xác định ngôi kể và điểm nhìn trần thuật được sử dụng trong chuyện gã trà đồng g…
xác định ngôi kể và điểm nhìn trần thuật được sử dụng trong chuyện gã trà đồng giáng sinh Nguyễn Dữ
Trước hết, cô xin phép làm rõ một chút nhé. Trong chương trình Ngữ văn lớp 12, chúng ta được học đoạn trích “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” của tác giả Nguyễn Dữ, trích từ tập “Truyền kỳ mạn lục”. Có lẽ do một chút nhầm lẫn nên em đã ghi tên tác phẩm chưa chính xác. Bây giờ, chúng ta sẽ cùng nhau giải quyết bài tập này dựa trên tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” nhé.
Để xác định ngôi kể và điểm nhìn trần thuật, chúng ta sẽ thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Ôn lại khái niệm Ngôi kể và Điểm nhìn trần thuật
Trước khi phân tích, chúng ta cần nắm vững lý thuyết.
* Ngôi kể: Là vị trí, vai xưng của người kể chuyện. Có hai ngôi kể chính:
* Ngôi thứ nhất: Người kể chuyện xưng “tôi”, trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến câu chuyện.
* Ngôi thứ ba: Người kể chuyện giấu mình, không xuất hiện, gọi tên nhân vật bằng tên riêng hoặc các đại từ nhân xưng như “hắn”, “chàng”, “y”, “họ”…
* Điểm nhìn trần thuật: Là vị trí mà người kể chuyện quan sát để kể lại các sự việc. Nói một cách đơn giản, đó là câu chuyện được nhìn qua “con mắt” của ai. Điểm nhìn trần thuật gắn liền với ngôi kể. Với người kể chuyện ngôi thứ ba, thường có các điểm nhìn sau:
* Điểm nhìn bên ngoài: Người kể chỉ kể những gì tai nghe mắt thấy, không biết được suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật.
* Điểm nhìn bên trong: Người kể chuyện nhìn thấu và kể lại dòng suy nghĩ, nội tâm của một hoặc nhiều nhân vật.
* Điểm nhìn toàn tri (biết tuốt): Người kể chuyện biết tất cả mọi chuyện, từ quá khứ, hiện tại đến tương lai, từ hành động bên ngoài đến suy nghĩ, cảm xúc sâu kín nhất của tất cả các nhân vật.
Bước 2: Xác định Ngôi kể trong “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”
Bây giờ, chúng ta hãy đọc lại văn bản và tìm dấu hiệu.
Các em có thể thấy người kể chuyện không hề xưng “tôi”. Thay vào đó, người kể gọi nhân vật chính là “Tử Văn”, “chàng”. Ví dụ: “Ngô Tử Văn tên là Soạn…”, “Tử Văn bèn cả quyết…”, “Chàng nghe nói…”.
=> Kết luận: Truyện được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện tự giấu mình đi, tạo ra một khoảng cách nhất định với câu chuyện, giúp câu chuyện mang vẻ khách quan, chân thực như một người chép sử đang ghi lại sự kiện.
Bước 3: Xác định Điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm
Khi đã xác định được ngôi kể là ngôi thứ ba, chúng ta tiếp tục phân tích sâu hơn về điểm nhìn.
* Người kể chuyện có biết nội tâm nhân vật không?
Có. Người kể biết rõ Tử Văn là người như thế nào (“chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được”), biết được suy nghĩ và cảm xúc của chàng (“Tử Văn tức giận”, “Tử Văn vâng lời”, “lòng rất là khó chịu”).
* Người kể chuyện có biết tất cả các sự kiện, kể cả những nơi nhân vật chính không có mặt không?
Có. Người kể chuyện biết rõ lai lịch của tên tướng giặc họ Thôi, biết cả những chuyện xảy ra ở cõi âm khi Tử Văn chưa xuống, và biết cả cuộc đối thoại giữa Diêm Vương và các phán quan.
* Người kể chuyện có đưa ra lời bình luận, đánh giá không?
Có. Ở cuối tác phẩm, có một đoạn lời bình của người kể chuyện: “Than ôi! Người ta thường nói…”. Lời bình này tổng kết ý nghĩa của câu chuyện và trực tiếp thể hiện quan điểm, tư tưởng của tác giả.
=> Kết luận: Điểm nhìn trần thuật chủ đạo trong truyện là điểm nhìn toàn tri (biết tuốt). Người kể chuyện có mặt ở khắp mọi nơi, biết tất cả mọi chuyện, từ hành động bên ngoài đến nội tâm sâu kín của nhân vật, từ cõi trần đến cõi âm. Thỉnh thoảng, điểm nhìn có dịch chuyển vào bên trong nhân vật Ngô Tử Văn để độc giả đồng cảm hơn với sự tức giận, nỗi lo sợ và lòng dũng cảm của chàng.
Tổng kết
Như vậy, chúng ta có thể đi đến câu trả lời hoàn chỉnh:
Tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” sử dụng ngôi kể thứ ba và điểm nhìn trần thuật toàn tri. Việc lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn này có tác dụng nghệ thuật vô cùng to lớn:
* Tạo cho câu chuyện không khí vừa kỳ ảo, hư thực, lại vừa khách quan, chân thực như một sự kiện lịch sử.
* Giúp tác giả tự do di chuyển trong không gian (trần gian – âm phủ) và thời gian (quá khứ – hiện tại), có thể kể lại một cách đầy đủ, linh hoạt các sự kiện phức tạp.
* Khắc họa sâu sắc thế giới nội tâm của nhân vật Ngô Tử Văn, đồng thời cho phép tác giả bộc lộ trực tiếp quan điểm, tư tưởng và lời nhắn nhủ của mình thông qua lời bình ở cuối truyện.
Cô hy vọng phần giải đáp chi tiết này sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về nghệ thuật tự sự đặc sắc của Nguyễn Dữ. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào khác, đừng ngần ngại hỏi nhé. Chúc các em học tốt
\(○\) Trong truyện “Gã Trà Đồng Giáng Sinh” của Nguyễn Dữ, ngôi kể và điểm nhìn trần thuật được sử dụng như sau \(:\)
\(○\) Ngôi kể \(:\)
\(-\)Truyện được kể theo ngôi kể thứ ba, nghĩa là người kể chuyện không phải là nhân vật trong truyện.
\(○\)Điểm nhìn trần thuật\(:\)
Điểm nhìn trần thuật được sử dụng trong truyện là điểm nhìn của người kể chuyện. Người kể chuyện có thể nhìn thấy và biết được mọi thứ về nhân vật và câu chuyện, bao gồm cả những suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật.
\(⇒\)Điểm nhìn này cho phép người đọc có cái nhìn tổng quan về câu chuyện và nhân vật, đồng thời cũng tạo ra cảm giác khách quan và trung lập trong việc kể chuyện.
\( @ S A N G \)
\(+\) Ngôi kể \(:\) ngôi thứ ba
\(\Rightarrow\) Giúp câu chuyện được nhìn từ khía cạnh khác, chúng cung cấp rõ chi tiết các thông tin của nhân vật, giúp người đọc dễ hình dung mối quan hệ giữa các nhân vật và làm hình ảnh trở nên sinh động
\(+\) Điểm nhìn trần thuật \(:\) góc nhìn của người kể chuyện.
\(\Rightarrow\) Vì người kể đã biết rõ tất tần tật về nhân vật nên khi kể lại sẽ làm rõ về cảm xúc và suy nghĩ của nv hơn. Nó không bị giới hạn trong \(1\) nv mà có thể kể từ mọi góc nhìn. Nếu dùng góc nhìn của người kể chuyện. sẽ giúp độc giả hiểu rõ về câu chuyện hơn, vì nếu chỉ là đóng vai \(1\) nv để kể thì hiệu quả kém hơn