá khứ không có nghĩa là đắm chìm trong đó, mà là nhìn nhận, học hỏi từ những thành tựu, những sai lầm để xây dựng tương lai tốt đẹp hơn. Những di tích lịch sử, những áng văn chương như bài thơ này là minh chứng sống động cho một thời đã qua, giúp thế hệ sau hiểu rõ cội nguồn, thêm yêu quê hương và có ý thức trách nhiệm gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Trên đây là toàn bộ phần hướng dẫn giải bài tập về bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ”. Cô hy vọng các em đã nắm vững kiến thức và có những cảm nhận sâu sắc về tác phẩm. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, đừng ngần ngại hỏi cô nhé!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 1

Câu 1. Bài thơ Thăng Long thành hoài cổ được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2. Những câu thơ gợi lên hình ảnh hoang tàn, phế tích của kinh thành xưa:

– Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

– Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Câu 3. Hai câu thơ:
“Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương”

– Biện pháp tu từ nhân hóa: “Đá trơ gan”, “Nước cau mặt” → khiến cảnh vật trở nên có hồn, như đang chứng kiến bao thăng trầm lịch sử.

– Biện pháp đối lập: “Đá trơ gan” (kiên cường, vững chãi) với “Nước cau mặt” (đau buồn, biến đổi) → thể hiện sự đối lập giữa cái bền vững và sự đổi thay vô thường.

– Biện pháp ẩn dụ: “Đá” tượng trưng cho sự trường tồn của thiên nhiên, “Nước” tượng trưng cho dòng chảy thời gian và sự đổi thay.

Câu 4. Bài thơ gieo vần theo luật thơ Đường: vần chân, vần bằng, vần “ương” (trường – sương – dương – trường – thương).

Câu 5. Từ không phải từ Hán Việt: A. Trơ gan.

Câu 6. Nội dung hai câu luận:

– Thể hiện sự đối lập giữa thiên nhiên và con người: Đá vẫn vững bền theo thời gian, nhưng nước thì cau mặt với sự đổi thay.

– Diễn tả sự tiếc nuối, xót xa của tác giả trước sự đổi thay của kinh thành xưa.

Câu 7. Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ:

– Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật trang trọng, cổ kính.

– Hình ảnh giàu tính biểu cảm: thu thảo, tịch dương, đá trơ gan, nước cau mặt…

– Biện pháp nghệ thuật đặc sắc: đối, nhân hóa, ẩn dụ gợi tả sự đổi thay của thời gian.

Câu 8. Ngôn ngữ thơ của Bà Huyện Thanh Quan trong bài thơ:

– Trang nhã, cổ kính, trầm lắng nhưng vẫn sâu sắc và đầy xúc cảm.

– Dùng nhiều từ Hán Việt khiến câu thơ mang âm hưởng trang trọng.

– Gợi cảm giác hoài cổ, tiếc nuối trước sự đổi thay của kinh thành xưa.

Câu 9. Tâm trạng của tác giả thể hiện trong bài thơ:

– Bâng khuâng, tiếc nuối trước sự đổi thay của kinh thành Thăng Long.

– Xót xa, đau lòng khi chứng kiến cảnh hoang phế, đổ nát của một triều đại vàng son nay chỉ còn là dĩ vãng.

– Nhận thức sâu sắc về quy luật vô thường của thời gian: mọi vinh quang đều có thể trở thành quá khứ.

Câu 10. Viết đoạn văn ngắn về sự cần thiết phải trân trọng những giá trị trong quá khứ:

Quá khứ là cội nguồn, là những giá trị làm nên bản sắc của một dân tộc. Biết trân trọng những giá trị trong quá khứ chính là thể hiện sự biết ơn đối với những gì cha ông ta đã gây dựng. Những di sản văn hóa, truyền thống tốt đẹp hay những bài học lịch sử đều là kho báu quý giá giúp con người rút ra kinh nghiệm và định hướng tương lai. Nếu không biết trân trọng quá khứ, con người sẽ dễ dàng đánh mất những giá trị thiêng liêng, để rồi phải hối tiếc khi mọi thứ đã phai nhòa theo năm tháng. Như câu ca dao đã nhắc nhở: “Uống nước nhớ nguồn”, mỗi người cần có ý thức gìn giữ và phát huy di sản mà cha ông để lại. Một dân tộc không biết trân trọng quá khứ sẽ khó có thể phát triển vững bền trong tương lai. Chúng ta có thể trân trọng quá khứ bằng cách học tập lịch sử, bảo tồn di tích, và giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống. Mỗi hành động nhỏ như yêu quý tiếng mẹ đẻ, tôn trọng phong tục tập quán cũng chính là cách để thể hiện lòng biết ơn với quá khứ. Chỉ khi hiểu giá trị của những gì đã qua, con người mới biết sống trách nhiệm hơn với hiện tại và hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Trả lời bởi: satramkemm

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo