TÔI TỰ HỌC (Nguyễn Du…
TÔI TỰ HỌC
(Nguyễn Duy Cần)
Mục đích của sự học là gì? Học để mưu cầu hạnh phúc, nghĩa là làm cho mình ngày càng mới, càng cao, càng rộng,… Học là để gia tăng sự hiểu biết của mình, mở rộng tâm hồn của mình bằng cách thu nhận sự hiểu biết cùng những kinh nghiệm của người khác. Cũng giống như một đứa trẻ mới sinh nặng chưa đầy ba kí, thế mà ngày càng lớn đến năm, sáu chục kí trong khoảng vài mươi năm sau, phải chăng nhờ rút lấy không khí, đồ ăn, đồ uống,… mà tiến từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, nghĩa là càng ngày càng mới, càng cao, càng lớn. Bởi vậy tôi cho rằng học cũng như ăn.
Ăn mà không tiêu thì có hại cho sức khỏe. Học mà không hóa thì có hại cho tinh thần. Cỏ con cừu ăn mà được tiêu, sẽ không còn là cỏ nữa mà là bộ lông mướt đẹp của nó. Dâu con tằm ăn mà được tiêu, sẽ không còn là dâu nữa mà là sợi tơ mịn màng tươi tốt của nó. Người có học thức là người đã thần hóa những cái học của mình. Bởi vậy dường như họ không biết gì cả mà không có cái gì là không biết.
Học mà đến mức quên hết cả sách vở của mình đã học thì cái học ấy mới là “nhập diệu”. Một điều gì học mà mình còn cố nhớ là nó chưa được nhập vào tâm. Chỉ khi nào mình không cần nhớ mà nó vẫn tự nhiên hiển hiện trong tâm trí thì cái học ấy mới gọi là đã được tiêu hóa. Người học đánh máy chữ mà còn để ý tìm từng con chữ, cố nhớ vị trí của từng con chữ là người đánh máy chưa tinh. Người học đi xe đạp mà còn cố để ý đến bàn đạp, cách đạp là người đi xe đạp chưa thạo. Tôi nhớ lúc còn nhỏ, gần đến ngày thi, tôi băn khoăn nói với cha: “Sao con học nhiều thế mà nay dường như không còn nhớ gì cả. Lòng con như quên hết, không biết lúc thi có nhớ được gì không? Con sợ quá!”. Cha tôi cười bảo: “Đấy là con học đã chín muồi rồi. Quên tức là nhớ nhiều rồi đó. Con hãy yên tâm…”. Thật đúng như lời cha, đến ngày thi, giám khảo hỏi đâu, tôi trả lời liền đó một cách rõ ràng hết sức.
Và Herriot cũng từng nói: “Học thức là cái còn lại khi mình đã quên tất cả”. Đó chính là cái diệu pháp của phép học.
(Trích, Tôi tự học, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2022, tr.29-30)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định vấn đề được đề cập trong văn bản.
Câu 2. Từ “diệu pháp” trong câu cuối của văn bản có nghĩa là gì?
Câu 3. Cho biết tác dụng của phép điệp trong hai câu văn sau:
Cỏ con cừu ăn mà được tiêu, sẽ không còn là cỏ nữa mà là bộ lông mướt đẹp của nó. Dâu con tằm ăn mà được tiêu, sẽ không còn là dâu nữa mà là sợi tơ mịn màng tươi tốt của nó.
Câu 4. Yếu tố tự sự (cuộc trò chuyện giữa “tôi” với người cha) được sử dụng trong văn bản có vai trò như thế nào đối với việc thể hiện nội dung?
Câu 5. Anh/chị tâm đắc nhất với mục đích nào của sự học mà tác giả đề cập ở phần đầu văn bản? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ đoạn trích ở phần Đọc hiểu, kết hợp những hiểu biết của bản thân, hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa của việc tự học.
Cô rất vui được đồng hành cùng các em trong việc khám phá những giá trị sâu sắc từ văn bản “Tôi tự học” của tác giả Nguyễn Duy Cần – một bài viết đầy ý nghĩa về hành trình học tập. Với tư cách là một giáo viên Ngữ văn, cô tin rằng việc phân tích kỹ lưỡng từng câu hỏi sẽ giúp các em không chỉ hiểu bài sâu hơn mà còn rèn luyện tư duy phản biện, khả năng lập luận sắc bén – những kĩ năng vô cùng cần thiết cho các em trong tương lai.
Chúng ta hãy cùng nhau bắt đầu nhé!
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1. Xác định vấn đề được đề cập trong văn bản.
Hướng dẫn giải:
Để xác định vấn đề chính của văn bản, các em cần đọc lướt toàn bộ bài viết, chú ý đến nhan đề, các câu chủ đề ở mỗi đoạn và những từ khóa được lặp đi lặp lại. Vấn đề thường là trọng tâm mà tác giả muốn bàn luận và làm sáng tỏ.
Lời giải chi tiết:
Vấn đề được đề cập trong văn bản là: Bản chất, mục đích và phương pháp của việc học (đặc biệt là tự học) để đạt đến sự “tiêu hóa” kiến thức, biến tri thức bên ngoài thành của mình và làm cho bản thân “mới, cao, rộng” hơn.
Câu 2. Từ “diệu pháp” trong câu cuối của văn bản có nghĩa là gì?
Hướng dẫn giải:
Khi gặp một từ Hán Việt hoặc từ ngữ có vẻ trừu tượng, các em hãy cố gắng đặt nó vào ngữ cảnh cụ thể của câu và đoạn văn để suy luận nghĩa. Từ “diệu pháp” ở đây được đặt sau câu nói của Herriot và tóm lại toàn bộ những gì tác giả đã phân tích về cách học đúng đắn.
Lời giải chi tiết:
Từ “diệu pháp” trong câu cuối của văn bản có nghĩa là: phương pháp kì diệu, bí quyết vi diệu, cách thức tinh tế và hiệu quả nhất để việc học đạt đến mức độ thâm sâu, biến kiến thức thành trí tuệ thực sự của bản thân, không cần cố nhớ mà vẫn tự nhiên hiển hiện.
Giải thích:
- “Diệu” (kì diệu, tinh diệu, sâu sắc, cao siêu)
- “Pháp” (phương pháp, bí quyết, cách thức)
Kết hợp lại, nó chỉ một phương pháp học đặc biệt hiệu quả, mang lại kết quả phi thường.
Câu 3. Cho biết tác dụng của phép điệp trong hai câu văn sau:
Cỏ con cừu ăn mà được tiêu, sẽ không còn là cỏ nữa mà là bộ lông mướt đẹp của nó. Dâu con tằm ăn mà được tiêu, sẽ không còn là dâu nữa mà là sợi tơ mịn màng tươi tốt của nó.
Hướng dẫn giải:
Phép điệp là biện pháp tu từ lặp lại một từ, cụm từ, hoặc cấu trúc câu để nhấn mạnh ý, tạo nhịp điệu, tăng tính biểu cảm. Ở đây, các em cần chỉ ra sự lặp lại về cấu trúc và sau đó phân tích tác dụng cụ thể của nó trong việc diễn đạt ý nghĩa của tác giả.
Lời giải chi tiết:
Trong hai câu văn trên, tác giả đã sử dụng phép điệp cấu trúc cú pháp (cụ thể là cấu trúc “[Đối tượng] ăn mà được tiêu, sẽ không còn là [đối tượng] nữa mà là [kết quả chuyển hóa]“).
Tác dụng:
- Nhấn mạnh và làm nổi bật luận điểm về tầm quan trọng của việc “tiêu hóa” (chuyển hóa, biến đổi) kiến thức, không chỉ là tiếp nhận một cách thụ động.
- Làm sáng tỏ và cụ thể hóa ý nghĩa của việc “học mà hóa” thông qua những hình ảnh so sánh gần gũi, sinh động và dễ hình dung (cỏ thành lông cừu, dâu thành tơ tằm). Từ đó, giúp người đọc dễ dàng liên hệ với quá trình biến kiến thức thành tri thức của bản thân.
- Tạo nhịp điệu cân đối, hài hòa cho câu văn, tăng sức gợi cảm và tính thuyết phục cho lập luận của tác giả.
Câu 4. Yếu tố tự sự (cuộc trò chuyện giữa “tôi” với người cha) được sử dụng trong văn bản có vai trò như thế nào đối với việc thể hiện nội dung?
Hướng dẫn giải:
Yếu tố tự sự (kể chuyện) trong một văn bản nghị luận thường không chỉ để giải trí mà còn có vai trò quan trọng trong việc minh họa hoặc chứng minh luận điểm. Các em cần phân tích mối liên hệ giữa câu chuyện và luận điểm chính của tác giả.
Lời giải chi tiết:
Yếu tố tự sự (cuộc trò chuyện giữa “tôi” với người cha) được sử dụng trong văn bản có vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung, cụ thể là:
- Minh họa sinh động và cụ thể cho luận điểm về việc học đến mức “quên hết sách vở” mà kiến thức vẫn “nhập diệu”, vẫn “hiển hiện trong tâm trí” khi cần. Câu chuyện đã chứng minh rằng khi kiến thức đã được tiêu hóa sâu sắc, nó trở thành một phần của bản thân, không cần cố gắng ghi nhớ mà vẫn có thể vận dụng.
- Tăng tính thuyết phục và chân thực cho lập luận của tác giả. Một câu chuyện cá nhân, một trải nghiệm thực tế thường dễ đi vào lòng người và có sức nặng hơn những lời lí giải khô khan. Lời khuyên của người cha đã trở thành một bằng chứng sống động, giúp người đọc tin tưởng vào quan điểm của tác giả.
- Gây hứng thú và tạo sự gần gũi cho người đọc. Việc lồng ghép yếu tố kể chuyện vào bài nghị luận giúp văn bản bớt đi sự hàn lâm, trở nên hấp dẫn và dễ tiếp nhận hơn. Đồng thời, tạo sự đồng cảm với người viết qua trải nghiệm chung về nỗi lo lắng trước kì thi.
Câu 5. Anh/chị tâm đắc nhất với mục đích nào của sự học mà tác giả đề cập ở phần đầu văn bản? Vì sao?
Hướng dẫn giải:
Đây là câu hỏi mở, đòi hỏi các em phải bày tỏ quan điểm cá nhân. Tuy nhiên, quan điểm đó phải được lập luận chặt chẽ và có liên hệ với nội dung văn bản. Các em hãy chọn một mục đích mà mình thấy ý nghĩa nhất và giải thích lí do một cách thuyết phục.
Lời giải chi tiết:
(Học sinh có thể chọn một trong các mục đích hoặc sự kết hợp, miễn là lí giải hợp lí. Dưới đây là một ví dụ)
Tôi tâm đắc nhất với mục đích của sự học là “làm cho mình ngày càng mới, càng cao, càng rộng”.
Vì sao:
- Mục đích này không chỉ dừng lại ở việc tích lũy kiến thức mà còn nhấn mạnh đến quá trình phát triển không ngừng của bản thân, cả về trí tuệ, tâm hồn và nhân cách. “Mới” là luôn cập nhật, đổi mới tư duy; “cao” là vươn tới những giá trị tri thức, đạo đức cao hơn; “rộng” là mở mang tầm hiểu biết, dung nạp nhiều điều hay lẽ phải.
- Nó gợi mở một hành trình học tập suốt đời, khuyến khích con người không bao giờ tự mãn mà phải luôn phấn đấu để hoàn thiện mình. Khi con người ngày càng “mới, cao, rộng”, họ sẽ có cái nhìn đa chiều hơn về thế giới, dễ dàng thích nghi với sự thay đổi, và tìm thấy niềm vui trong sự khám phá. Đây cũng chính là con đường dẫn đến “mưu cầu hạnh phúc” một cách bền vững nhất.
- Đồng thời, mục đích này cũng phù hợp với tinh thần của thời đại mới, khi mà thế giới luôn thay đổi và đòi hỏi con người phải liên tục học hỏi, phát triển bản thân để không ngừng nâng cao giá trị và đóng góp cho cộng đồng.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ đoạn trích ở phần Đọc hiểu, kết hợp những hiểu biết của bản thân, hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa của việc tự học.
Hướng dẫn giải:
Để viết một đoạn văn nghị luận đạt yêu cầu, các em cần tuân thủ cấu trúc ba phần (mở, thân, kết) và đảm bảo các tiêu chí về nội dung, hình thức, độ dài. Đặc biệt, hãy biết cách tích hợp ý từ văn bản đọc hiểu và mở rộng bằng kiến thức, trải nghiệm của bản thân.
Dàn ý chi tiết:
1. Mở đoạn: Giới thiệu khái quát về vai trò, ý nghĩa của tự học trong quá trình chiếm lĩnh tri thức và phát triển bản thân.
- Đặt vấn đề: Tự học không chỉ là một phương pháp mà còn là một con đường thiết yếu để đạt được tri thức thực sự.
2. Thân đoạn: Phân tích các ý nghĩa cụ thể của việc tự học, có dẫn chứng từ văn bản và liên hệ bản thân.
- Tự học là con đường “tiêu hóa” và “thần hóa” kiến thức:
- Liên hệ với ý của Nguyễn Duy Cần: “Học mà không hóa thì có hại cho tinh thần.” (Dẫn ý “cỏ thành lông cừu”, “dâu thành tơ tằm”).
- Giải thích: Tự học giúp chúng ta không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn biến nó thành tri thức của riêng mình, hiểu sâu, nhớ lâu và vận dụng linh hoạt.
- Tự học giúp phát triển năng lực tư duy và sự chủ động:
- Người tự học không thụ động chờ đợi mà chủ động tìm tòi, khám phá, đặt câu hỏi, giải quyết vấn đề.
- Rèn luyện tư duy độc lập, khả năng phản biện, sáng tạo. (Ví dụ: người đánh máy chữ “nhập diệu”, đi xe đạp “thạo” không cần suy nghĩ).
- Tự học là chìa khóa để “làm cho mình ngày càng mới, càng cao, càng rộng”:
- Liên hệ mục đích của sự học ở phần đầu văn bản.
- Trong thế giới không ngừng biến đổi, tự học giúp con người liên tục cập nhật, thích nghi, không ngừng nâng cao giá trị bản thân, tránh bị tụt hậu.
- Tự học dẫn đến sự trưởng thành và hạnh phúc:
- Khi kiến thức đã “nhập diệu”, trở thành “cái còn lại khi mình đã quên tất cả” (Herriot), đó là lúc ta đạt đến sự lĩnh hội sâu sắc, tự tin và hạnh phúc trong cuộc sống.
- Nó là nền tảng để mỗi cá nhân có thể tự lực, tự cường, làm chủ cuộc đời mình.
3. Kết đoạn: Khẳng định lại ý nghĩa to lớn của tự học và đưa ra lời nhắn nhủ.
- Tự học là hành trình không ngừng nghỉ, là yếu tố quyết định sự thành công và hạnh phúc của mỗi người trong mọi lĩnh vực.
- Lời kêu gọi/khuyến khích thực hành tự học.
Đoạn văn tham khảo:
Trong hành trình chiếm lĩnh tri thức, tự học không chỉ là một phương pháp mà còn là một triết lí sống, mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với sự phát triển của mỗi cá nhân. Nguyễn Duy Cần đã khẳng định: “Học mà không hóa thì có hại cho tinh thần.” Điều này nhấn mạnh rằng tự học chính là quá trình “tiêu hóa,” biến tri thức từ bên ngoài thành “bộ lông mướt đẹp” hay “sợi tơ mịn màng” của riêng mỗi người, chứ không phải là sự sao chép rập khuôn. Khi kiến thức đã được “thần hóa” và “nhập vào tâm,” nó sẽ hiển hiện tự nhiên mỗi khi ta cần, giống như người học đánh máy hay đi xe đạp đã tinh thạo, không còn phải cố ý nhớ từng phím, từng bàn đạp. Tự học rèn luyện cho chúng ta khả năng chủ động tìm tòi, tư duy độc lập, giải quyết vấn đề và không ngừng “làm cho mình ngày càng mới, càng cao, càng rộng.” Chính nhờ tự học mà mỗi cá nhân có thể trang bị cho mình nền tảng vững chắc để thích nghi với mọi biến động, phát triển bản thân toàn diện, và đạt được hạnh phúc thực sự. Vì vậy, tự học chính là chìa khóa mở cánh cửa đến với tri thức bền vững và sự trưởng thành vững chãi.
Câu 1
Vấn đề được đề cập trong văn bản là mục đích của sự học, trong đó tác giả Nguyễn Duy Cần cho rằng học là quá trình không ngừng để gia tăng hiểu biết, mở rộng tâm hồn và đạt được sự trưởng thành, phát triển về trí tuệ và tinh thần.
Câu 2
Từ “diệu pháp” trong câu cuối của văn bản có nghĩa là phương pháp kỳ diệu, sâu sắc trong học tập, khi người học đạt đến mức độ mà kiến thức đã hoàn toàn trở thành một phần tự nhiên trong tâm trí, không cần phải nhớ mà vẫn luôn hiện hữu.
Câu 3
Phép điệp trong hai câu văn trên có tác dụng làm nổi bật sự biến đổi và phát triển của vật chất khi qua quá trình tiêu hóa, từ đó khẳng định sự tương đồng với quá trình học tập: Kiến thức được tiếp thu, “tiêu hóa” rồi sẽ chuyển hóa thành một giá trị mới, đẹp đẽ và hữu ích hơn
Câu 4
Yếu tố tự sự có vai trò minh họa, giải thích và làm sâu sắc thêm quan điểm của tác giả về học tập. Câu chuyện của người cha không chỉ giúp giải tỏa lo lắng của “tôi” mà còn khẳng định rằng sự quên đi là một phần của quá trình học tập tự nhiên, giúp củng cố lý thuyết tác giả nêu ra về sự trưởng thành của học tập
Câu 5
Mục đích mà tôi tâm đắc nhất trong phần đầu văn bản là học để gia tăng sự hiểu biết và mở rộng tâm hồn. Đây là mục đích cao đẹp và ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống, vì việc học không chỉ đơn giản là tích lũy kiến thức mà còn là con đường phát triển bản thân, làm phong phú thêm thế giới nội tâm và khả năng cảm nhận của mỗi người.
Câu 1. Vấn đề được đề cập trong văn bản.
Vấn đề được đề cập trong văn bản là mục đích và quan niệm về việc học tập (sự học), đặc biệt nhấn mạnh việc học phải đi đôi với tiêu hóa kiến thức để đạt đến mức “nhập diệu”.
Câu 2. Từ “diệu pháp” trong câu cuối của văn bản có nghĩa là gì?
Từ “diệu pháp” có nghĩa là phương pháp kì diệu, tuyệt vời, tinh tế; chỉ cách thức học tập hoặc quy luật học tập hiệu quả, đạt đến trình độ cao.
Câu 3. Tác dụng của phép điệp trong hai câu văn.
Phép điệp (điệp cấu trúc câu, điệp từ “ăn”, “tiêu”, “sẽ không còn là… nữa mà là…”) trong hai câu văn: Cỏ con cừu ăn mà được tiêu, sẽ không còn là cỏ nữa mà là bộ lông mướt đẹp của nó. Dâu con tằm ăn mà được tiêu, sẽ không còn là dâu nữa mà là sợi tơ mịn màng tươi tốt của nó.
Có tác dụng:
-
Nhấn mạnh và làm nổi bật quan niệm: Học phải đi đôi với “tiêu hóa” (thần hóa) kiến thức thì mới đạt được thành quả đích thực, biến kiến thức thành cái của riêng mình.
-
Tạo nên sự so sánh, đối chiếu song song, làm cho lập luận trở nên sinh động, rõ ràng và có sức thuyết phục hơn qua hình ảnh cụ thể, gần gũi (cừu ăn cỏ hóa thành lông, tằm ăn dâu hóa thành tơ).
Câu 4. Vai trò của yếu tố tự sự (cuộc trò chuyện giữa “tôi” với người cha).
Yếu tố tự sự (cuộc trò chuyện giữa “tôi” với người cha) có vai trò:
-
Minh họa, chứng minh cho luận điểm: Khi học tập đã “chín muồi”, đã được tiêu hóa thì không cần cố nhớ mà kiến thức vẫn tự nhiên hiển hiện, đây chính là cấp độ “quên tức là nhớ nhiều rồi đó”, tức là đã đạt đến mức “nhập diệu”.
-
Làm cho lập luận trở nên sinh động, cụ thể, chân thực và thuyết phục hơn, tạo sự đồng cảm, gần gũi với người đọc.
Câu 5. Mục đích của sự học tâm đắc nhất và lí do.
(Học sinh tự chọn mục đích và lí giải, có thể tham khảo một trong các gợi ý dưới đây):
Tôi tâm đắc nhất với mục đích: Học để mưu cầu hạnh phúc, nghĩa là làm cho mình ngày càng mới, càng cao, càng rộng,…
Vì:
-
Đây là mục đích học tập toàn diện và nhân văn nhất, vượt lên trên mục đích vụ lợi hay bằng cấp thông thường.
-
Hạnh phúc là mục đích tối thượng của con người. Sự học giúp bồi đắp giá trị bản thân (mới, cao, rộng), từ đó giúp con người có hiểu biết sâu sắc hơn về thế giới, về bản thân, có khả năng giải quyết vấn đề và sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn, từ đó đạt được sự thanh thản, tự tại và hạnh phúc đích thực.