Viết đoạn văn: thuyết minh về tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi
Các ý chính c…
Các ý chính cần nêu:
– Phát hiện vẻ đẹp nhiều mặt của thiên nhiên:
+ Thiên nhiên hoành tráng, kì vĩ: “Kình ngạc băm vằm non mấy khúc/ Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng”,…
+ Thiên nhiên mĩ lệ, thơ mộng, phảng phất phong vị Đường thi: “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/ Đêm thanh, nguyệt bạc, khách lên lầu”, “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc/ Thuyền chở yên hà nặng vạy then”,…
+ Thiên nhiên bình dị, dân dã: “Ao cạn vớt bèo cấy muống/ Đìa thanh phát cỏ ương sen”,…
– Coi thiên nhiên là bầu bạn của mình: “Láng giềng một áng mây nổi/ Khách khứa hai ngàn núi xanh”,…
– Giao cảm với thiên nhiên vừa mãnh liệt, nồng nàn vừa tinh tế, nhạy cảm, trang trọng trước vẻ đẹp của thiên nhiên: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt/ Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”.
Trước hết, để viết một đoạn văn thuyết minh về tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi, chúng ta cần hiểu rõ mục đích của bài văn thuyết minh: đó là giới thiệu, giải thích một cách rõ ràng, khoa học về một đối tượng nào đó. Trong trường hợp này, đối tượng của chúng ta là tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi.
Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào phân tích từng ý chính và cách triển khai chúng thành một đoạn văn mạch lạc, sinh động.
Ý 1: Phát hiện vẻ đẹp nhiều mặt của thiên nhiên
Để làm nổi bật ý này, chúng ta cần chứng minh rằng Nguyễn Trãi không chỉ nhìn thiên nhiên ở một khía cạnh mà ông cảm nhận và khắc họa nó với sự đa dạng, phong phú của vẻ đẹp.
* Thiên nhiên hoành tráng, kì vĩ: Nguyễn Trãi đã thể hiện điều này qua những hình ảnh mang tính chất sử thi, mạnh mẽ. Chúng ta có thể lấy ví dụ như: “Kình ngạc băm vằm non mấy khúc/ Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng”. Câu thơ này gợi lên một cảnh tượng thiên nhiên dữ dội, hùng vĩ, có thể là trong những trận chiến giữ nước, nơi thiên nhiên cũng góp phần làm nên sự oai hùng của dân tộc. Sự “băm vằm”, “chìm gãy” không chỉ là hành động của con người mà còn là sự phản ứng của thiên nhiên trước những biến động, hoặc chính là sức mạnh tiềm tàng của thiên nhiên ấy.
* Thiên nhiên mĩ lệ, thơ mộng, phảng phất phong vị Đường thi: Điều này thể hiện qua những bức tranh thiên nhiên trữ tình, giàu chất thơ, mang hơi hướng của thơ ca Đường triều Trung Quốc vốn rất coi trọng cảnh vật và tình cảm gửi gắm trong đó. Các câu thơ như: “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/ Đêm thanh, nguyệt bạc, khách lên lầu”, “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc/ Thuyền chở yên hà nặng vạy then”, cho ta thấy một khung cảnh thật êm đềm, thơ mộng. “Nước biếc non xanh” là màu sắc tươi mát, sống động. “Thuyền gối bãi” gợi lên sự yên bình, nghỉ ngơi. “Đêm thanh, nguyệt bạc” là bức tranh đêm huyền ảo, lãng mạn. “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc” và “Thuyền chở yên hà nặng vạy then” là những hình ảnh ẩn dụ đầy tinh tế, cho thấy sự giàu có của thiên nhiên, chứa đựng cả vẻ đẹp của gió trăng, của núi sông, và con người tận hưởng trọn vẹn những món quà ấy.
* Thiên nhiên bình dị, dân dã: Bên cạnh những cảnh tượng hùng vĩ hay thơ mộng, Nguyễn Trãi còn yêu mến và trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên nơi thôn dã, quen thuộc với đời sống thường ngày của người dân. Ví dụ: “Ao cạn vớt bèo cấy muống/ Đìa thanh phát cỏ ương sen”. Đây là những hình ảnh rất đỗi thân thuộc ở làng quê Việt Nam. “Ao cạn vớt bèo cấy muống” cho thấy sự gắn bó của con người với mảnh đất, với ao nhà, chăm chút cho vụ mùa. “Đìa thanh phát cỏ ương sen” là sự chăm sóc cho đầm sen, một loài hoa quen thuộc và mang nhiều ý nghĩa văn hóa. Vẻ đẹp này không phô trương nhưng lại rất chân thực, dung dị và gần gũi.
Ý 2: Coi thiên nhiên là bầu bạn của mình
Nguyễn Trãi không xem thiên nhiên chỉ là cảnh vật để ngắm nhìn mà còn là người bạn tri âm, tri kỷ. Ông tìm thấy sự đồng điệu, sẻ chia trong thiên nhiên.
* Chúng ta có thể minh họa bằng câu: “Láng giềng một áng mây nổi/ Khách khứa hai ngàn núi xanh”. Cách gọi “láng giềng” và “khách khứa” cho thấy Nguyễn Trãi đã nhân hóa thiên nhiên, đặt nó ngang hàng với con người. Mây, núi không còn là vật vô tri mà trở thành những người bạn thân thiết, luôn ở bên cạnh ông. Ông cảm thấy mình không cô đơn khi có mây, núi làm bầu bạn.
Ý 3: Giao cảm với thiên nhiên vừa mãnh liệt, nồng nàn vừa tinh tế, nhạy cảm, trang trọng trước vẻ đẹp của thiên nhiên
Đây là ý thể hiện rõ nhất chiều sâu tâm hồn và tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi. Ông không chỉ đơn thuần là yêu mà còn có một sự gắn kết sâu sắc, rung động mạnh mẽ.
* Mãnh liệt, nồng nàn: Sự giao cảm này thể hiện qua những hành động, cảm xúc say đắm. Ví dụ: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt”. Hành động “hé cửa” và việc “chờ đợi” cho thấy một sự mong mỏi, nôn nao, muốn đón nhận trọn vẹn hương thơm quý giá của thiên nhiên, dù là ban đêm.
* Tinh tế, nhạy cảm, trang trọng: Sự tinh tế và nhạy cảm được thể hiện ở khả năng cảm nhận những điều nhỏ bé, thoáng qua. “Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”. Hành động “quét hiên” vào ban ngày để “lệ bóng hoa tan” cho thấy ông tiếc nuối vẻ đẹp của những cánh hoa đã rụng, đã tàn. Cái “lệ” ở đây không chỉ là giọt nước mắt mà còn là sự tiếc nuối, sự cảm thông với quy luật sinh diệt của tự nhiên. Sự trang trọng thể hiện ở cách ông đối xử với thiên nhiên, như một đấng cao quý, đáng được tôn thờ và giữ gìn.
Bây giờ, chúng ta sẽ ghép những ý này lại thành một đoạn văn hoàn chỉnh, sử dụng ngôn ngữ miêu tả, phân tích và liên kết các ý sao cho mượt mà, logic.
—
Tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi là một bức tranh phong phú, đa chiều, được thể hiện qua cái nhìn sâu sắc và tâm hồn tinh tế của ông. Trước hết, Nguyễn Trãi đã phát hiện và khắc họa vẻ đẹp nhiều mặt của thiên nhiên, từ sự hoành tráng, kì vĩ của tạo hóa qua những hình ảnh như “Kình ngạc băm vằm non mấy khúc/ Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng”, gợi lên sức mạnh dữ dội của non sông, đến nét mĩ lệ, thơ mộng, phảng phất phong vị Đường thi trong những bức tranh thanh bình, trữ tình: “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/ Đêm thanh, nguyệt bạc, khách lên lầu”, hay sự giàu có của thiên nhiên qua ẩn dụ “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc/ Thuyền chở yên hà nặng vạy then”. Song hành với đó, ông cũng dành tình yêu cho vẻ đẹp bình dị, dân dã của làng quê quen thuộc: “Ao cạn vớt bèo cấy muống/ Đìa thanh phát cỏ ương sen”, cho thấy sự gắn bó mật thiết với đời sống thường ngày.
Không chỉ chiêm ngưỡng, Nguyễn Trãi còn coi thiên nhiên là bầu bạn tri âm, tri kỷ của mình. Ông tìm thấy sự đồng điệu và sẻ chia qua những người bạn thiên nhiên như mây, núi, thể hiện qua lời thơ trìu mến: “Láng giềng một áng mây nổi/ Khách khứa hai ngàn núi xanh”, qua đó khẳng định mình không hề cô đơn giữa cuộc đời.
Đặc biệt, cách Nguyễn Trãi giao cảm với thiên nhiên thật sự đáng ngưỡng mộ. Đó là sự giao cảm vừa mãnh liệt, nồng nàn khi ông say đắm đón nhận vẻ đẹp của tạo hóa, như “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt”, cho thấy sự mong chờ, háo hức được hòa mình vào hương thơm đất trời. Đồng thời, đó cũng là sự giao cảm tinh tế, nhạy cảm, trang trọng trước những gì thiên nhiên ban tặng, ngay cả khi nó đã tàn phai, như hành động “Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”, thể hiện sự tiếc nuối, lòng thương cảm trước quy luật sinh diệt và sự trân trọng vẻ đẹp dù là mong manh nhất. Tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi vì thế không chỉ là tình yêu cái đẹp mà còn là tình yêu cuộc sống, tình yêu quê hương đất nước sâu sắc.
—
Các em thấy đấy, với những ý chính được phân tích kỹ lưỡng và những dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm, chúng ta có thể xây dựng nên một đoạn văn thuyết minh vừa đầy đủ ý tứ, vừa giàu cảm xúc. Quan trọng là chúng ta phải hiểu được bản chất của từng ý và cách nó liên kết với nhau để tạo nên một chỉnh thể thống nhất.
Các em về nhà ôn lại bài và thử áp dụng cách phân tích này để viết cho mình những đoạn văn tương tự nhé. Chúc các em học tốt!
Bài MK Đây Nhé Bn
QĐND – Nguyễn Trãi (1380 – 1442), tự là Ức Trai – một nhân tài kiệt xuất trong lịch sử nước ta, văn võ song toàn. Nói riêng thơ văn ông, một trong những nội dung nổi bật là tình yêu thiên nhiên say đắm, nồng nàn của bậc hiền nhân.
Thơ viết về thiên nhiên của Ức Trai chiếm phần lớn và cũng là những bài thơ hay nhất trong hai tập thơ của ông. Những dẫn chứng về thơ Nguyễn Trãi, trong bài viết này – đều theo tập “Thơ chữ Nôm” (do hai nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm phiên âm, chú giải, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, xuất bản năm 1956) và tập “Thơ chữ Hán” (do các nhà Hán học uyên thâm: Phan Võ, Lê Thước và Đào Phương Bình dịch, NXB Văn hóa, Hà Nội, xuất bản năm 1962).
Thiên nhiên thấm đẫm cảm xúc, tâm hồn thi nhân Nguyễn Trãi. Thiên nhiên nước ta, qua con mắt nhà thơ Nguyễn Trãi, hiện lên rất đa dạng, sinh động, có sức sống riêng. Đứng trước một cảnh vật, từ những cảnh tượng hùng vĩ như Vân Đồn, cửa bể Bạch Đằng, cửa bể Thần Phù, đến những cảnh bình dị như một ánh trăng, một buổi chợ, một bông hoa nở, một nõn chuối, một luống mồng tơi, hay một tiếng chim kêu,… tất cả đều gợi lên trong tâm tưởng Ức Trai những tứ thơ mênh mông, lai láng, những khoảnh khắc say sưa, nồng nhiệt. Thật đúng là Nguyễn Trãi đã có một mối tình với thiên nhiên, như ông viết: Non nước cùng ta đã có duyên (Tự thán-4). Ông đã biểu hiện thiên nhiên ấy với nhiều màu sắc, đường nét, âm thanh. Thiên nhiên ấy mang hồn người, mang tư tưởng, tình cảm của nhà thơ.
Hãy xem phong cảnh của vùng núi Vân Đồn (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh): Lộ nhập Vân Đồn san phục san/ Thiên khôi địa thiết phó kỳ quan/ Nhất bàn lam bích trừng minh kính/ Vạn hộc nha thanh đọa thúy hoàn” (Vân Đồn); dịch nghĩa: Đường vào Vân Đồn núi rồi lại núi/ Trời bầy đất đặt nên áng kỳ quan/ Một mâm lam biếc, (nước) lắng tấm gương trong/ Muôn hộc đen xanh, (núi) bỏ xõa mái tóc màu thúy. Còn đây là những nét phác họa hết sức tài tình về vẻ đẹp hùng vĩ của cửa bể Bạch Đằng – nơi diễn ra những chiến thắng vang dội của Ngô Quyền chống quân Nam Hán và Trần Hưng Đạo đánh tan giặc Nguyên – Mông: Gió bấc thổi mặt biển, thế nước lên cuồn cuộn/ Giương cánh buồm thơ nhè nhẹ lướt qua sông Bạch Đằng/ Như cá sấu bị chặt, cá kình bị phanh, núi uốn quanh co/ Như cây giáo chìm, như chiếc kích gẫy, bờ xây lởm chởm… (Bạch Đằng hải khẩu). Bài thơ toát lên lòng tự hào của Nguyễn Trãi về truyền thống dân tộc kiên cường chống giặc ngoại xâm. Và đây là cảnh trí thơ mộng nhưng không kém phần hùng tráng của cửa bể Thần Phù (thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa): Thần Phù qua đó, lúc đêm khuya/ Gió mát trăng thanh cảnh tuyệt kỳ/ Măng mọc nghìn đầu, non dựng đứng/ Rắn xanh một dải, nước quanh đi/… (Thần Phù hải khẩu). Còn đây nữa, cảnh đẹp núi Dục Thúy (ở Ninh Bình): Cửa biển có núi tiên/ Năm xưa thường đi về/ (Như bông) Hoa sen nổi trên mặt nước/ Cảnh tiên sa xuống trần gian/ Bóng tháp như cái trâm ngọc xanh cài vào/ Món tóc biếc chiếu trong làn sóng/… (Dục Thúy sơn).
Có những khi thiên nhiên làm cho nhà thơ ngây ngất, cảm hứng của tác giả càng dạt dào, mãnh liệt. Và, cũng như Lý Bạch (nhà thơ nổi tiếng đời Đường – Trung Quốc), Nguyễn Trãi tha thiết với trăng. Trăng tạo nên tứ thơ phóng khoáng, tự do, nâng tâm hồn nhà thơ lên đến tột đỉnh của cảm xúc: Góc biển bên trời mặc ý ngao du/ Trong cõi kiền khôn, đến đâu cũng phóng tầm mắt thơ/ Hát chài cất lên ba lần, mặt hồ có khói thêm rộng mênh mông/ Sáo mục đồng thổi lên một tiếng, mặt trăng trên không càng lên cao vút/ Đêm thanh dựa vào khoảng không ngắm xem vũ trụ/ Gió thu thổi thừa hứng cưỡi lên cá kình, cá ngao/ Sau khi muôn việc đã thoáng quên/ Lẽ màu nhiệm thật đáng đưa vào chén rượu đục (Chu trung ngẫu thành). Đặc biệt, trong bài “Côn Sơn ca”, bằng những nét tả thực rất sinh động, ta thấy nhà thơ chan hòa trong cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp, với nhiều màu sắc, âm thanh tươi tắn, rộn ràng: Côn Sơn nước chảy rì rầm/ Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai/ Côn Sơn có đá rêu phơi/ Ta ngồi trên đá, như ngồi chiếu êm/ Trong ghềnh, thông mọc như nêm/ Tìm nơi bóng mát, ta lên ta nằm/ Trong rừng có trúc bóng râm/ Trong màu xanh mát, ta ngâm thơ nhàn/….
Ở thế kỷ XV, văn học viết của ta đang trên đà xây dựng và phát triển, Nguyễn Trãi đã tìm tòi một thể thơ mới cho dân tộc, để thoát khỏi ảnh hưởng của thơ Đường, thơ Tống. Trong thơ chữ Nôm, ông tạo nên thể thơ lục ngôn, với những câu thơ 6 chữ, mới lạ so với đương thời: Dò trúc, bước qua lòng suối/ Tìm mai, theo đạp bóng trăng (Tự thán-7); hoặc: Rỗi hóng mát, thủa ngày trường (Bảo kính cảnh giới-43);… Về ngắt nhịp trong câu thơ thất ngôn, nhiều khi ông không theo nhịp 4/3 như trong thơ Đường, thơ Tống, mà ngắt nhịp rất tự do, phóng khoáng, tùy theo cảm xúc. Ví như ngắt nhịp 2/2/3: Khách đến/ chim mừng/ hoa xảy động/ Chè tiên/ nước kín/ nguyệt đeo về (Thuật hứng–3). Nguyễn Trãi dùng nhiều từ láy – một hình thức độc đáo, sinh động của ngôn ngữ dân tộc: Hương cách gác vân, thu lạnh lạnh/ Thuyền kề bãi tuyết, nguyệt chênh chênh (Bảo kính cảnh giới-31). Nguyễn Trãi có những câu thơ diễn tả một niềm vui thanh thoát, tế nhị, kín đáo mà tứ thơ rất mới lạ, đáng để chúng ta ngày nay phải… “giật mình”, kính nể. Ví như ông tả nõn chuối: Tình thư một bức, phong còn kín/ Gió nơi đâu, gượng mở xem (Ba tiêu). Ở đây, trí tưởng tượng của nhà thơ thật kỳ diệu.
Thơ thiên nhiên của Nguyễn Trãi thể hiện lòng lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống của nhà thơ. Nó khẳng định chỗ đứng của Nguyễn Trãi ở giữa cuộc đời, trong lòng nhân dân, không hề thoát tục.
cho mk câu tlhn nhé bn
Chúc Bn Học Tốt !^^
Tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi được thể hiện sâu sắc qua những vần thơ của ông. Nhà thơ đã dùng tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của mình để phát hiện ra vẻ đẹp nhiều mặt của thiên nhiên. Đó là thiên nhiên hoành tráng, kì vĩ ““Kình ngạc băm vằm non mấy khúc/ Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng”,…. Những vần thơ trong Bạch Đằng hải khẩu giúp ta có thêm cái nhìn đa chiều về tài năng thơ ca Nguyễn Trãi. Nhưng bên cạnh đó, ta còn bắt gặp một thiên nhiên thơ mộng, mĩ lệ, phảng phất hương vị Đường thi: Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/ Đêm thanh, nguyệt bạc, khách lên lầu”, “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc/ Thuyền chở yên hà nặng vạy then”,…Thơ không chỉ tạo nên bức tranh thiên nhiên đẹp, lãng mạn. Nhà thơ còn lắng mình xuống trong những dư vị đời thường thiết tha, nồng hậu. ĐÓ là thiên nhiên bình dị, dân dã: “Ao cạn vớt bèo cấy muống/ Đìa thanh phát cỏ ương sen”,…Những hình ảnh thơ mộc mạc, đong đầy yêu thương ấy đã đi vào thơ Nguyễn Trãi với vô vàn thiết tha, nồng hậu và làm ta thêm hiểu, thêm yêu tiếng lòng người yêu nước thương dân. Nhà thơ với thiên nhiên là người bạn luôn bầu bạn, chia sẻ bao xúc cảm: Láng giềng một áng mây nổi/ Khách khứa hai ngàn núi xanh”,…. Trong niềm giao cảm với thiên nhiên, nhà thơ của chúng ta thấy thiên nhiên vừa mãnh liệt, vừa nồng nàn tinh tế, lại nhạy cảm trang trọng: Hé cửa đêm chờ hương quế lọt/ Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”. Nguyễn TRãi là một nhà thơ luôn yêu thiên nhiên và giàu tình yêu thiên nhiên.