Trong bài thơ Việt Bắc, nhà thơ Tố Hữu hai lần miêu tả cảnh quân dân ta đánh Tây…
Việt Bắc buổi đầu kháng chiến được miêu tả:
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”
Và Việt Bắc trong những ngày ra trận:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm tập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan”
Phân tích hình ảnh quân dân ta đánh Tây trong hai đoạn thơ trên, từ đó làm nổi bật sự thay đổi của đoàn quân Việt Bắc.
Chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc đọc kỹ hai đoạn thơ được trích dẫn:
Đoạn 1: Miêu tả Việt Bắc buổi đầu kháng chiến
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”
Đoạn 2: Miêu tả Việt Bắc trong những ngày ra trận
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm tập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan”
Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào phân tích chi tiết từng đoạn thơ nhé.
Bước 1: Phân tích hình ảnh quân dân ta đánh Tây trong đoạn thơ thứ nhất.
Chúng ta hãy chú ý vào những từ ngữ, hình ảnh mà Tố Hữu đã sử dụng:
– “Nhớ khi giặc đến giặc lùng”: Câu thơ mở đầu gợi lên một không khí khẩn trương, cấp bách. “Giặc lùng” cho thấy sự bao vây, đàn áp gắt gao của kẻ thù. Đây là bối cảnh của buổi đầu kháng chiến, khi quân ta còn yếu, địch mạnh.
– “Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”: Hình ảnh “rừng cây núi đá” không chỉ là khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng của Việt Bắc mà còn là đồng minh, là chiến lũy của quân dân ta. Sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên “ta cùng đánh Tây” cho thấy sức mạnh tổng hợp, lòng yêu nước sục sôi, quyết tâm đánh giặc của toàn dân.
– “Núi giăng thành lũy sắt dày”: Phép nhân hóa “núi giăng thành lũy sắt dày” biến những dãy núi cao, hiểm trở thành một bức tường thành vững chắc, kiên cố, không thể xuyên thủng. Điều này cho thấy sự hiểm trở, khó khăn trong việc tiến quân của địch và sự kiên cường, bất khuất của quân dân ta.
– “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”: Thiên nhiên Việt Bắc lúc này trở thành một “người bạn” trung thành của bộ đội. “Rừng che bộ đội” là sự bảo vệ, ẩn náu, giúp bộ đội an toàn trong chiến đấu. Ngược lại, “rừng vây quân thù” thể hiện sự chủ động, linh hoạt của ta trong việc sử dụng địa hình để bao vây, làm địch hoang mang, khó khăn.
Qua đoạn thơ này, chúng ta thấy hình ảnh quân dân ta đánh Tây hiện lên với tư thế phòng ngự, dựa vào thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm chỗ dựa, làm vũ khí. Đó là hình ảnh của một cuộc chiến đấu còn nhiều gian khổ, nhưng đầy tinh thần yêu nước, đoàn kết và ý chí quật cường.
Bước 2: Phân tích hình ảnh quân dân ta đánh Tây trong đoạn thơ thứ hai.
Tiếp theo, chúng ta sẽ phân tích đoạn thơ thứ hai, tập trung vào những từ ngữ, hình ảnh thể hiện sự thay đổi trong cách đánh và quy mô của cuộc kháng chiến:
– “Những đường Việt Bắc của ta”: Câu thơ khẳng định chủ quyền, sự quen thuộc và gắn bó với những con đường, nẻo đất của Việt Bắc. Những con đường này không còn là của riêng ai mà là của cả dân tộc, của cuộc kháng chiến.
– “Đêm đêm rầm tập như là đất rung”: Hình ảnh “đêm đêm rầm tập” cho thấy sự tập luyện quy mô lớn, bài bản và liên tục. Âm thanh “rầm tập như là đất rung” gợi lên một sức mạnh tiềm tàng, một sự chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng cho những trận đánh lớn. Điều này hoàn toàn khác với hình ảnh “ta cùng đánh Tây” mang tính cá thể, lẻ tẻ của đoạn thơ trước.
– “Quân đi điệp điệp trùng trùng”: Từ láy “điệp điệp trùng trùng” diễn tả bước chân hành quân của đoàn quân ta với số lượng đông đảo, nhịp nhàng, nối tiếp nhau không ngừng. Đây là hình ảnh của một đội quân chính quy, có tổ chức, sẵn sàng tiến công và giải phóng.
– “Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan”: “Ánh sao đầu súng” là một hình ảnh đẹp, lãng mạn nhưng cũng đầy ẩn ý. Ánh sao mờ ảo, lung linh nhưng soi đường cho “đầu súng” – biểu tượng của chiến tranh, của hành động. Điều này cho thấy dù trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, đoàn quân ta vẫn giữ được vẻ đẹp tâm hồn, vẫn mang trong mình lý tưởng cao đẹp. “Bạn cùng mũ nan” là hình ảnh gần gũi, chân chất của người lính cụ Hồ, giản dị nhưng kiên cường. “Mũ nan” là biểu tượng của sự thiếu thốn, gian khổ, nhưng đó là những người lính đã sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.
Đoạn thơ thứ hai vẽ nên hình ảnh một đoàn quân Việt Bắc hùng mạnh, chính quy, sẵn sàng cho những trận ra quân lớn. Sự thay đổi từ thế phòng ngự dựa vào thiên nhiên sang thế chủ động tiến công, với quy mô lớn và sự chuẩn bị chu đáo đã được Tố Hữu khắc họa một cách tài tình.
Bước 3: Nêu bật sự thay đổi của đoàn quân Việt Bắc.
Sau khi phân tích hai đoạn thơ, chúng ta có thể thấy rõ sự thay đổi của đoàn quân Việt Bắc qua hai giai đoạn của cuộc kháng chiến:
– Giai đoạn đầu: Đoàn quân còn nhỏ, yếu, thiếu thốn, chủ yếu dựa vào địa hình hiểm trở của Việt Bắc để phòng ngự, đánh du kích. Sức mạnh của đoàn quân lúc này là sức mạnh của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết toàn dân và sự hòa quyện với thiên nhiên. Hình ảnh “ta cùng đánh Tây”, “núi giăng thành lũy sắt dày”, “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thể hiện rõ điều này.
– Giai đoạn sau: Đoàn quân đã lớn mạnh, chính quy, có tổ chức, sẵn sàng cho những trận đánh lớn. Sức mạnh của đoàn quân lúc này là sức mạnh của sự tập luyện bài bản, quy mô lớn, tinh thần chiến đấu cao và ý chí quyết tâm giải phóng quê hương. Hình ảnh “đêm đêm rầm tập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” minh chứng cho sự trưởng thành vượt bậc này.
Sự thay đổi này không chỉ là sự thay đổi về quy mô, về trang bị mà còn là sự thay đổi về tư thế, về tầm vóc của đoàn quân Việt Bắc. Từ chỗ là những người dân kháng chiến đơn lẻ, nay đã trở thành một đội quân hùng mạnh, sẵn sàng đương đầu với kẻ thù hùng mạnh.
Bước 4: Đánh giá về nghệ thuật.
Tố Hữu đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật đặc sắc để làm nổi bật sự thay đổi của đoàn quân Việt Bắc:
– Nghệ thuật đối lập: Tác giả đã khéo léo đặt hai giai đoạn trong một bài thơ để làm nổi bật sự khác biệt, sự tiến bộ của đoàn quân.
– Ngôn ngữ giàu hình ảnh, âm thanh: Những từ ngữ như “lùng”, “rầm tập”, “điệp điệp trùng trùng”, “đất rung” tạo nên những bức tranh sống động, những âm thanh vang vọng, gợi cảm.
– Phép nhân hóa, ẩn dụ: “Núi giăng thành lũy sắt dày”, “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, “ánh sao đầu súng” mang lại chiều sâu ý nghĩa, sức gợi lớn.
Kết luận:
Qua hai đoạn thơ, Tố Hữu đã khắc họa thành công hình ảnh đoàn quân Việt Bắc với những chặng đường trưởng thành, lớn mạnh. Từ những người dân yêu nước, dựa vào thiên nhiên để kháng chiến, đến một đội quân hùng mạnh, sẵn sàng tiến công giải phóng. Sự thay đổi này là minh chứng cho sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do.
Các em về nhà ôn tập lại kiến thức này và chuẩn bị cho những câu hỏi tiếp theo nhé! Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, đừng ngần ngại hỏi cô.
** Em tham khảo dàn ý và bài viết dưới đây nhé **
A. Mở bài
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm
– Dẫn dắt vấn đề
B. Thân bài
1. Phân tích hình ảnh đoàn quân Việt Bắc đánh Tây qua hai đoạn thơ
– Đoàn quân Việt Bắc đánh Tây trong thế bị động giặc đến giặc lùng (đoạn thơ đầu)
+ Chiến khu Việt Bắc là căn cứ vững chắc, đầy nguy hiểm đối với quân thù.
+ Sức mạnh tổng hợp của thiên nhiên (địa lợi) và con người, tài trí của bộ đội ta.
+ Nghệ thuật: thể thơ lục bát, so sánh, nhân hóa, liệt kê những địa danh .
– Đoàn quân Việt Bắc chủ động tiến công đánh Tây (Đoạn thơ sau)
+ Con đường ra trận hào hùng, đầy khí thế
+ Đoàn quân ra trận đông đảo với ý chí quyết tâm cao
+ Nghệ thuật: so sánh, thậm xưng, hình ảnh thơ hoành tráng, chất sử thi ..
2. Nhận xét và lí giải sự thay đổi của đoàn quân Việt Bắc
– Đây là sự thay đổi tích cực, tiến bộ
+ Đoạn thơ thứ nhất, kháng chiến buổi đầu, nương náu nơi núi, rừng, bị giặc vây, giặc lùng … đầy khó khăn, nguy hiểm
+ Đoạn thơ thứ hai, kháng khiến lớn mạnh, ta chủ động về thế về lực lượng tiến công
→ kháng chiến chuyển từ thế bị động sang thế chủ động,
– Sự thay đổi này khẳng định lực lượng cách mạng, quân đội nhân dân Việt Nam lớn mạnh, trưởng thành từng ngày
– Sự thay đổi là niềm vui, tự hào về lực lượng kháng chiến và là bản hùng ca kháng chiến
C.Kết bài
– Đánh giá chung
– Suy nghĩ của bản thân
* Bài viết tham khảo
I. Mở bài: – giới thiệu hai đoạn thơ, hai tác giả.
– dẫn dắt vấn đề cần bàn luận.
II. Thân bài :
1. Phân tích hình ảnh quân dân ta đánh tây trong đoạn Việt Bắc buổi đầu kháng chiến.
a. Nội đứng
– Quân dân trong sự đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau.
– sức mạnh thiên nhiên hòa hợp với sức mạnh quân dân.
b. Nghệ thuật.
– nhân hoá : ” núi giăng ” -> ….
– đối : rừng che >< rừng vây ....
2. Phân tích hình ảnh quân dân đánh tây ở Việt Bắc trong những ngày ra trận.
Câu thơ Những đường Việt Bắc của ta vang lên khỏe khoắn, hùng tráng, chứa chan niềm tự hào kiêu hãnh. Trăng ngả, trăng đường hướng về Việt Bắc, trăm nẻo đường từ Việt Bắc tỏa đi muôn nơi đều là “của ta”: Hai tiếng của ta giản dị mà vô cùng thiêng liêng. Chúng thể hiện rõ ý thức làm chủ của người kháng chiến đất nước mình cũng như niềm tự hào về sự bất khả xâm phạm của vùng căn cứ. Có sống trong những ngày kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ khó khăn, ta mới thấm thía niềm tự hào kiêu hãnh chống Pháp gian khổ khó khăn. Sau bao ngà tháng trong tình thế ngặt nghèo, phải phòng thủ ta đã vươn lên dành thế chủ động trong mọi mặt trận. Những con đường từng bị giặc chiếm đóng nay đã là của ta. Hình ảnh thơ Đêm đêm rầm rập như là đất rung đặc tả sự lớn mạnh nhanh chóng, vượt bậc và khí thế ra trận hào húng, ngất trời của đoàn quân và dân ta. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại chọn thời điểm ban đêm. Trong cuộc sống, đêm là lúc yên bình, tĩnh mịch, vạn vật đã chìm vào giấc ngủ say nông nhưng trong kháng chiến, đêm thường là điểm khởi đầu của những hoạt động, chiến dịch chuẩn bị cho ngày mai thắng lợi. Trong màn đêm bao la bao phủ, trùm khắm, đoàn quân của ta ra trận rầm rập như vũ bão khiến đất rung, trời lờ. Với những từ láy rắn rỏi, hình ảnh so sánh, phóng đại, nhịp thơ đanh, chắc kết hợp với những phụ âm rung, câu thơ bật lên âm hưởng khỏe khoắn hùng tráng góp phần tái hiện sống động cuộc diễu binh hùng vĩ. Có thể nói, tinh thần chiến đấu quả cảm, khí thế ra trận hào hùng của cha ông trong suốit bồn nghìn năm dựng nước, giữ nước đã sống dậy trong ngày tháng ra trận.
Chúng ta từng tự hào trước các tráng sĩ thời Trần mang tinh thần Sát Thát, về nghĩa quân Lam Sơn với sức mạnh Đánh một trận sạch không kình ngạc – Đánh hai trận tan tác chim muông. Và cho đến bây giờ, chúng ta lại càng tự hào về cuộc kháng chiến thần thánh của thời đại cách mạng:
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sáo đầu súng, bạn cùng mũ nan
Các từ tượng thanh và các từ tượng hình như rầm rập, điệp điệp, trùng trùng được sử dụng một cách tài tình, diễn rả chính xác khí thế tự tin, hồ hởi bao trùm cả dòng người đang ra trận với sức mạnh như dòng thác tuôn trào, không gì có thể cản bước nổi quân ta. Hình ảnh thơ ánh sao đầu súng đậm chất lãng mạn. Nơi đầu súng của người lính cụ Hồ người sánh ánh sao lí tưởng cách mạng, hòa bình của niềm tin chiến thắng. Hình ảnh ánh sao đầu súng gợi liên tƣởng đến hình ảnh đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu. Chỉ bằng một hình ảnh thơ, Tố Hữu đã tạc khắc chân dung của đoàn quân chủ lực bình dị mà cao cả.
3. So sánh:
a. Giống :
– Đều thể hiện sự đấu tranh mong muốn giành lại độc lập hoà bình cho dân tộc của quân và dân. khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam.
– đều bộc lộ sự đoàn kết gắn bó giữa quân và dân.
b. Khác nhau.
– Đ1: sự hòa hợp giữa quân dân và thiên nhiên.
– Đ2: sức mạnh của quân và dân làm rung chuyển đất trời.
4. Đánh giá, mở rộng.
III. Kết bài. Cảm nhận chung