viết một bài phân tích tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích tác phẩm này, từ đó hiểu sâu hơn về giá trị nghệ thuật và tư tưởng mà tác giả gửi gắm.
Bắt đầu thôi nào!
Bước 1: Tìm hiểu chung về tác phẩm
Trước hết, chúng ta cần nắm vững những thông tin cơ bản về “Chinh phụ ngâm khúc”.
* Tác giả: “Chinh phụ ngâm” ban đầu là một bài thơ chữ Hán của Đặng Thị Huệ (thế kỷ 18). Tuy nhiên, trong chương trình Ngữ Văn lớp 7, chúng ta nghiên cứu bản diễn Nôm nổi tiếng của Nguyễn Du, là người đã thổi hồn dân tộc vào tác phẩm, làm cho nó trở nên gần gũi và lay động lòng người hơn.
* Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ ra đời trong bối cảnh xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, với những cuộc chiến tranh liên miên, gây ra biết bao tang thương, mất mát. Tác phẩm thể hiện nỗi lòng của người phụ nữ có chồng đi lính, xa quê hương.
* Thể loại: “Chinh phụ ngâm khúc” là một khúc ngâm, thể loại văn học dân gian, thường mang âm hưởng bi thương, ai oán, thể hiện tâm trạng của con người trước những biến cố trong cuộc đời.
* Nội dung chính: Bài ca ngâm về nỗi sầu của người chinh phụ bị chia lìa với chồng nơi chiến trường, về những gian khổ, hiểm nguy nơi trận mạc và về cuộc sống cô đơn, buồn tủi nơi hậu phương.
Bước 2: Phân tích nội dung tác phẩm
Chúng ta sẽ đi vào phân tích chi tiết từng phần của bài ca.
* Nỗi lòng của người chinh phụ khi tiễn chồng:
* Mở đầu tác phẩm là cảnh tiễn biệt đầy bi thương. Không khí náo nhiệt của đoàn quân ra trận tương phản với nỗi lòng tan nát của người vợ.
* Các hình ảnh “trống dục”, “cờ bay”, “gió rít”, “mây tan” gợi lên sự dữ dội, khắc nghiệt của chiến tranh.
* Người chinh phụ nhìn chồng ra trận với biết bao lo lắng, xót xa. Từng lời dặn dò, từng ánh mắt đưa tiễn đều chất chứa nỗi sầu muôn thuở.
* “Chàng đi… thiếp ở…” – sự đối lập này làm nổi bật lên bi kịch chia ly.
* Nỗi sầu nhớ, cô đơn nơi hậu phương:
* Thời gian trôi đi, người chinh phụ ngày đêm mong ngóng tin tức của chồng.
* Khung cảnh thiên nhiên lúc này trở thành tấm gương phản chiếu nỗi lòng của nàng:
* “Cảnh thu”: lá rơi, gió lạnh gợi lên sự tàn úa, heo hút.
* “Cảnh xuân”: hoa nở, chim ca lại càng làm nàng thêm đau khổ bởi mùa xuân sum vầy của người khác lại là mùa xuân cô đơn của mình.
* “Trăng”, “gió”, “mây”, “nước”… tất cả đều gợi nhớ đến người chồng xa cách.
* Những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc như “chim nhạn”, “thuyền buồm”, “tin thư” đều mang ý nghĩa mong chờ, hy vọng nhưng cũng đầy tuyệt vọng.
* Nỗi khổ của người chinh phụ qua các hình ảnh đối lập:
* Tác phẩm khắc họa rõ nét sự đối lập giữa cuộc sống nhung lụa, đầy đủ vật chất nơi hậu phương với nỗi cô đơn, trống vắng về tinh thần.
* Sự đối lập giữa cảnh ngày và đêm, giữa hoạt động và sự tĩnh lặng, tất cả đều nhấn mạnh thêm nỗi buồn triền miên của người chinh phụ.
* Lời than trách và mong ước chính đáng:
* Người chinh phụ không chỉ than thân trách phận mà còn thể hiện những mong ước chính đáng về một cuộc sống hòa bình, được đoàn tụ với chồng.
* Bài ca ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ, đồng thời lên án những cuộc chiến tranh phi nghĩa, gây ra bao khổ đau cho con người.
Bước 3: Phân tích giá trị nghệ thuật
“Chinh phụ ngâm khúc” không chỉ có giá trị về nội dung mà còn sở hữu những nét đặc sắc về nghệ thuật.
* Ngôn ngữ:
* Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, gần gũi với đời sống con người Việt Nam.
* Sử dụng nhiều biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, điệp từ, điệp ngữ… làm cho lời thơ thêm sinh động, gợi cảm. Ví dụ: “Khóe mắt khôn trông mấy lần son phấn”, “Nguyệt lọt song châu nguyệt khuyết khôn đầy”.
* Tác giả khắc họa tâm trạng nhân vật:
* Tâm trạng buồn thương, cô đơn, nhớ nhung được miêu tả tinh tế, sâu sắc qua từng câu chữ, từng hình ảnh.
* Khắc họa thành công tâm trạng của người chinh phụ trong nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, từ lo lắng, xót xa đến buồn tủi, tuyệt vọng rồi lại dâng lên niềm mong ước.
* Tính dân tộc đậm đà:
* Bài ca sử dụng nhiều yếu tố văn hóa, lịch sử, lối sống của dân tộc Việt Nam.
* Âm hưởng bi thương, giàu chất trữ tình của khúc ngâm dân tộc được thể hiện rõ nét.
Bước 4: Tổng kết
Qua quá trình phân tích, chúng ta có thể rút ra những kết luận sau về “Chinh phụ ngâm khúc”:
* Giá trị nội dung: Tác phẩm là tiếng lòng bi thương của người phụ nữ có chồng ra trận, thể hiện nỗi đau khổ, sự cô đơn, bất hạnh của họ trong chiến tranh phong kiến. Đồng thời, tác phẩm còn là lời tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa, kêu gọi hòa bình.
* Giá trị nghệ thuật: “Chinh phụ ngâm khúc” là một kiệt tác của văn học Việt Nam với ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc, nghệ thuật miêu tả tâm trạng tinh tế và mang đậm bản sắc dân tộc.
Bài tập về nhà
Các em hãy về nhà, đọc lại bài “Chinh phụ ngâm khúc” một lần nữa và tập ghi nhớ những ý chính mà chúng ta đã phân tích hôm nay. Em hãy thử viết một đoạn văn ngắn khoảng 5-7 câu, diễn tả tâm trạng của người chinh phụ trong một cảnh mà em cảm thấy xúc động nhất.
Cô hy vọng rằng bài học hôm nay đã giúp các em có thêm những kiến thức bổ ích về tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc”. Hẹn gặp lại các em trong tiết học tiếp theo!
Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến. Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công lẫn trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác.
Nội dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây.
Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh. Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thìa nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực. Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy.
Đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến câu 228) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khộ ở người chinh phụ đang khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.
Đoạn trích có thể chia làm ba đoạn nhỏ:
– Đoạn 1 : Từ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước… đến Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng: Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi; cảm giác về thời gian chờ đợi; cố tìm cách giải khuây nhưng không được.
– Đoạn 2: Từ Lòng này gùi gió đông có tiện… đốn Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi: Nỗi nhớ thương người chồng ở phương xa; cảnh vật khiến lòng nàng thêm sầu thảm.
– Đoạn 3: Từ Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc… đến Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!. Cảnh vật xung quanh khiến lòng người chinh phụ rạo rực niềm khát khao hạnh phúc.
Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, tưởng tượng ra cảnh chiến trường đầy hiểm nguy, chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng. Một lần nữa nàng tự hỏi vì sao đôi lứa uyên ương lại phải chia lìa? Vì sao mình lại rơi vào tình cảnh lẻ loi? Bấy nhiêu câu hỏi đều không có câu trả lời. Tâm trạng băn khoăn, day dứt ấy được tác giả thể hiện sinh động bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế. Có thể nói, sầu và nhớ là cảm xúc chủ đạo trong đoạn thơ này.
Trong mười sáu câu thơ đầu, tác giả tập trung miêu tả hành động và tâm trạng của người chinh phụ:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết?
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Nàng lặng lẽ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.
Giữa không gian tịch mịch, tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc. Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu. Nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên, sốt ruột mong một tiếng chim thước báo tin vui mà chẳng thấy.
Nàng khát khao có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình. Không gian im ắng, chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng. Lúc đầu, nàng tưởng như ngọn đèn biết tâm sự của mình, nhưng rồi lại nghĩ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, bởi nó là vật vô tri vô giác. Nhìn ngọn đèn chong suốt năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân tủi phận: Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Hình ảnh người chinh phụ thầm gieo từng bước ngoài hiên vắng và suốt năm canh ngồi một mình bên ngọn đèn chong, không biết san sẻ nỗi niềm tâm sự cùng ai đã miêu tả được tâm trạng cô đơn tột độ của người chinh phụ.
Tác giả đặc tả cảm giác cô đơn của người chinh phụ trong tám câu thơ. Đó là cảm giác lúc nào và ở đâu cũng thấy lẻ loi: ban ngày, ban đêm, ngoài phòng, trong phòng. Nỗi cô đơn tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thời gian luôn deo đẳng, ám ảnh nàng.
Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi:
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Tiếng gà gáy báo canh năm làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, vắng lặng. Cây hòe phất phơ rũ bóng trong ánh sáng lờ mờ của ban mai gợi cảm giác buồn bã, hoang vắng. Giữa không gian ấy, người chinh phụ cảm thấy mình nhỏ bé, cô độc biết chừng nào!
Ở các khổ thơ tiếp theo, nỗi ai oán hiện rõ trong từng chữ, từng câu, dù tác giả không hề nhắc đến hai chữ chiến tranh:
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dày uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc, Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn loan phượng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.
Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Ha đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, nàng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió:Lòng này gửi gió đông có tiện ?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt có một ý nghĩ rất nên thơ: nhờ gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu với cái chết để mong kiếm chút tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đình với bóng dáng thân yêu của mẹ già, vợ trẻ, con thơ:
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức. Cách bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong vắn chương nước ta thời trung đại:
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời thì bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi sinh li đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ này chăng? Nói như người xưa: trời thì cao, đất thì dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đớn đau cho thể xác:
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận. Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh bởi được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương cho thân phận bất hạnh, cô đơn. Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật. Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ. Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nối lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ không được sống hạnh phúc, đồng thời cũng phản ánh thái độ lên án chiến tranh của tác giả.
Bầu trời bát ngát không cùng và nỗi nhớ cũng không cùng, nhưng suy tưởng thì có hạn; người chinh phụ lại trỏ về với thực tế cuộc sống nghiệt ngã của mình. Ý thơ chuyển từ tình sang cảnh. Thiên nhiên lạnh lẽo như truyền, như ngấm cái lạnh đáng sợ vào tận tâm hồn người chinh phụ cô đơn:
Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.
Hình như người chinh phụ đã thấm thìa sức tàn phá ghê gớm của thời gian chờ đợi. Tuy nhiên đến câu: Sâu tường kêu vắng chuông chùa nện khơi thì không khí đã dễ chịu hơn, cũng bởi người chinh phụ chí mới thất vọng mà chưa tuyệt vọng.
Tám câu cuối là bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Chinh phụ ngâm:
Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!
Ý thơ đi từ tinh đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ dội qua dội lại như vậy nhằm thể hiện rõ tâm trạng ở đâu, lúc nào, làm gi… người chinh phụ cũng chí vò võ một mình một bóng mà thôi!
Từ thốc rất mạnh trong câu Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên báo hiệu sự chuyển sang một tâm trạng mới ở người chinh phụ. Cảnh hoa – nguyệt giao hòa khiến lòng người rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi. Những động từ dãi, lồng toát lên cái ý lứa dôi quấn quýt gần gũi, âu yếm nồng nàn mà vẫn tế nhị, kín đáo.
Tác giả lựa chọn và dùng từ rất kĩ, rất đắt: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Sương như búa, bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô, Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên… Đặc biệt, tác giả đã sử dụng thành công hàng loạt từ láy: eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, châu chan, thăm thẳm, đau đáu… về nhạc điệu, tác giả đã phát huy một cách tài tình nhạc điệu du dương của thể thơ song thất lục bát, giống như những đợt sóng dạt dào, diễn tả tâm trạng người chinh phụ hết nhớ lại thương, hết thương lại nhớ trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc.
Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật.
Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của các vua chúa, tác giả đã đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện tinh thần phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương;một thời, đó là tư tưởng đòi quyền sống quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người.