Tìm những câu ca dao,tục ngữ mang hàm ý châm biến,mỉa mai
Chúng ta sẽ cùng nhau đi qua từng bước để tìm hiểu và phân tích những câu ca dao, tục ngữ này nhé.
Bước 1: Ôn lại kiến thức về ca dao, tục ngữ
Trước hết, các em hãy nhớ lại xem ca dao, tục ngữ là gì?
Ca dao là những bài ca dân gian thường có lời thơ trữ tình, diễn tả tình cảm, tâm tư, ý chí của nhân dân lao động.
Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, súc tích, đúc kết kinh nghiệm sống, lời khuyên răn, bài học luân lí của nhân dân.
Bước 2: Hiểu rõ khái niệm châm biếm, mỉa mai
Châm biếm, mỉa mai là gì?
Châm biếm là lời nói hay, viết có ý bóng gió, kín đáo, dùng để chế giễu, phê phán những thói xấu, những cái dở, cái sai trái.
Mỉa mai là cách nói ngược, lời nói không đúng với ý thật, thường dùng để chê bai, khinh bỉ một cách cay độc.
Nói một cách đơn giản, khi châm biếm hay mỉa mai, người ta thường không nói thẳng ra điều mình muốn phê phán mà dùng những lời lẽ khác để ám chỉ, khiến người nghe, người đọc tự hiểu ra ý nghĩa.
Bước 3: Tìm các câu ca dao, tục ngữ mang hàm ý châm biếm, mỉa mai
Bây giờ, chúng ta sẽ cùng nhau xem xét một số ví dụ cụ thể trong Sách giáo khoa để tìm ra những câu ca dao, tục ngữ này. Các em hãy cùng mở Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6, tập 1 (hoặc tập 2 tùy theo từng bộ sách) và tìm đến các bài có liên quan đến ca dao, tục ngữ nhé.
Thường thì, những câu ca dao, tục ngữ này sẽ phê phán những đối tượng như:
* Những người lười biếng, ham ăn lười làm.
* Những người hay khoe khoang, khoác lác.
* Những người tham lam, keo kiệt.
* Những người có thói quen xấu, không biết điều.
* Những hiện tượng xã hội tiêu cực.
Chúng ta sẽ cùng nhau tìm và phân tích một vài ví dụ tiêu biểu:
Ví dụ 1:
Các em hãy thử nghĩ xem, có câu nào nói về những người hay khoe khoang không?
À, có câu:
“Miệng nói tay làm,
Sống đâu cũng đặng.”
(Câu này thực ra là lời khuyên răn, không châm biếm)
Nhưng có câu:
“Miệng ăn núi lở,
Tay làm hàm nhai.”
Câu này phê phán ai? Phê phán những người chỉ biết ăn mà không biết làm. Hàm ý là sự lãng phí, sự phá hoại. Hành động “miệng ăn” không đi đôi với “tay làm”, dẫn đến hậu quả tiêu cực (“núi lở”).
Ví dụ 2:
Một ví dụ khác về thói quen xấu, sự thiếu hiểu biết:
“Mất bò mới lo làm chuồng.”
Câu này châm biếm ai? Châm biếm những người không có tầm nhìn, chỉ biết hành động khi sự việc đã xảy ra, hậu quả đã đến. Nó khuyên chúng ta phải phòng ngừa, chuẩn bị trước.
Ví dụ 3:
Về sự tham lam, tính toán thiệt hơn:
“Thóc đâu mà thóc vàng,
Gạo đâu mà gạo trắng.”
Câu này nói lên điều gì? Nó ám chỉ sự thiếu thốn, hoặc sự đòi hỏi vô lý. Thường được dùng để mỉa mai những người có những yêu cầu cao ngất trời nhưng lại không có đóng góp gì tương xứng.
Ví dụ 4:
Một câu tục ngữ quen thuộc, phê phán sự khoe mẽ, khoác lác:
“Bé xé ra to.”
Câu này có nghĩa là gì? Nó châm biếm những người làm cho một chuyện nhỏ nhặt trở nên to tát, quan trọng hơn thực tế để thu hút sự chú ý hoặc để khoe khoang, làm màu.
Ví dụ 5:
Về sự thiếu khôn ngoan, hay bị lừa gạt:
“Chọn nghề hơn chọn vợ.”
Câu này thường được hiểu là lời khuyên về tầm quan trọng của việc chọn nghề nghiệp đúng đắn. Tuy nhiên, trong một số ngữ cảnh, nó cũng có thể mang hàm ý mỉa mai những người chỉ chăm chăm vào lợi ích vật chất mà bỏ qua những giá trị khác, hoặc những người chọn những nghề “dễ kiếm tiền” nhưng không bền vững. (Phần này có thể hơi khó với lớp 6, các em chỉ cần nắm ý chính là nó có thể ám chỉ điều gì đó không hay).
Trong Sách giáo khoa, có thể có những câu khác nữa mà chúng ta có thể tìm thấy. Quan trọng là các em phải đọc kỹ, suy nghĩ xem lời lẽ đó đang nói về ai, về điều gì và có ý chê bai, phê phán gì đằng sau lời nói đó.
Bước 4: Phân tích hàm ý châm biếm, mỉa mai
Sau khi tìm được câu, chúng ta cần phân tích:
* Đối tượng bị châm biếm, mỉa mai là ai? (Người lười biếng, người khoe khoang, người tham lam, người thiếu suy nghĩ…)
* Hành vi, thói xấu nào bị phê phán? (Chỉ biết ăn mà không làm, nói suông, làm việc không có kế hoạch, khoe mẽ…)
* Hàm ý của câu là gì? (Muốn khuyên nhủ điều gì, muốn phê phán sâu sắc điều gì.)
Ví dụ, với câu “Mất bò mới lo làm chuồng”:
* Đối tượng: Những người chậm chạp, thiếu suy nghĩ, không có foresight.
* Hành vi bị phê phán: Chỉ hành động khi đã muộn, khi đã mất mát.
* Hàm ý: Phê phán sự thiếu trách nhiệm, thiếu chuẩn bị. Khuyên nhủ mọi người cần có ý thức phòng ngừa, hành động sớm.
Tổng kết
Ca dao, tục ngữ là kho tàng quý báu của dân tộc. Việc tìm hiểu những câu mang hàm ý châm biếm, mỉa mai giúp chúng ta hiểu thêm về cách cha ông ta nhìn nhận và phê phán những thói hư tật xấu, đồng thời học hỏi những bài học sâu sắc về cuộc sống.
Các em về nhà xem lại Sách giáo khoa và cố gắng tìm thêm những câu ca dao, tục ngữ khác có ý nghĩa tương tự nhé. Nếu có gì chưa rõ, buổi học sau chúng ta sẽ cùng trao đổi.
\(1.\) “Cầm vàng mà lội qua sông, Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng.”
\(=>\) Mỉa mai những người không biết quý trọng những gì mình đang có hoặc không làm được gì ngoài việc giữ gìn một cách vô ích.
\(2.\) “Tay chiêu, miệng chiêu, bụng trống không Thật thà chẳng lọ, rổ rá cũng xong.”
\(=>.\) Châm biếm những người chỉ giỏi ăn nói, khoe khoang (“tay chiêu, miệng chiêu”) nhưng thực chất lại rỗng tuếch, không có thực tài (“bụng trống không”).
\(3.\) “Trời mưa lác đác giọt rơi, Công anh xúc tép chẳng mời mà ăn.”
\(=>\) Châm biếm thái độ tham lam, không biết xấu hổ của người đến ăn chực mà không hề được mời, không hề có công lao.
\(4.\) “Lấy chồng giàu, mặc áo vá vai, Lấy chồng khó, nằm võng đòn tre.”
\(=>\) Mỉa mai sự thực dụng, giả tạo trong hôn nhân và thái độ khinh thường người nghèo, sùng bái người giàu.
\(5.\) “Chồng người đánh đáo, vợ người ăn khoai; Chồng em vác củi, vợ em ăn trầu.”
\(=>\) Mỉa mai sự thiếu chịu khó, không biết vun vén của người vợ
\(6.\) “Thứ nhất là đục, thứ nhì là khoét, Thứ ba là nhốt, thứ tư là nhòm.”
\(=>\) Mỉa mai những thầy đồ, người có học nhưng lại chỉ biết những kiến thức vặt vãnh, vô bổ. Châm biếm sự kém cỏi được che đậy bằng vẻ ngoài học thức.
\(7.\) “Khôn ngoan chẳng lọ nói nhiều, Người khôn nói ít, người điên nói dai.”
\(=>\) Châm biếm thói quen nói dai, nói dở của những người thiếu khôn ngoan. Hàm ý rằng, người thông minh, có năng lực thực sự thì nói ít nhưng lời nói có trọng lượng.
\(8.\) “Nhất cao là núi Thái Sơn, Nhất dài là sợi chỉ khâu mồm bà cô.”
\(=>\) Mỉa mai thói nói dài, nói dai, can thiệp vào chuyện người khác của người phụ nữ.
\(9.\) “Ba năm ở với nhà chồng, Một mâm cơm trắng tốn công ba lần.”
\(=>\) Mỉa mai sự thiếu năng lực, không đảm đang của người vợ khi nấu một bữa ăn đơn giản mà tốn quá nhiều công sức. Nó cũng có thể là lời than phiền về sự khắt khe quá mức của gia đình chồng.
\(10.\) “Đi đâu mà vội mà vàng, Mà vấp phải đá, mà quàng phải dây?”
\(=>\) Châm biếm những người quá nôn nóng, tham lam mà không màng đến hậu quả. Sự vội vàng đó khiến họ dễ gặp phải tai họa, thất bại
\(#Meo\)
\(->\) Ông ăn chả bà ăn nem.
\(+\) Vợ chồng không biết nhường nhịn nhau mỗi người đều có hành vi, thói quen xấu nhưng lại gây bất đồng với nhau.
\(->\) Cháy nhà ra mặt chuột.
\(+\) Khi có những tình huống, biến cố nào đó xảy ra thì kẻ gian trá sẽ để lộ bộ mặt thật của mình.
\(->\) Giấu đầu hở đuôi
\(+\) Cố gắng giấu diếm đều gì đó nhưng lại vô tình để lộ ra sơ hở.
\(->\)
Lỗ mũi mười tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Trên đâu những rạ cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.
\(+\) Theo quan điểm xưa, người phụ nữ phải có ngoại hình và tính nết đẹp nhưng trong bài ca dao trên, tuy người vợ có ngoại hình không đẹp và tính nết, thói quen xấu nhưng người chồng vẫn khen vợ để coi như một cách giữ gìn hạnh phúc gia đình.
\(->\)
Chập chập thôi lại cheng cheng
Con gà sống thiến để riêng cho thầy
Đơm xôi thì đơm cho đầy
Đơm mà vơi đĩa thì thầy không ưng.
\(+\) Thể hiện những suy nghĩ xấu, chỉ nhằm chuộc lợi của thầy bói khiến người ta sa đà vào việc mê tín, dị đoan. Câu ca dao là lời châm biếm, mỉa mai về những người làm nghề mang tính chất mê tín và những người cố chấp tin tưởng những thứ mê tín.