Bằng phương pháp hóa học phân biệt các khí mất nhãn đựng trong các bình
riêng bi…
riêng biệt: C 3 H 8 , C 3 H 6 , C 3 H 4 , CO 2 .
Cô tin rằng với kiến thức Hóa học lớp 9 mà các em đã được trang bị, chúng ta hoàn toàn có thể giải quyết bài toán này một cách xuất sắc. Chúng ta sẽ tiến hành từng bước một, như cách chúng ta làm thí nghiệm trong phòng thực hành vậy.
Trước hết, các em hãy nhớ lại tính chất hóa học đặc trưng của từng loại khí này nhé:
* Propan (C3H8): Là một ankan, chỉ chứa liên kết đơn trong phân tử. Propan không làm mất màu dung dịch brom và không làm vẩn đục nước vôi trong.
* Propen (C3H6): Là một anken, chứa một liên kết đôi C=C trong phân tử. Liên kết đôi này có khả năng phản ứng với dung dịch brom (làm mất màu dung dịch brom) và phản ứng với nước vôi trong (nhưng phản ứng này chậm và không tạo kết tủa ngay như CO2).
* Propin (C3H4): Là một ankin, chứa một liên kết ba C≡C trong phân tử. Liên kết ba này có khả năng phản ứng mạnh mẽ với dung dịch brom (làm mất màu dung dịch brom) và phản ứng với nước vôi trong (tương tự propen, nhưng phản ứng mạnh hơn).
* Cacbon đioxit (CO2): Là một oxit axit. CO2 không phản ứng với dung dịch brom nhưng có khả năng làm vẩn đục nước vôi trong (Ca(OH)2) do tạo kết tủa canxi cacbonat.
Dựa vào những tính chất này, chúng ta sẽ xây dựng quy trình phân biệt như sau:
Bước 1: Sử dụng dung dịch nước vôi trong (Canxi hiđroxit – Ca(OH)2)
Chúng ta sẽ lấy một lượng nhỏ mỗi khí cho đi qua dung dịch nước vôi trong được pha loãng.
* Hiện tượng:
* Khí nào làm cho dung dịch nước vôi trong bị vẩn đục ngay lập tức, đó chính là khí CO2.
Phản ứng xảy ra:
\[ CO_2 + Ca(OH)_2 \rightarrow CaCO_3 \downarrow + H_2O \]
* Các khí còn lại (C3H8, C3H6, C3H4) sẽ không làm vẩn đục nước vôi trong ở điều kiện thường. Chúng ta có thể thu hồi các khí này để tiếp tục phân biệt ở bước sau.
Bước 2: Sử dụng dung dịch brom (nước brom)
Chúng ta đã loại trừ được CO2. Bây giờ, chúng ta còn lại 3 khí C3H8, C3H6, C3H4. Chúng ta sẽ lần lượt cho từng khí này đi qua dung dịch brom (dung dịch có màu nâu đặc trưng).
* Hiện tượng:
* Khí nào sục vào dung dịch brom mà làm cho dung dịch brom mất màu, thì đó là khí có chứa liên kết bội.
* Khí C3H8 (ankan) sẽ không phản ứng với dung dịch brom, do đó dung dịch brom sẽ giữ nguyên màu nâu. Chúng ta có thể xác định được C3H8 ở bước này.
* Hai khí còn lại là C3H6 và C3H4, đều có liên kết bội nên sẽ làm mất màu dung dịch brom.
Phản ứng của propen với brom:
\[ C_3H_6 + Br_2 \rightarrow C_3H_6Br_2 \]
Phản ứng của propin với brom (có thể phản ứng với 2 phân tử brom):
\[ C_3H_4 + 2Br_2 \rightarrow C_3H_4Br_4 \]
Bước 3: Phân biệt C3H6 và C3H4
Chúng ta đã xác định được CO2 và C3H8. Bây giờ, chúng ta còn lại hai khí đã làm mất màu dung dịch brom ở bước 2, đó là C3H6 và C3H4. Để phân biệt hai khí này, chúng ta có thể dựa vào khả năng phản ứng mạnh hơn của ankin (C3H4) so với anken (C3H6).
Một cách đơn giản và hiệu quả là chúng ta có thể cho hai khí này tác dụng với dung dịch bạc nitrat trong môi trường amoniac (AgNO3/NH3).
* Hiện tượng:
* Khí nào tác dụng với dung dịch AgNO3/NH3 tạo kết tủa màu vàng nhạt, đó chính là khí C3H4 (propin). Liên kết ba đầu mạch có nguyên tử hiđro linh động, có thể tham gia phản ứng thế với ion Ag+.
Phản ứng xảy ra:
\[ C_3H_4 + AgNO_3 + NH_3 \rightarrow AgC \equiv CCH_3 + NH_4NO_3 \]
(Lưu ý: Phản ứng này có thể hơi phức tạp hơn so với lớp 9, nhưng ý tưởng là ankin có liên kết ba đầu mạch sẽ phản ứng tạo kết tủa)
* Khí C3H6 (propen) không có phản ứng này với dung dịch AgNO3/NH3.
Như vậy, bằng việc kết hợp hai thuốc thử là dung dịch nước vôi trong và dung dịch brom, cùng với một thí nghiệm nâng cao hơn một chút là dung dịch AgNO3/NH3, chúng ta có thể phân biệt hoàn toàn 4 loại khí đã cho.
Tóm tắt quy trình nhận biết:
1. Cho các khí lần lượt đi qua dung dịch nước vôi trong (Ca(OH)2).
* Khí làm vẩn đục nước vôi trong là CO2.
* Ba khí còn lại không làm vẩn đục.
2. Cho ba khí còn lại lần lượt đi qua dung dịch brom.
* Khí không làm mất màu dung dịch brom là C3H8.
* Hai khí còn lại làm mất màu dung dịch brom.
3. Cho hai khí còn lại tác dụng với dung dịch AgNO3 trong môi trường amoniac.
* Khí tạo kết tủa vàng nhạt là C3H4.
* Khí còn lại là C3H6.
Các em thấy không, chỉ cần nắm vững tính chất hóa học của các chất, chúng ta hoàn toàn có thể giải quyết bài toán một cách logic và chính xác. Cô hy vọng bài giảng hôm nay đã giúp các em hiểu rõ hơn về cách phân biệt các loại khí. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, đừng ngần ngại hỏi cô nhé!
Đáp án:
Giải thích các bước giải:
-tách mẫu thử:
Sục từng khí vào dd nước vôi trong nếu thấy có kết tủa trắng làm vẩn đục –>nhận được
CO2
PTHH : CO2 + Ca(OH)2 —> CaCO3 + H2o
Sục khí còn lại vào dd AgNO3/NH3 thấy có kết tủa vàng nhạt —> nhận được C3H4
2CH3-C≡CH + Ag2O ( trong môi trường AgNO3/NH3)—> 2CH3-C≡CAg+ H2O
Sục khí còn lại vào dd Brom thấy mất màu –> nhận được C3H6
c3H6 + Br2 —>C3H6Br2
chất khí còn lại là C3H8
Đáp án:
Giải thích các bước giải:
Cho các khí vào dung dịch AgNO3 trong NH3
– mẫu thử tạo kết tủa vàng là C3H4
C3H4 + AgNO3 + NH3 → C3H3Ag + NH4NO3
Cho các khí còn vào nước brom
– khí làm mất màu brom là C3H6
C3H6 + Br2 → C3H6Br2
Cho 2 khí còn vào dung dịch Ca(OH)2
– khí tạo vẩn đục trắng là CO2
CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 + H2O
– khí không có hiện tượng là C3H8