Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Viết cơ chế hình thành thể bốn và thể không?

Viết cơ chế hình thành thể bốn và thể không?

Viết cơ chế hình thành thể bốn và thể không?
Hỏi bởi: Minh Kha
3 câu trả lời
▲ 8
Chào các em học sinh thân mến! Hôm nay, cô sẽ cùng các em đi sâu vào tìm hiểu một khái niệm rất quan trọng trong di truyền học, đó là cơ chế hình thành thể bốn và thể không. Chúng ta sẽ bám sát kiến thức trong sách giáo khoa Sinh học lớp 9 để giải quyết vấn đề này một cách chi tiết và dễ hiểu nhất nhé.

Trước hết, các em cần nhớ lại khái niệm về bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội (2n). Đây là bộ nhiễm sắc thể đặc trưng của loài, trong đó mỗi loại nhiễm sắc thể tồn tại thành cặp tương đồng.

Bây giờ, chúng ta sẽ lần lượt đi vào cơ chế hình thành thể bốn và thể không.

1. Cơ chế hình thành thể bốn (Tứ bội – 4n)

Thể bốn là những cơ thể mà trong tế bào sinh dưỡng của chúng, bộ nhiễm sắc thể đã tăng lên gấp đôi so với bộ lưỡng bội bình thường của loài. Nghĩa là, thay vì có 2n nhiễm sắc thể, thể bốn sẽ có 4n nhiễm sắc thể.

Cơ chế hình thành thể bốn chủ yếu diễn ra do sự rối loạn trong quá trình phân bào, cụ thể là sự không phân li của tất cả các cặp nhiễm sắc thể tương đồng trong nguyên phân hoặc giảm phân.

Chúng ta hãy xem xét các bước chính:

Bước 1: Sự thụ tinh.
Thông thường, giao tử đực (nhiễm sắc thể n) kết hợp với giao tử cái (nhiễm sắc thể n) sẽ tạo thành hợp tử lưỡng bội (2n).

Bước 2: Rối loạn nguyên phân ở hợp tử hoặc thể đột biến.
* Trong quá trình nguyên phân của hợp tử (2n) hoặc một cá thể đã có đột biến thể đa bội, thoi phân bào không hình thành hoặc bị phá vỡ. Điều này dẫn đến việc tất cả các nhiễm sắc thể nhân đôi lên (thành 4n) nhưng không phân li về hai cực của tế bào.
* Kết quả là tế bào con sinh ra sẽ mang bộ nhiễm sắc thể gấp đôi bộ nhiễm sắc thể ban đầu. Nếu ban đầu là hợp tử 2n, sau khi nguyên phân không phân li, tế bào sẽ trở thành 4n.
* Nếu cơ thể ban đầu là 2n, và có một số tế bào trải qua quá trình này, nó sẽ tạo ra một thể khảm (mosaics), trong đó có cả tế bào 2n và tế bào 4n. Tuy nhiên, để hình thành một cơ thể tứ bội thực sự (4n), sự rối loạn này cần xảy ra sớm ở giai đoạn phát triển phôi.

Bước 3: Sự gia tăng số bộ nhiễm sắc thể.
Khi bộ nhiễm sắc thể trong tế bào tăng lên gấp đôi, từ 2n lên 4n, cá thể đó được gọi là thể bốn.

Ví dụ minh họa:
Giả sử một loài thực vật có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 10.
Khi xảy ra hiện tượng không phân li của tất cả các cặp nhiễm sắc thể trong nguyên phân, bộ nhiễm sắc thể sẽ tăng lên:
Ban đầu: Hợp tử 2n = 10.
Sau khi nhân đôi nhưng không phân li: Tế bào có 2n nhiễm sắc thể đã nhân đôi, tức là 10 cặp nhiễm sắc thể (mỗi nhiễm sắc thể gồm 2 chromatid) và tất cả đều tập trung tại một vùng.
Kết quả: Tế bào mới sinh ra sẽ có bộ nhiễm sắc thể 4n = 20.

Cần lưu ý, cơ chế hình thành thể bốn thường gặp ở thực vật. Ở động vật, hiện tượng này ít xảy ra và thường gây chết.

2. Cơ chế hình thành thể không (Thể không nhiễm – Monosomy, 2n-1)

Thể không là những cơ thể mà trong tế bào sinh dưỡng của chúng, có một nhiễm sắc thể trong một cặp tương đồng bị mất đi. Nghĩa là, thay vì có hai nhiễm sắc thể, chỉ còn một. Bộ nhiễm sắc thể của thể không là 2n-1.

Cơ chế hình thành thể không chủ yếu do sự không phân li của một cặp nhiễm sắc thể tương đồng trong quá trình giảm phân tạo giao tử, hoặc do sự không phân li của một cặp nhiễm sắc thể trong nguyên phân.

Chúng ta hãy xem xét các bước chính:

Bước 1: Rối loạn giảm phân tạo giao tử.
* Trong quá trình giảm phân I, một cặp nhiễm sắc thể tương đồng không phân li và đi về cùng một cực của tế bào. Điều này dẫn đến việc tạo ra hai loại giao tử: một loại thừa một nhiễm sắc thể (n+1) và một loại thiếu một nhiễm sắc thể (n-1). Các cặp nhiễm sắc thể khác phân li bình thường.
* Hoặc, trong quá trình giảm phân II, hai nhiễm sắc thể kép của một cặp không phân li. Điều này cũng dẫn đến sự mất cân bằng về số lượng nhiễm sắc thể trong giao tử.

Bước 2: Sự thụ tinh.
* Nếu giao tử thiếu một nhiễm sắc thể (n-1) thụ tinh với giao tử bình thường (n), chúng sẽ tạo thành hợp tử có bộ nhiễm sắc thể là (n-1) + n = 2n-1. Đây chính là thể không.
* Nếu giao tử thừa một nhiễm sắc thể (n+1) thụ tinh với giao tử bình thường (n), chúng sẽ tạo thành hợp tử có bộ nhiễm sắc thể là (n+1) + n = 2n+1. Đây là thể tam nhiễm.

Bước 3: Rối loạn nguyên phân ở hợp tử (ít phổ biến hơn trong việc hình thành thể không cá thể).
* Trong quá trình nguyên phân của hợp tử (2n), một cặp nhiễm sắc thể tương đồng không phân li. Điều này sẽ tạo ra một thể khảm, trong đó có một tế bào có bộ nhiễm sắc thể 2n-1 và một tế bào có bộ nhiễm sắc thể 2n+1. Nếu sự không phân li này xảy ra ở giai đoạn rất sớm của phôi, nó có thể ảnh hưởng đến một phần lớn cơ thể.

Ví dụ minh họa:
Giả sử một loài người có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 46.
* Nếu trong quá trình giảm phân, một cặp nhiễm sắc thể số 21 không phân li, sẽ tạo ra giao tử mang 24 nhiễm sắc thể (gồm cả 2 nhiễm sắc thể số 21) hoặc 22 nhiễm sắc thể (chỉ có 1 nhiễm sắc thể số 21).
* Khi giao tử mang 22 nhiễm sắc thể (n-1, tức là thiếu một nhiễm sắc thể số 21) thụ tinh với giao tử bình thường (n=23, bao gồm 1 nhiễm sắc thể số 21), hợp tử sẽ có bộ nhiễm sắc thể 2n-1 = 45, trong đó có 3 nhiễm sắc thể số 21. Tuy nhiên, ví dụ này đang mô tả thể tam nhiễm.

Để mô tả đúng thể không:
Giả sử một loài động vật có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 10.
* Trong quá trình giảm phân tạo giao tử, một cặp nhiễm sắc thể (ví dụ cặp số 3) không phân li.
* Nếu một giao tử cái (n) thụ tinh với một giao tử đực (n-1, tức là thiếu một nhiễm sắc thể của cặp số 3), hợp tử sẽ có bộ nhiễm sắc thể: n + (n-1) = 2n-1 = 9. Trong bộ nhiễm sắc thể 9 chiếc này, cặp số 3 sẽ chỉ có 1 chiếc thay vì 2 chiếc như bình thường.
* Các trường hợp thể không phổ biến ở người là Hội chứng Turner (XO) với bộ nhiễm sắc thể 2n-1 = 45, trong đó chỉ có 1 nhiễm sắc thể giới tính X.

Như vậy, cô đã trình bày chi tiết cơ chế hình thành thể bốn và thể không dựa trên kiến thức sách giáo khoa. Các em hãy ôn lại thật kỹ để hiểu rõ bản chất của các hiện tượng đột biến số lượng nhiễm sắc thể này nhé. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, đừng ngần ngại hỏi cô!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 0

Đáp án: thể 4: 2n + 2; thể không: 2n -2

Giải thích các bước giải:

Cơ chế: Rối loạn trong giảm phân hình thành giao tử: ở cả bố và mẹ đều không phân li trong cặp NST giống nhau.

Cơ thể 2n giảm phân tạo giao tử đột biến: n – 1 và n +1

 

+ Thể bốn: trứng (n+1)  x tinh trùng (n +1) => 2n +2

+ Thể không: trứng (n-1)  x tinh trùng (n -1) => 2n -2

 

Trả lời bởi: Nguyễn Thùy
▲ 0
– Do các tác nhân lí hóa của môi trường trong hoặc bên ngoài cơ thể làm rối loạn sự phân li bình thường của một hoặc 1 số cặp NST→ Thoi vô sắc hình thành nên 1 hoặc 1 và cặp NST không thể phân li trong quá trình giảm phân tạo thành giao tử bất thường, giao tử này kết hợp với các giao tử bình thường hoặc không bình thường khác trong thụ tinh tạo thành đột biến dị bội
→Sự hình thành các cá thể lệch bội thông qua 2 cơ chế là giảm phân không bình thường, sự thụ tinh giữa các giao tử không bình thường và giao tử bình thường.Quá trình giảm phân tạo các giao tử n+1 và n-1 có thể diễn ra ở lần phân bào thứ nhất hoặc thứ 2

 

 

– Một cá thể của loài có thể gặp nhiều trường hợp dị bội khác nhau, vì hiện tượng dị bội ở mỗi cặp NST khác nhau sẽ cho kiểu hình hoàn toàn khác nhau. Ví dụ: một loài có bộ NST 2n = 14 tức là có 7 cặp NST khác nhau như vậy cá thể này có thể có 7 trường hợp thể ba hoàn toàn khác nhau.
– Lệch bội cũng có thể xảy ra trong nguyên phân ở các tế bào sinh dưỡng (2n) làm cho một phần cơ thể mang đột biến lệch bội và hình thành thể khảm

Trả lời bởi: Duyên Nguyễn

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo