Viết kịch bản : Em bé thông minh ( có tính sáng tạo nha )
Cô rất vui khi được cùng các em thực hiện một bài tập Ngữ văn vô cùng thú vị và đòi hỏi sự sáng tạo: chuyển thể truyện cổ tích “Em bé thông minh” thành một kịch bản sân khấu. Đây là một dạng bài tập giúp chúng ta rèn luyện khả năng tư duy hình ảnh, viết lời thoại và sắp xếp bố cục cho một tác phẩm.
Chúng ta sẽ không chỉ viết lại câu chuyện, mà còn “thêm mắm dặm muối” để kịch bản của mình thật độc đáo và hấp dẫn, đúng như yêu cầu “có tính sáng tạo” nhé. Nào, chúng ta cùng bắt đầu!
HƯỚG DẪN GIẢI CHI TIẾT
Bước 1: Ôn lại kiến thức về kịch bản và xác định hướng sáng tạo
Trước khi cầm bút viết, chúng ta cần hiểu rõ kịch bản là gì và làm thế nào để tạo ra sự khác biệt.
- Cấu trúc của một kịch bản thường có:
- Tên kịch bản: Tên gọi của vở kịch.
- Nhân vật: Liệt kê các nhân vật và có thể mô tả ngắn gọn đặc điểm của họ.
- Bối cảnh (Cảnh): Mô tả không gian, thời gian diễn ra hành động. Một vở kịch có thể có nhiều cảnh.
- Hành động và Lời thoại: Đây là phần chính. Lời thoại là lời nói của nhân vật. Hành động, cử chỉ, biểu cảm của nhân vật thường được đặt trong ngoặc đơn.
- Chỉ dẫn sân khấu: Mô tả về âm thanh, ánh sáng, đạo cụ…
- Lý do áp dụng: Việc nắm vững cấu trúc này giống như việc có một cái sườn nhà vững chắc trước khi xây tường và lợp mái. Nó giúp kịch bản của chúng ta rõ ràng, mạch lạc và dễ dàng cho việc dàn dựng sau này.
- Hướng sáng tạo: Làm thế nào để kịch bản của mình không “y như sách”? Cô gợi ý một vài ý tưởng:
- Thêm một nhân vật mới hài hước, ví dụ như một người hàng xóm tò mò hay một “phóng viên” thời xưa chuyên đi săn tin lạ.
- Thay đổi không khí của câu chuyện. Thay vì chỉ tập trung vào sự căng thẳng, chúng ta có thể thêm các chi tiết hài hước, dí dỏm.
- Viết lời thoại theo phong cách hiện đại, gần gũi hơn nhưng vẫn giữ được nét cổ xưa.
Trong bài giải này, cô sẽ chọn hướng thêm một nhân vật mới là “Loa Hàng Làng” – một người phụ nữ chuyên hóng chuyện và tường thuật lại mọi việc, tạo ra yếu tố hài hước và kết nối với khán giả.
Bước 2: Xây dựng dàn ý chi tiết cho một cảnh tiêu biểu
Để các em dễ hình dung, chúng ta sẽ không viết toàn bộ kịch bản mà tập trung vào một cảnh đắt giá nhất: Cảnh viên quan thử tài em bé lần thứ hai (câu đố “làm thịt một con chim sẻ dọn thành ba cỗ thức ăn”).
- Nhân vật trong cảnh: Em bé, Bố em bé, Viên quan, Lính lệ, Bà Loa Hàng Làng.
- Bối cảnh: Trước sân nhà em bé. Có một cái chõng tre, vài bụi chuối.
- Diễn biến chính:
- Viên quan và lính lệ oai vệ tiến vào, dân làng xúm lại xem, trong đó có bà Loa Hàng Làng.
- Viên quan ra câu đố oái oăm. Bố em bé lo sợ.
- Em bé bình tĩnh bước ra, đối đáp lại bằng một câu đố khác còn oái oăm hơn.
- Viên quan “đứng hình”, tức tối nhưng phải thừa nhận sự thông minh của em bé.
- Bà Loa Hàng Làng tường thuật lại một cách hài hước.
Lý do áp dụng: Việc lập dàn ý chi tiết giúp chúng ta không bị “lạc đề”, đảm bảo cảnh kịch có mở đầu, cao trào và kết thúc hợp lý. Đây là bước chuẩn bị quan trọng để phần viết chính được trôi chảy.
Bước 3: Viết kịch bản chi tiết
Bây giờ, chúng ta sẽ “lắp ráp” các ý tưởng trên thành một kịch bản hoàn chỉnh cho cảnh đã chọn.
KỊCH BẢN: TRÍ KHÔN DÂN GIAN
(Chuyển thể sáng tạo từ truyện cổ tích Em bé thông minh)
Nhân vật:
- Em bé: Khoảng 7-8 tuổi, nhanh nhẹn, lém lỉnh, ánh mắt sáng.
- Ông Bố: Nông dân hiền lành, chất phác, hay lo lắng.
- Viên quan: Dáng vẻ vênh váo, giọng nói kẻ cả.
- Lính lệ: Đi theo quan, mặt mũi cũng “hất lên trời”.
- Bà Loa Hàng Làng: Tay cầm cái quạt mo, nhanh mồm nhanh miệng, tò mò.
Cảnh 1: Sân nhà em bé
BỐI CẢNH: Sân đất nhỏ, có một chõng tre dưới bóng cây. Ông Bố đang ngồi đan rổ, dáng vẻ ưu tư. Bà Loa Hàng Làng đang đứng ở hàng rào, ngó nghiêng vào trong.
HÀNH ĐỘNG VÀ LỜI THOẠI
Bà Loa Hàng Làng: (Nói to như nói với cả làng) Loa loa loa loa! Tình hình là rất tình hình đây! Nghe nói hôm nay quan lại ghé nhà ông Tí, không biết lại có thử thách gì đây! Bà con ai có dưa lê, dưa bở thì mang ra hóng nào!
Ông Bố: (Giật mình, thở dài) Bà cứ làm tôi hết hồn! Con tôi nó lanh chanh trả lời quan, giờ tôi lo ăn không ngon ngủ không yên đây này.
(Từ xa, Viên quan và hai Lính lệ đi vào, áo mão chỉnh tề nhưng mặt thì vênh váo. Bà Loa Hàng Làng vội nấp sau bụi chuối nhưng vẫn ló đầu ra.)
Viên quan: (Hắng giọng, nói to) Cha con nhà ngươi đâu, ra đây ta bảo!
Ông Bố: (Vội vàng chạy ra, cúi rạp người) Bẩm quan lớn… quan lớn gọi nhà cháu có việc gì ạ?
Viên quan: (Cười khẩy, đưa ra một con chim sẻ nhỏ xíu trong lồng) Vua ban lệnh thử tài. Nhà ngươi hãy về làm thịt con chim sẻ này, dọn cho ta thành ba cỗ thức ăn. Làm được thì có thưởng, không làm được thì… (Kéo dài giọng) …cả nhà ngươi biết rồi đấy!
Ông Bố: (Run rẩy, mặt tái đi) Bẩm quan… một con chim… chim bé tẹo này thì làm sao… làm sao mà thành ba cỗ được ạ…
(Từ trong nhà, Em bé bước ra, khoanh tay trước ngực, nhìn thẳng vào viên quan, không hề sợ sệt.)
Em bé: (Nói dõng dạc) Thưa quan, việc này dễ thôi ạ! Xin quan cứ về tâu với Đức Vua cho chúng con mượn một thứ, rồi con sẽ làm ngay ạ.
Viên quan: (Ngạc nhiên rồi tỏ vẻ trịch thượng) Ồ? Thằng nhãi ranh! Ngươi muốn mượn gì? Vàng bạc châu báu à?
Em bé: (Lắc đầu, vẻ mặt nghiêm túc) Dạ không ạ! Xin quan về tâu Đức Vua rèn cho con một con dao thật nhỏ từ một cây kim may, để con xẻ thịt chim ạ!
Bà Loa Hàng Làng: (Vỗ đùi đánh đét một cái từ sau bụi chuối) Trời! Hay! Hay quá! Quả là gừng càng già càng cay, trẻ con càng ngày càng… thông minh!
Viên quan: (Sững người, mặt đỏ bừng rồi chuyển sang tái mét. Lắp bắp) Ngươi… ngươi…
Em bé: (Nghiêng đầu, ngây thơ) Quan lớn sao thế ạ? Có một cây kim mà không rèn được thành dao thì làm sao có một con chim mà làm được ba cỗ ạ?
Viên quan: (Tức tối nhưng không làm gì được, phất tay áo) Thôi… thôi được rồi! Coi như lần này ngươi giỏi! Chúng ta đi! (Quay gót bỏ đi, bước chân vội vã, suýt vấp ngã. Lính lệ cũng lật đật chạy theo).
Ông Bố: (Nhìn con, từ lo lắng chuyển sang vỡ òa sung sướng) Con ơi là con! Con làm bố hết cả hồn vía!
Bà Loa Hàng Làng: (Chạy ra khỏi bụi chuối, quạt lia lịa) Loa loa loa! Tin nóng hổi vừa thổi vừa nghe! Em bé nhà ông Tí đã dùng một cây kim để “bẻ lái” câu đố của quan! Một pha xử lý đi vào lòng đất của quan và một pha đối đáp đi vào lịch sử của em bé! Xin hết ạ!
(Cả xóm làng cười ồ lên vui vẻ. Ánh sáng sân khấu tập trung vào nụ cười rạng rỡ của em bé. Nhạc nền vui tươi nổi lên.)
— HẾT CẢNH —
Bước 4: Rà soát và chỉnh sửa
Sau khi viết xong, các em hãy đọc lại thật kỹ kịch bản của mình:
- Lời thoại đã phù hợp với tính cách nhân vật chưa? (Viên quan thì kẻ cả, ông bố thì lo lắng, em bé thì tự tin, bà Loa thì “nhiều chuyện”).
- Yếu tố sáng tạo (bà Loa Hàng Làng) đã phát huy tác dụng chưa? (Nhân vật này vừa tạo tiếng cười, vừa giúp tóm tắt và nhấn mạnh sự thông minh của em bé).
- Các chỉ dẫn sân khấu (hành động, biểu cảm) đã đủ rõ ràng để người đọc hình dung ra cảnh kịch chưa?
Cô hy vọng qua bài hướng dẫn chi tiết này, các em không chỉ hoàn thành được bài tập mà còn cảm thấy yêu thích hơn việc sáng tạo với các tác phẩm văn học. Chúc các em sẽ có những kịch bản thật hay và độc đáo của riêng mình
Một buổi trưa nọ, tôi và cha đang phải cày ruộng. Bất chợt, tôi thấy một người đàn ông ăn mặc sang trọng cưỡi ngựa đến, có lẽ là quan của nhà vua, ông bèn hỏi cha tôi:
– Này ông kia, trâu này một ngày cày được bao nhiêu đường?
Cha tôi nghe xong thì ngớ người. Tôi nghĩ bụng, ai đời lại đi hỏi câu kì lạ như vậy, chắc chắn là muốn trêu người khác rồi, tôi liền hỏi lại:
– Vậy xin quan trả lời con ngựa kia một ngày đi được bao nhiêu bước,thì tôi sẽ nói cho quan biết con trâu đi được bao nhiêu đường?
Quan lúng túng không biết trả lời, rồi quan bỗng hỏi tên hai cha con, tôi cũng không nghĩ nhiều mà khai báo.
Mấy tuần sau, làng tôi nhận được chiếu vua, vua ban cho làng ba thúng gạo nếp và ba con trâu đực, năm sau làng phải nuôi cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con, thiếu con nào thì sẽ bị phạt. Mọi người đều biết chuyến này lành ít dữ nhiều, được vua quan tâm thì tốt nhưng ai lại làm được trâu đực đẻ con? Cái khó ló cái khôn, tôi chợt nảy ra một kế. Tôi nói với cha:
– Cha cứ bảo cả làng lấy hai con trâu và hai thúng gạo mà ăn, còn lại thì bán đi để hai cha con ta lên kinh thành.
Cha và mọi người lúc đầu còn lo lắng nhưng nghe tôi trấn an, còn làm giấy cam đoan với làng thì yên tâm hơn.
Lên đến kinh vua, nhân lúc lính canh không để ý, tôi lẻn vào sân rồng khóc ầm lên làm nhà vua đang chầu triều phải dừng lại, điệu tôi vào trong. Vua hỏi:
– Thằng bé kia, tại sao lại đến đây mà khóc?
Tôi mới ấm ức phân bua:
– Mẹ con chết sớm mà cha không chịu đẻ em bé cho con chơi, con buồn lắm. Kính vua ra lệnh bắt cha con phải đẻ em bé cho con…
Cả triều đình cười rộ lên, vua tủm tỉm giải thích:
– Cha mày là giống đực, làm sao mà đẻ con được?
Tôi nhanh nhảu đáp lại:
– Vậy sao vua lại bắt làng con làm trâu đực đẻ con?
Vua nhớ ra, cười nói:
– Cái đấy là thử, làng ngươi phải biết thịt trâu mà ăn chứ!
– Làng chúng con nhận được trâu và gạo liền biết đó là lộc vua ban đã làm cỗ ăn mừng rồi.
Hôm sau, tôi và cha đang ăn cơm, bỗng có người của vua mang một con chim sẻ bắt tôi phải dọn ba mâm cỗ, tôi biết ngài là vua lại thử mình liền đưa cho anh lính cây kim nhờ vua rèn thành một con dao để xẻ thịt chim. Cha con tôi được ban thưởng hậu hĩnh.
Một hôm, tôi đang ở nhà chơi với bạn, có sứ thần mang một cái vỏ ốc rất dài bị rỗng hai đầu, ông nhờ tôi dùng sợi chỉ mảnh xuyên qua vỏ ốc. Tôi liền hát:
“Tang tính tang! Tính tình tang!
Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng
Bên thời lấy giấy mà bưng,
Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang
Tang tình tang…”
Mãi về sau khi đã thành trạng nguyên, tôi mới hiểu được, sự nhanh trí lần đó của mình đã cứu nước khỏi giặc ngoại xâm.