trình bày nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và rút ra ý nghĩa phương ph…
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu một nguyên lý rất quan trọng trong Triết học Mác-Lênin, đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Nguyên lý này sẽ giúp chúng ta nhìn nhận thế giới một cách sâu sắc và toàn diện hơn.
Chúng ta sẽ lần lượt đi qua các phần sau đây:
I. TRÌNH BÀY NỘI DUNG NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khẳng định rằng: Thế giới vật chất tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc, tác động và chuyển hóa lẫn nhau.
Để hiểu rõ hơn nội dung này, chúng ta cần phân tích các khía cạnh sau:
1. Tính phổ biến của mối liên hệ:
* Khái niệm: Mối liên hệ có mặt ở khắp mọi nơi, trong mọi sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại biệt lập, tách rời.
* Ví dụ:
* Trong tự nhiên: Cây cối cần ánh sáng, nước, không khí để sống và ngược lại, cây cối thải ra oxy, tạo bóng mát. Mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên.
* Trong xã hội: Kinh tế ảnh hưởng đến chính trị, văn hóa. Giáo dục ảnh hưởng đến sự phát triển của con người và xã hội.
* Trong tư duy: Các khái niệm, phạm trù trong tư duy không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ chặt chẽ với nhau (ví dụ: nguyên nhân và kết quả, cái chung và cái riêng).
2. Tính thứ tư của mối liên hệ:
* Khái niệm: Mối liên hệ là sự quy định, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng. Sự vật, hiện tượng này là điều kiện tồn tại, phát triển của sự vật, hiện tượng kia và ngược lại.
* Phân loại mối liên hệ:
* Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài:
* Mối liên hệ bên trong: Là mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng, quy định sự tồn tại và phát triển của bản thân sự vật, hiện tượng đó. (Ví dụ: mối liên hệ giữa các bộ phận trong cơ thể người).
* Mối liên hệ bên ngoài: Là mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác. (Ví dụ: mối liên hệ giữa trường học và gia đình).
* Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản:
* Mối liên hệ cơ bản: Là mối liên hệ mang tính ổn định, phổ biến, quy định bản chất của sự vật, hiện tượng. (Ví dụ: mối liên hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hình thái kinh tế – xã hội).
* Mối liên hệ không cơ bản: Là mối liên hệ tạm thời, ngẫu nhiên, không mang tính quy định bản chất. (Ví dụ: mối liên hệ giữa hai người bạn gặp nhau trên đường).
* Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp:
* Mối liên hệ trực tiếp: Là sự tác động qua lại ngay lập tức giữa các sự vật, hiện tượng. (Ví dụ: hành động của bạn làm ảnh hưởng trực tiếp đến tôi).
* Mối liên hệ gián tiếp: Là sự tác động thông qua một hay nhiều sự vật, hiện tượng trung gian. (Ví dụ: chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến đời sống người dân thông qua các cơ quan chức năng).
3. Tính năng động, biến hóa của mối liên hệ:
* Khái niệm: Mối liên hệ không bao giờ đứng yên mà luôn vận động, biến đổi, thay đổi về chất và hình thức. Sự vật, hiện tượng này có thể từ chỗ không liên hệ trở thành có liên hệ, từ chỗ có liên hệ trở thành không liên hệ, hoặc từ chỗ liên hệ với sự vật, hiện tượng này lại chuyển sang liên hệ với sự vật, hiện tượng khác.
* Ví dụ: Mối quan hệ giữa con người và công nghệ. Ban đầu, công nghệ là công cụ hỗ trợ, sau đó trở thành một phần không thể thiếu, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống, thậm chí có khả năng thay thế một số chức năng của con người.
II. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
Từ nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, chúng ta có thể rút ra những ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong việc nhận thức và cải tạo thế giới:
1. Tránh nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách cô lập, biệt lập:
* Nghĩa là: Khi xem xét một sự vật, hiện tượng nào đó, chúng ta không được chỉ nhìn vào bản thân nó mà phải đặt nó trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác.
* Cách vận dụng:
* Phân tích một vấn đề cần xem xét các yếu tố bên trong và các mối quan hệ bên ngoài của nó.
* Trong học tập, khi tìm hiểu một kiến thức, cần liên hệ với các kiến thức đã học, với thực tiễn cuộc sống để hiểu sâu sắc và nhớ lâu hơn.
* Trong giải quyết công việc, cần xem xét mọi khía cạnh, mọi mối liên hệ có thể có.
2. Nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong sự vận động, biến đổi và phát triển:
* Nghĩa là: Chúng ta cần nhận thức rằng mọi sự vật, hiện tượng đều không ngừng vận động, biến đổi và có những mối liên hệ luôn thay đổi.
* Cách vận dụng:
* Không nên giữ khư khư quan điểm cũ, lạc hậu mà phải luôn cập nhật, bổ sung kiến thức mới.
* Trong cuộc sống, cần linh hoạt, thích ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh, của con người.
* Khi đánh giá một vấn đề, cần nhìn vào xu hướng phát triển của nó, không chỉ nhìn vào hiện tại.
3. Nắm vững mối liên hệ cơ bản, bên trong để hiểu bản chất sự vật:
* Nghĩa là: Trong vô vàn mối liên hệ, có những mối liên hệ giữ vai trò quyết định bản chất của sự vật, hiện tượng. Chúng ta cần phải nhận diện và ưu tiên phân tích những mối liên hệ này.
* Cách vận dụng:
* Khi nghiên cứu, học tập, cần tập trung vào những kiến thức cốt lõi, những nguyên lý cơ bản.
* Trong công tác, cần xác định đúng nguyên nhân gốc rễ của vấn đề để có giải pháp hiệu quả.
* Tránh sa đà vào những mối liên hệ thứ yếu, không quan trọng làm phân tán lực lượng và thời gian.
4. Nhận thức được tính hai mặt của mối liên hệ:
* Nghĩa là: Mỗi mối liên hệ đều có thể biểu hiện ra dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực, có lợi hoặc có hại.
* Cách vận dụng:
* Trong cuộc sống, khi thiết lập các mối quan hệ, cần cân nhắc kỹ lưỡng, lựa chọn những mối quan hệ lành mạnh, tích cực.
* Khi xem xét một vấn đề, cần nhìn nhận cả mặt được và mặt chưa được, cả ưu điểm và nhược điểm.
* Phê phán những mối liên hệ tiêu cực, gây hại và phát huy những mối liên hệ tích cực, xây dựng.
Tóm lại, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi chúng ta phải có một cái nhìn biện chứng, toàn diện về thế giới. Nó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của chúng ta.
Các em về nhà ôn tập lại nội dung này và chuẩn bị cho bài tập tiếp theo nhé. Có câu hỏi nào không? Nếu không, chúng ta kết thúc tiết học tại đây. Chúc các em học tốt!
1. Nội dung
Thế giới được tạo thành từ vô số những sự vật, những hiện tượng, những quá trình khác nhau Trong lịch sử triết học những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại cô lập, tách rời nhau. Với quan điểm siêu hình giữa các sự vật, hiện tượng không có mối liên hệ, ràng buộc quy định nhau. Khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại, phép biện chứng duy vật thừa nhận mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng trong thế giới. Theo phép biện chứng duy vật, nguyên lý mối liên hệ phổ biến là sự khái quát các mối liên hệ, tác động, ràng buộc, quy định, xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng và các quá trình trong thế giới. Theo cách tiếp cận đó, phép biện chứng duy vật chỉ ra rằng: mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến cùng ràng buộc, chi phối lẫn nhau, vận động và biến đổi không ngừng. Trong thế giới không có sự vật, hiện tượng tồn tại cô lập, biệt lập nhau. Phép biện chứng duy vật khẳng định cơ sở của mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới. Các sự vật, hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng và rất khác nhau, thì cũng chỉ là những dạng tồn tại cụ thể của một thế giới duy nhất là vật chất. Ý thức của con người không phải là vật chất nhưng không thể tồn tại biệt lập với vật chất bởi vì ý thức cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người; hơn nữa nội dung của ý thức cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất. Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng, các quá trình mà còn khẳng định tính đa dạng của sự liên hệ; bởi thế giới là một chỉnh thể với vô vàn các sự vật, hiện tượng khác nhau, chúng không ngừng vận động và phát triển một cách đa dạng. Có mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ bên trong, có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu; có mối liên hệ chung bao quát một số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng biệt của hiện thực. Có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp. Có mối liên hệ bản chất và có mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất nhiên, có mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ giữa các sự vật, có mối liên hệ giữa các mặt của mỗi sự vật. Phân loại các mối liên hệ là cần thiết bởi vì mỗi loại liên hệ có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của các sự vật. Sự phân loại còn là cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu của phép biện chứng duy vật và của các ngành khoa học cụ thể. Tuy nhiên, việc phân loại liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối vì mỗi loại liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, mỗi mắt khâu của mối liên hệ chung của toàn bộ thế giới. Đây là cơ sở khoa học không chỉ để phân ngành các khoa học mà còn là cơ sở để hình thành các khoa học liên ngành.
* Ý nghĩa
– Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, đa dạng, do đó muốn nhận thức đúng và từ đó có phương pháp tác động có hiệu quả vào mỗi sự vật phải có quan điểm toàn diện. Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải xem xét đầy đủ các mối liên hệ của sự vật đó với các sự vật khác; liên hệ trực tiếp và cả mối liên hệ gián tiếp; đồng thời xem xét các mối liên hệ giữa các yếu tố, thuộc tính bên trong của sự vật. V.I. Lênin viết: “ Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”.
– Quan điểm toàn diện bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể: phải nhận thức đầy đủ các mối liên hệ của sự vật, nắm được bản chất bên trong, trực tiếp, đồng thời phải nhận thức được không gian, thời gian, điều kiện cụ thể của sự vật tồn tại và xuất hiện các mối liên hệ, trên cơ sở đó mới nắm bắt được xu hướng biến đổi của sự vật. Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, là cách xem xét từng mặt, từng mối liên hệ tách rời nhau, không thấy được mối liên hệ nhiều vẻ đa dạng của sự vật. Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn, V.I. Lênin đã nêu lên tư tưởng về sự kết hợp chặt chẽ giữa “Chính sách dàn đều ” và “Chính sách có trọng điểm” trong “chính sách kinh tế mới”.
– Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã nêu lên quan điểm đổi mới toàn diện và bắt đầu từ đổi mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội, đối ngoại. Đồng thời Đảng cũng tập trung vào nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục cuộc khủng hoảng về kinh tế- xã hội, tạo tiền đề vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta.
Phép biến chứng di vật có vai trò làm sáng tỏ những quy luật của liên hệ và phát triển của tự nhiên, xã hội loài ng. Vì vậy ở bất kỳ cấp độ phát triển nào của phép biến chứng di vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vẫn đc xem là 1 trog những nguyên lý có ý nghĩa khái quát nhất.
*Nguyên lý là những luận điểm cơ bản nhất, những luật điểm xuất phát của 1 hệ thống tri thức khoa học nhất định
*Khái nieem liên hệ phổ biến
-Quan điểm siêu hình về mối liên hệ: cho rằng sự vật hiện tượng tồn tại độc lập tách biệt vs nhau, giữa chúng ko có sự liên hệ ( nếu thừa nhận có sự liên hệ thì đó chỉ là liên hệ bề ngoài, thụ động, 1 chiều ) giữa các hình thức liên hệ ko có sự chuyển hóa lẫn nhau
-Định nghĩa: Liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt trog 1 sự vật hiện tượng
*Tính chất của mối liên hệ phổ biến:
-Mối liên hệ mang tính phổ biến: có rất nhìu những mối liên hệ khác nhau của rất nhiều sự vật hiện tượng khá nhau xog chung quy lại đều đc hiểu đó là tồn tại trog mối liên hệ phổ biến, ko có sự vật hiện tượng nào là ko tồn tại trog liên hệ vs các sự vật hiện tượng khác
-Mối liên hệ mang tính đa dạng và nhiều vẻ:Thể giới vật chất có muôn vàn các sự vật hiện tượng khác nhau do vạy mối liên hệ của chúng vs các sự vật hiện tượng cx rất đa dạng
Từ nội dung mối liên hệ phổ biến ta rút ra phương pháp luận sau: trog hoạt động thực tiễn, ở các lĩnh vực khác nhau ta phải xây dựng cho đc quan điểm xem xét đánh giá sự vật hiện tượng là phải khách quan, phải có quan điểm toàn diện và có qua điểm lịch sử cụ thể
-Xem xét đánh giá khách quan nghĩa là bản thân các sự vật hiện tượng ntn thì ta phản ứng đúng như vậy, ko đc thêm bớt 1 cách chủ quan tùy tiện, xuyên tạc thật sự
-Quan điểm xem xét toàn diện nghĩa là phải xem xét tất cả các mối liên hệ của sự vật hiện tượng để hiểu đúng bản chất của nó, tránh cách xem xét đánh giá phiếm diện
CHÚC BẠN HỌC TỐT!