Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Thực hành đọc hiểu VỀ NHÂN VẬT CHÚ BÉ HỒNG TRONG ĐOẠN TRÍCH TRONG LÒNG MẸ Vũ Dươ…

Thực hành đọc hiểu
VỀ NHÂN VẬT CHÚ BÉ HỒNG TRONG ĐOẠN TRÍCH TRONG LÒNG MẸ
Vũ Dươ…

Thực hành đọc hiểu
VỀ NHÂN VẬT CHÚ BÉ HỒNG TRONG ĐOẠN TRÍCH TRONG LÒNG MẸ
Vũ Dương Quỹ – Lê Bảo
(1) Bên cạnh nhân vật người mẹ mang nhiều nét đẹp, nhân vật chú bé Hồng hiện lên với biết bao suy nghĩ và cảm xúc, cũng thật là đẹp, đáng chia sẻ, đáng trân trọng. Qua nhân vật này, chúng ta không chỉ cảm nhận những cung bật tâm trạng của một chú bé rất mực tin yêu mẹ mà còn hiểu cụ thể, sâu sắc những nét đặc trưng của thể văn hồi kí, một thể văm đậm chất trữ tình. Chất trữ tình thống thiết của ngòi bút Nguyên hồng thể hiện bằng lời kể của nhân vật “tôi” (tức bé Hồng) với những diễn biến tâm trạng theo trình tự thời gian trong hai mối quan hệ: quan hệ với bà cô và quan hệ với người mẹ, rất cụ thể.
(2) Khi nói chuyện với bà cô, bé Hồng chịu bao nhiêu đau đớn, uất ức, nhưng vẫn một lòng tin yêu mẹ. Nghe lời nói thứ nhất của bà cô, lập tức trong kí ức chú bé sống dậy hình ảnh người mẹ ở nơi xa, cơ cực, vất vả. Từ cử chỉ “cúi đầu không đáp” đến lúc cười và đáp lại: “Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về” là một phản ứng thông minh, xuất phát từ sự nhạy cảm và lòng tin yêu mẹ của chú bé. Chú đã nhanh chóng nhận ra ý nghĩa cay độc trong lời của bà cô và cố gắng giữ vững tình thương yêu và lòng kính mến mẹ. [ … ] Tình thương, niềm tin yêu và một chút ngờ vực đối với mẹ như đang nổi bão, giằng xé trong lòng chú bé. Nhưng chú vẫn cố kìm nén để giữ vững niềm tin và tình yêu. [ … ] Từ câu chuyện riêng của đời mình, Nguyên Hồng đã truyền tới người đọc những nội dung mang ý nghĩa xã hội bằng những dòng văn giàu cảm xúc và có hình ảnh, rất ấn tượng. Qua cuộc đối thoại và những cung bậc cảm xúc của bé Hồng trước bà cô, chúng ta thông cảm với những nỗi đau thấm thía, đồng thời rất trân trọng một bản lĩnh cứng cỏi, một tấm lòng thiết tha của người con rất mực thương và tin yêu mẹ.
(3) Nhờ tình thương và niềm tin ấy, đến khi gặp mẹ, bé Hồng đã nhận được niềm sung sướng, hạnh phúc lớn lao. Như trên ta đã biết, người mẹ của bé Hồng trở về đúng thời điểm quan trọng nhất, đã xua tan mọi đau đớn, dằn vặt trong tâm hồn chú bé. Mới chỉ thoáng thấy mọt bóng người giống mẹ, chú bé Hồng đã vội vã, bối rối, vừa chạy theo vừa gọi mẹ. Được ngồi lên xe cùng mẹ, chú bé “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở” khiến cho người mẹ cũng “sụt sùi theo”. Ba từ òa, nức nở, sụt sùi cùng trường nghĩa, nối nhau miêu tả các dạng thức đặc biệt của tiếng khóc , của những dòng lệ. Đây là âm thanh, là nước mắt của biết bao nỗi niềm, tâm trạng hai mẹ con: tủi hận, tự hào, bàng hoàng, sung sướng,… Cảm giác sung sướng của đứa con khi được ngồi kề bên mẹ, được ôm ấp trong lòng mẹ cứ dâng lên từng giây, từng phút. [ … ] Nhà văn đã dựng lại một bức tranh tràn ngập ánh sáng, đường nét rõ ràng, hài hòa, trong đó là những sắc màu tươi tắn, thoang thoảng hương thơm. Đó là một hình ảnh về một thế giới đang bừng nở, hồi sinh, một thế giới dịu dàng kỉ niệm, ăm ắp tình người. Sống trong thế giới đó, chú bé Hồng bồng bềnh trôi trong cảm giác sung sướng, rạo rực, ru mình trong tình mẹ dịu êm, tự hào, hãnh diện được đề đáp bởi tấm lòng người con hiếu thảo thương và tin yêu mẹ đến cháy lòng. Cái cảm giác mình đang bé lại – hay niềm khát khao được bé lại – để làm nũng mẹ, để hưởng sự vuốt ve, chiều chuộng của mẹ cứ lâng lâng, tiếp nối khiến chú bé như đang sống trong mơ vậy. Mọi điều xấu xa, sai lệch mà bà cô gieo vào tâm hồn thơ dại của chú bé bay biến đi hết cả. Xung quanh, từ thế giới bên ngoài vào sâu trong tận cùng cõi tâm linh của chú bé và người mẹ dường như chỉ là niềm hạnh phúc giản dị mà thiêng liêng, hiện thực mà lãng mạn, đầy mộng mơ, … Có thể nói, càng về cuối câu chuyện, ngôn ngữ văn chương càng linh hoạt, sống động, tình cảm người viết càng dạt dào. Đúng là nhà văn đang sống lại những kỉ niệm tuổi thơ của mình để tâm tình, chia sẻ với bạn đọc, cùng bạn đọc thấm thía những khúc nhôi buồn, vui, cay, đắng, ngọt ngào của lòng mẹ yêu con, tình con tin yêu mẹ,…
(Trích Lòng mẹ dịu êm, tình con cháy bỏng, in trong sách Bình giảng văn 8, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019)
II. Tự luận
Câu 1. Văn bản viết về vấn đề gì? Em hãy tóm tắt văn bản trên khoảng 5 – 6 dòng.
Câu 2. Vì sao văn bản trên là một văn bản nghị luận? Hãy chỉ ra một số ý kiến, lí lẽ và bằng chứng mà người viết đã nêu ra trong văn bản.
Hỏi bởi:
3 câu trả lời
▲ 5
Chào các em, cô là giáo viên dạy Ngữ Văn lớp 6 đây. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau thực hành đọc hiểu một đoạn trích rất hay về nhân vật chú bé Hồng trong tác phẩm “Trong lòng mẹ” của nhà văn Nguyên Hồng. Đoạn trích này giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn của chú bé và nghệ thuật viết của nhà văn. Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào phần bài tập nhé.

II. Tự luận

Câu 1. Văn bản viết về vấn đề gì? Em hãy tóm tắt văn bản trên khoảng 5 – 6 dòng.

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần đọc thật kỹ đoạn trích và xác định chủ đề chính mà văn bản đang đề cập đến.

Bước 1: Đọc kỹ lại toàn bộ văn bản.
Trong quá trình đọc, các em hãy chú ý đến các từ khóa, các câu chủ đề, và những ý chính mà tác giả muốn truyền tải.

Bước 2: Xác định vấn đề chính của văn bản.
Khi đọc, chúng ta thấy văn bản tập trung vào việc phân tích, làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chú bé Hồng. Tác giả đi sâu vào những suy nghĩ, cảm xúc, tình cảm của chú bé đối với người mẹ, đặc biệt là trong hai mối quan hệ: với bà cô và với mẹ. Văn bản cũng chỉ ra những nét đặc trưng của thể văn hồi kí qua cách kể chuyện trữ tình của Nguyên Hồng.

Bước 3: Tóm tắt nội dung chính của văn bản.
Dựa vào những gì đã xác định, chúng ta sẽ tóm tắt lại một cách ngắn gọn, súc tích.

* Văn bản phân tích vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chú bé Hồng trong đoạn trích “Trong lòng mẹ”.
* Chú bé Hồng hiện lên với những suy nghĩ, cảm xúc đẹp đẽ, thể hiện tình yêu thương, lòng tin và sự kính trọng mẹ.
* Tác giả đi sâu vào diễn biến tâm trạng của chú bé khi đối diện với bà cô đầy cay độc và khi được đoàn tụ với mẹ.
* Qua nhân vật Hồng, văn bản làm nổi bật chất trữ tình đậm đà của thể văn hồi kí.
* Văn bản ca ngợi bản lĩnh kiên cường, tấm lòng thiết tha của người con và niềm hạnh phúc giản dị, thiêng liêng trong tình mẫu tử.

Vậy, câu trả lời cho câu 1 là:

Văn bản viết về vẻ đẹp tâm hồn, những suy nghĩ, tình cảm sâu sắc của nhân vật chú bé Hồng, đặc biệt là tình yêu thương, lòng tin mãnh liệt dành cho người mẹ. Văn bản cũng làm nổi bật những nét đặc trưng của thể văn hồi kí qua cách xây dựng nhân vật trữ tình của nhà văn Nguyên Hồng. Khi đối diện với bà cô, Hồng thể hiện sự đau đớn, uất ức nhưng vẫn giữ vững niềm tin vào mẹ. Khi gặp mẹ, chú vỡ òa trong sung sướng, hạnh phúc, mọi nỗi đau tan biến.

Câu 2. Vì sao văn bản trên là một văn bản nghị luận? Hãy chỉ ra một số ý kiến, lí lẽ và bằng chứng mà người viết đã nêu ra trong văn bản.

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần hiểu thế nào là văn bản nghị luận và các yếu tố cấu thành nó.

Bước 1: Phân biệt văn bản nghị luận với các kiểu văn bản khác.
Văn bản nghị luận là văn bản dùng lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người đọc về một quan điểm, một vấn đề nào đó. Nó thường có cấu trúc lập luận rõ ràng.

Bước 2: Xác định các yếu tố nghị luận trong văn bản.
Chúng ta sẽ tìm các “ý kiến” (luận điểm), “lí lẽ” (lý do, giải thích cho ý kiến) và “bằng chứng” (dẫn chứng từ văn bản gốc hoặc thực tế) mà người viết đã sử dụng.

* Văn bản này là văn bản nghị luận vì:
* Nó có mục đích rõ ràng là phân tích, đánh giá và khẳng định về nhân vật chú bé Hồng, về nghệ thuật của tác giả Nguyên Hồng.
* Người viết đưa ra những nhận định, đánh giá và dùng lí lẽ, dẫn chứng để làm cho những đánh giá đó trở nên thuyết phục.

* Một số ý kiến, lí lẽ và bằng chứng mà người viết đã nêu ra:

* Ý kiến 1: Nhân vật chú bé Hồng hiện lên với biết bao suy nghĩ và cảm xúc, cũng thật là đẹp, đáng chia sẻ, đáng trân trọng.
* Lí lẽ: Qua nhân vật này, chúng ta không chỉ cảm nhận những cung bật tâm trạng của một chú bé rất mực tin yêu mẹ mà còn hiểu cụ thể, sâu sắc những nét đặc trưng của thể văn hồi kí, một thể văn đậm chất trữ tình.
* Bằng chứng:
* “Khi nói chuyện với bà cô, bé Hồng chịu bao nhiêu đau đớn, uất ức, nhưng vẫn một lòng tin yêu mẹ.”
* Phản ứng thông minh, nhạy cảm và lòng tin yêu mẹ của chú bé khi đáp lại lời bà cô: “Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về”.
* Sự giằng xé giữa tình thương, niềm tin và một chút ngờ vực, nhưng chú vẫn cố kìm nén để giữ vững niềm tin và tình yêu.
* Khi gặp mẹ, bé Hồng nhận được niềm sung sướng, hạnh phúc lớn lao, “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở”.
* “Cái cảm giác mình đang bé lại – hay niềm khát khao được bé lại – để làm nũng mẹ, để hưởng sự vuốt ve, chiều chuộng của mẹ cứ lâng lâng, tiếp nối khiến chú bé như đang sống trong mơ vậy.”

* Ý kiến 2: Nhà văn Nguyên Hồng đã truyền tới người đọc những nội dung mang ý nghĩa xã hội bằng những dòng văn giàu cảm xúc và có hình ảnh, rất ấn tượng.
* Lí lẽ: Qua cuộc đối thoại và những cung bậc cảm xúc của bé Hồng trước bà cô, chúng ta thông cảm với những nỗi đau thấm thía, đồng thời rất trân trọng một bản lĩnh cứng cỏi, một tấm lòng thiết tha của người con.
* Bằng chứng:
* Đoạn miêu tả sự sung sướng của Hồng khi được ngồi cùng mẹ, được mẹ ôm ấp: “Ba từ òa, nức nở, sụt sùi cùng trường nghĩa, nối nhau miêu tả các dạng thức đặc biệt của tiếng khóc , của những dòng lệ.”
* Bức tranh về một thế giới tràn ngập ánh sáng, đường nét rõ ràng, hài hòa, sắc màu tươi tắn, thoang thoảng hương thơm mà nhà văn dựng lại.

* Ý kiến 3: Ngôn ngữ văn chương càng về cuối câu chuyện càng linh hoạt, sống động, tình cảm người viết càng dạt dào.
* Lí lẽ: Nhà văn đang sống lại những kỉ niệm tuổi thơ của mình để tâm tình, chia sẻ với bạn đọc, cùng bạn đọc thấm thía những khúc nhôi buồn, vui, cay, đắng, ngọt ngào của lòng mẹ yêu con, tình con tin yêu mẹ.
* Bằng chứng: Việc miêu tả tinh tế các cung bậc cảm xúc của chú bé Hồng, từ đau đớn, uất ức đến sung sướng tột cùng khi đoàn tụ với mẹ.

Vậy, câu trả lời cho câu 2 là:

Văn bản trên là văn bản nghị luận vì nó có mục đích phân tích, đánh giá và khẳng định về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chú bé Hồng cũng như nghệ thuật viết của tác giả Nguyên Hồng. Người viết đưa ra các nhận định và sử dụng lí lẽ, dẫn chứng để thuyết phục người đọc.

Một số ý kiến, lí lẽ và bằng chứng mà người viết đã nêu ra là:

* Ý kiến: Nhân vật chú bé Hồng có vẻ đẹp tâm hồn đáng trân trọng.
* Lí lẽ: Chú bé rất mực tin yêu mẹ và có bản lĩnh kiên cường.
* Bằng chứng: Thái độ thông minh, nhạy cảm khi đối đáp với bà cô, giữ vững tình yêu mẹ; sự vỡ òa trong sung sướng khi gặp mẹ.

* Ý kiến: Nhà văn Nguyên Hồng đã sử dụng ngôn ngữ giàu cảm xúc, có hình ảnh để truyền tải ý nghĩa xã hội.
* Lí lẽ: Cách miêu tả tinh tế diễn biến tâm trạng của nhân vật Hồng.
* Bằng chứng: Các từ ngữ miêu tả tiếng khóc, dòng lệ của hai mẹ con; hình ảnh “bức tranh tràn ngập ánh sáng, đường nét rõ ràng, hài hòa”.

Các em về nhà xem lại bài và chuẩn bị cho tiết học tiếp theo nhé. Nếu có gì chưa rõ, các em cứ mạnh dạn hỏi cô.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 2

Câu 1: Tóm tắt:

Chú bé Hồng sinh ra là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng không tình yêu: Người bố nghiện ngập, người mẹ trẻ trung luôn khao khát tình yêu thương song đành chôn vùi tuổi xuân bên người chồng nghiện ngập. Cuối cùng người bố chết, người mẹ bỏ lại hai anh em Hồng để đi “tha hương cầu thực” trong sự ghẻ lạnh của họ hàng,đặc biệt là bà cô.Một hôm, bà cô gọi Hồng đến và hỏi có muốn vào Thanh Hoá với mẹ không. Nhận ra vẻ mặt rất kịch và tâm địa độc ác của bà cô, Hồng nén lại niềm thương nhớ mẹ và trả lời không muốn vào. Nhưng bà cô vẫn cố tình kể chuyện mẹ Hồng khốn khổ, đã có con với người khác làm cho Hồng đau đớn, thương mẹ và căm phẫn những cổ tục đã đầy đọa mẹ mình.Đến gần ngày giỗ cha,Hồng thoáng thấy một người ngồi trên xe kéo rất giống mẹ. Hồng liền đuổi theo và gọi to. Vài giây sau, Hồng đuổi kịp xe kéo. Và nhận ra đúng là mẹ mình. Hồng òa khóc nằm trong lòng mẹ,cảm nhận được hơi ấm, cái vuốt ve, cảm giác được mẹ che chở thiếu vắng suốt bấy lâu nay. Trong hạnh phúc vỡ òa, phút chói Hồng cũng quên đi lời mỉa mai của bà cô mà chìm đắm trong sự hạnh phúc tột cùng.

(chj làm lố dòng rồi,em tự mik rút ngắn lại nhé!!!)

Câu 2: văn bản trên là một văn bản nghị luận vì nó được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng nào đó đối với các sự việc, hiện tượng trong đời sống hay trong văn học bằng các luận điểm, luận cứ và lập luận.

Hãy chỉ ra một số ý kiến, lí lẽ và bằng chứng mà người viết đã nêu ra trong văn bản: để chj tìm hiểu đã

Trả lời bởi:
▲ 1

câu 1 :

Hồng là một cậu bé có cảnh ngộ đáng thương: bố mới mất, mẹ tha hương cầu thực, em phải sống trong sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của người cô. Người cô độc ác luôn reo rắc vào đầu em những điều xấu xa về mẹ để em khinh miệt, ruồng rẫy mẹ. Bà cô còn bảo em vào Thanh Hóa tìm mẹ và em bé. Nhưng dù thế nào đi nữa, em vẫn luôn yêu thương và tin tưởng mẹ. Chiều hôm đó, khi tan học, em chợt thấy thoáng một bóng người giống mẹ. Bé Hồng đã không kìm được lòng mà chạy theo gọi mẹ. Khi người mẹ quay đầu lại, em được mẹ ôm vào lòng, vuốt ve như ngày còn bé làm em thấy hạnh phúc và quên đi những lời độc ác của bà cô.

câu 2:

(1) HCM viết bài này nhằm mục đích: xóa nạn mù chữ, đề cập đến việc cần phải học tập, nâng cao dân trí, kêu gọi mọi người cùng học tập.

(2) Ý kiến: Trong thời kì Pháp cai trị mọi người đều bị thất học để chúng dễ cai trị

– Giúp mọi người biết lợi ích của việc học

(3) Mk ko biết

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo