Vì sao nói cách mạng tháng 8 diễn ra 15 ngày nhưng đã được chuẩn bị 15 năm?
Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau “giải mã” một câu nói rất nổi tiếng, một nhận định sâu sắc về Cách mạng tháng Tám năm 1945 của nước ta: “Cách mạng tháng Tám diễn ra 15 ngày nhưng đã được chuẩn bị 15 năm”. Đây là một câu nói cô đọng nhưng chứa đựng rất nhiều ý nghĩa lịch sử mà chúng ta cần phải hiểu rõ để thấy được tầm vĩ đại của cuộc cách mạng này.
Để hiểu được nhận định này, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích từng vế một nhé!
I. Vì sao nói Cách mạng tháng Tám “diễn ra trong 15 ngày”?
“15 ngày” ở đây muốn nói đến khoảng thời gian diễn ra cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền một cách thần tốc trên phạm vi cả nước. Cụ thể, đó là từ ngày 14 tháng 8 đến ngày 28 tháng 8 năm 1945.
- Sự kiện châm ngòi: Đầu tháng 8 năm 1945, tình hình thế giới có những chuyển biến cực kỳ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Phát xít Nhật – kẻ thù trực tiếp của chúng ta lúc bấy giờ, đã đầu hàng Đồng minh vô điều kiện sau khi Liên Xô tuyên chiến và tấn công đạo quân Quan Đông của Nhật, cùng với việc Mĩ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki.
- Cơ hội “ngàn năm có một”: Lúc này, chính quyền Nhật ở Đông Dương hoang mang, tan rã, còn quân Đồng minh thì chưa kịp đổ bộ vào Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Tình thế “một cổ hai tròng” của nhân dân ta đã chấm dứt, tạo ra một khoảng trống quyền lực quý giá.
-
Tổng khởi nghĩa bùng nổ:
- Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trên cả nước.
- Ngày 16 tháng 8, Đại hội Quốc dân Tân Trào thông qua “Lệnh Tổng khởi nghĩa”, hiệu triệu toàn dân đứng lên giành chính quyền.
- Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã nhất tề đứng lên.
- Chỉ trong vòng 15 ngày (từ 14 đến 28/8/1945), với tinh thần quyết tâm cao độ, các địa phương trên cả nước đã lần lượt nổi dậy giành chính quyền: Hà Nội (19/8), Huế (23/8), Sài Gòn (25/8) và các tỉnh khác.
- Kết quả: Cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng, ít đổ máu, và đã thành công hoàn toàn, lật đổ ách thống trị của Nhật và phong kiến, đưa dân tộc Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới.
Chính vì tốc độ nhanh như vũ bão, sự đồng loạt, mạnh mẽ và thắng lợi triệt để chỉ trong một thời gian ngắn như vậy, người ta mới nói Cách mạng tháng Tám “diễn ra trong 15 ngày”.
II. Vì sao nói Cách mạng tháng Tám “đã được chuẩn bị 15 năm”?
Nếu “15 ngày” là kết quả, thì “15 năm” chính là quá trình chuẩn bị bền bỉ, công phu, là nền tảng vững chắc để tạo nên thắng lợi vang dội đó. 15 năm này được tính từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (tháng 2 năm 1930) đến khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ (tháng 8 năm 1945). Trong suốt 15 năm đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành nhiều hoạt động chuẩn bị trên mọi mặt:
1. Chuẩn bị về đường lối chính trị và tư tưởng (1930 – 1935):
- Sự ra đời của Đảng: Tháng 2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước. Đảng đã đưa ra Cương lĩnh chính trị đầu tiên đúng đắn, xác định con đường cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
- Các phong trào cách mạng đầu tiên: Đảng đã lãnh đạo cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh. Mặc dù bị đàn áp, nhưng các phong trào này đã khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng, chứng tỏ sức mạnh và tinh thần đấu tranh của quần chúng, đồng thời là cuộc tập dượt đầu tiên cho Cách mạng tháng Tám.
2. Chuẩn bị về lực lượng chính trị quần chúng (1936 – 1939):
- Xây dựng Mặt trận Dân chủ Đông Dương: Trước tình hình chủ nghĩa phát xít đang lớn mạnh, Đảng ta đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo, xây dựng Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Trong giai đoạn này, Đảng tập trung đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống phát xít, chống chiến tranh.
- Mở rộng ảnh hưởng: Qua các cuộc đấu tranh công khai, bán công khai (như Đông Dương Đại hội), Đảng đã tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ trương của Đảng, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân (công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức…) tham gia vào phong trào cách mạng. Đây là giai đoạn quan trọng để tập hợp lực lượng chính trị đông đảo cho Cách mạng tháng Tám.
3. Chuẩn bị về lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng (1939 – 1945):
- Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược: Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939), Đảng ta nhận định vấn đề giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng này, nhấn mạnh mục tiêu giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận Việt Minh.
- Xây dựng Mặt trận Việt Minh: Mặt trận Việt Minh (Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) được thành lập năm 1941, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân yêu nước dưới ngọn cờ giải phóng dân tộc. Đây là hình thức tổ chức chính trị cao nhất, hiệu quả nhất để tập hợp toàn dân.
-
Xây dựng lực lượng vũ trang:
- Từ các đội du kích nhỏ lẻ ban đầu, Đảng đã từng bước xây dựng các đội vũ trang tập trung. Tiêu biểu là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy.
- Các cuộc khởi nghĩa cục bộ như Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương (dù thất bại) là những cuộc tập dượt vũ trang quý giá, giúp Đảng và nhân dân rút ra nhiều kinh nghiệm.
- Xây dựng căn cứ địa cách mạng: Việt Bắc (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn) được chọn làm căn cứ địa vững chắc. Đây là nơi nuôi dưỡng, huấn luyện cán bộ, xây dựng lực lượng vũ trang, và là đầu não chỉ đạo cách mạng cả nước.
- Chuẩn bị về thời cơ: Đảng và Bác Hồ luôn theo dõi sát sao tình hình quốc tế và trong nước để chớp lấy thời cơ. Đặc biệt là Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (tháng 3/1945) đã vạch ra kế hoạch hành động cụ thể để giành chính quyền ngay khi thời cơ chín muồi.
III. Kết luận
Như vậy, các em có thể thấy rõ, “15 ngày” của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám không phải là một sự ngẫu nhiên, hay một may mắn đơn thuần, mà chính là kết quả tất yếu, là sự bùng nổ của “15 năm” chuẩn bị kiên trì, bền bỉ, khôn khéo và sáng tạo của Đảng và nhân dân ta.
Chính nhờ có sự chuẩn bị chu đáo về đường lối chính trị, tư tưởng, lực lượng quần chúng, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng trong suốt 15 năm, cùng với việc chớp đúng thời cơ “ngàn năm có một”, Cách mạng tháng Tám mới có thể giành thắng lợi vang dội trong thời gian rất ngắn, đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do. Điều này khẳng định tầm vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lịch sử dân tộc.
Cô hy vọng qua bài giảng này, các em đã hiểu rõ hơn về ý nghĩa sâu sắc của câu nói trên. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, đừng ngần ngại hỏi cô nhé!
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là thành quả tiếp nối của 15 năm đấu tranh chuẩn bị lực lượng cách mạng của Đảng.
1. Sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên
+ Năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2) và thông qua Cương lĩnh vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng – bản cương lĩnh đầu tiên của Đảng…
+ Đảng ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kì khủng hoảng lãnh đạo cách mạng…Đảng trở thành người duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn. Sự ra đời của Đảng là sự chuẩn bị nhân tố tất yếu đầu tiên cho thời kì vùng dậy oanh liệt nhất và bước nhảy vọt vĩ đại nhất trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam.
2. Cuộc tổng diễn tập cách mạng đầu tiên…
– Cao trào cách mạng 1930-1931 dưới sự lãnh đạo của Đảng đã diễn ra mạng mẽ trong toàn quốc mà đỉnh cao là Xô-viết Nghệ – Tĩnh…
– Cao trào cách mạng 1930-1931 đã:
+ Khẳng định đường lối cách mạng của Đảng là đúng đắn, khẳng định trong thực tiễn năng lưc cách mạng của giai cấp công nhân và quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân.
+ Đã hình thành trong thực tiễn khối liên minh công nông, nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng; chứng tỏ nghị lực cách mạng phi thường và sức mạnh phi thường và sức mạnh của khối liên minh công nông, của quần chúng cách mạng do Đảng lãnh đạo.
+ Đảng và quần chúng cách mạng đã được tôi luyện và trưởng thành, tích luỹ được kinh nghiệm trong đấu tranh, chuẩn bị cho nhứng cuộc chiến đấu tiếp theo.
+ Cao trào cách mạng 1930-1931 là một bước thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với tiến trình phát triển về sau của cách mạng, một cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám.
3. Cao trào dân chủ 1976-1977.
+ Trước sự thay đổi tình hình quốc tế và trong nước, Đảng phát động một cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng đòi hỏi các quyền tự do dân chủ cơm áo và hoà bình, chống chiến tranh, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai – Cao trào đấu tranh dân chủ diễn ra sâu rộng với nhiều hình thức đấu tranh phong phú…
+ Cao trào đó đã:
– Giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác — Lê-nin, đường lối chủ trương cách mạng của Đảng trong nhân dân, nâng cao uy tín và ảnh hưởng của Đảng Cộng sản, hướng quần chúng đi theo ngọn cờ cách mạng của Đảng.
– Hình thành một đạo quân chính trị quần chúng rộng lớn khắp trong toàn quốc với nhiều hình thức tổ chức thích hợp.
– Tiếp tục rèn luyện Đảng và quần chúng trong thực tiễn cách mạng, tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm mới.
+ Cao trào Cách mạng 1936-1939 thực sự đã chuẩn bị cho những trận chiến đấu quyết liệt mới trong thời kì 1939-1945, mà là đỉnh cao là Cách mạng tháng Tám.
4. Công cuộc chuẩn bị trực tiếp cho Cách mạng tháng Tám.
+ Sự chuyển hướng về chiến lược và sách lược của Đảng qua các Hội nghị lần thứ 6, lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Nội dung:
– Nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
– Mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.
– Nêu khẩu hiệu lập Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà
– Tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi đó là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân, đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa khi có thời cơ.
+ Chuẩn bị lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang…
– Phát triển lực lượng chính trị quần chúng, mở rộng các tổ chức cứu quốc và Việt Minh; đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng ở cả nông thôn và đô thị.
– Duy trì đội du kích Bắc Sơn, thành lập các đội cứu quốc quân, lập ra Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Bắc Sơn – Vũ Nhai và Cao Bằng; thực hiện chủ trương “sửa soạn khởi nghĩa”, và “sắm vũ khí đuổi thù chung”.
+ Phát động cao trào Kháng Nhật, cứu nước rộng rãi, khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ, chuẩn bị thực lực để chuyển sang tổng khởi nghĩa.
5. Qua 15 năm chuẩn bị và tích luỹ lực lượng, trực tiếp là thời kì 1939-1945 đã tạo nên một lực lượng cách mạng hùng hậu bao gồm cả lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang, tạo lực và thế cách mạng ở cả vùng nông thôn và đô thị, đón và chớp thời cơ để tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi tháng Tám năm 1945.
Chúc bạn học tốt :3